PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong xã hội hiện đại, nguồn nhân lực là nguồn lực quan trọng nhất đối với
sự phát triển của bất kì quốc gia, dân tộc nào, bởi phải có những con người đủ
khả năng, trình độ mới khai thác tốt các nguồn lực khác.
Tại Đại hội XI của Đảng trong Chiến lược phát triển Kinh tế - Xã hội 20112020 Đảng đã chỉ ra nhiều quan điểm để phát triển, trong đó có quan điểm: “mở
rộng dân chủ phát huy tối đa nhân tố con người; coi con người là chủ thể; nguồn
lực chủ yếu và là mục tiêu của sự phát triển” và nhiệm vụ: “coi trọng phát triển
đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, đội ngũ chuyên gia, đào tạo nhân lực cho phát
triển kinh tế tri thức”. Theo Quyết định 579-QĐ-TTg ngày 19/4/2011 của Thủ
tướng Chính phủ ban hành quyết định phê duyệt chiến lược phát triển nhân lực
Việt Nam thời kì 2011- 2020 thì mục tiêu tổng quát phát triển nhân lực Việt Nam
thời kỳ 2011-2020 là đưa nhân lực Việt Nam trở thành nền tảng và lợi thế quan
trọng nhất để phát triển bền vững đất nước, hội nhập quốc tế và ổn định xã hội,
nâng trình độ năng lực cạnh tranh của nhân lực nước ta lên mức tương đương
các nước tiên tiến trong khu vực, trong đó một số mặt tiếp cận trình độ các nước
phát triển trên thế giới. Từ đó cho thấy sự quan tâm của Đảng và nhà nước trong
vấn đề phát triển nguồn nhân lực.
Cơ quan hành chính nhà nước là một bộ phận hợp thành của bộ máy nhà
nước, được thành lập để thực hiện chức năng quản lý hành chính nhà nước. Để
bộ máy hành chính nhà nước hoạt động hiệu quả đáp ứng sự phát triển của xã
hội, xu thế hội nhập sâu hơn với thế giới trên nhiều phương diện kinh tế, chính
trị, văn hóa đòi hỏi nhà nước phải có một đội ngũ CBCC, viên chức có đủ trình
độ và phẩm chất để đáp ứng yêu cầu điều chỉnh xã hội phát triển. Sự phát triển
và cạnh tranh của thị trường lao động về thu nhập, về môi trường làm việc...thực
sự là một thử thách lớn.
Thực tiễn hiện nay cho thấy đội ngũ cán bộ, công chức trong các cơ quan
nhà nước nói chung và các cơ quan hành chính nhà nước nói riêng đã thể hiện
bản lĩnh chính trị vững vàng có ý thức tự chủ, tự lực, tự cường, năng động và
sáng tạo, có kiến thức có trình độ và năng lực thực tiễn, trưởng thành trong quản
Hiện nay có một số đề tài nghiên cứu liên quan tới công tác phát triển
nguồn nhân lực trong cơ quan hành chính nhà nước:
- Đề tài: “ Phát triển nguồn nhân lực hành chính cấp phường tại quận Hải
Châu, thành phố Đà Nẵng” tác giả Nguyễn Thanh Thy, đại học Đà Nẵng.
- Đề tài: “ Nghiên cứu các giải pháp về đào tạo nhằm phát triển nguồn nhân
lực chất lượng cao của Thành phố Phú Thọ” do trường Đẳng Kinh tế - Kỹ thuật
Phú Thọ chủ trì, thực hiện từ tháng 5/2008 đến tháng 5/2009.
Tại Học viện hành chính các khóa luận của cử nhân Hành chính ngành
Quản lý Tổ chức và Nhân sự (KS9, KS10) cũng có nhiều đề tài liên quan đến
phát triển nguồn nhân lực như:
Khóa luận: Nâng cao chất lượng phát triển nguồn nhân lực trong cơ quan
hành chính nhà nước cấp huyện (liên hệ thực tiễn tại UBND quận 1, Thành phố
Hồ Chí Minh), tác giả Nguyễn Thị Kiều Trang, lớp KS9TCNS2.
Khóa luận: Một số giải pháp phát triển nguồn nhân lực trong cơ quan hành
chính nhà nước cấp huyện của UBND Sơn Tịnh, Quảng Ngãi, tác giả Nguyễn
Thị Việt Hạnh, lớp KS10TCNS1.
Các đề tài và khóa luận trên đã đề cập nhiều vấn đề phát triển nguồn nhân
lực trong cơ quan hành chính nhà nước. Nội dung của đề tài và khóa luận sẽ là
nguồn tư liệu quan trọng giúp ích cho quá trình học tập, tham khảo.
3. Mục đích, đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở hệ thống hóa vấn đề lý luận về nguồn nhân lực, đề tài tập trung
phân tích thực trạng phát triển nguồn nhân lực tại UBND huyện Kỳ Anh trong
thời gian qua, từ đó đưa ra các giải pháp chủ yếu để nâng cao hiệu quả phát triển
nguồn nhân lực.
3.2 Đối tượng nghiên cứu
- Đội ngũ CBCC của UBND huyện Kỳ Anh
- Chính sách phát triển nguồn nhân lực của UBND huyện.
- Đề tài là nguồn tư liệu bổ sung cho làm cơ sở cho các đề tài nghiên cứu tiếp
theo.
7. Kết cấu của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục thì
phần nội dung chính của khóa luận được cấu trúc thành 3 chương:
Chương 1 Những vấn đề chung về phát triển nguồn nhân lực trong cơ quan
hành chính nhà nước
Chương 2 Thực trạng phát triển nguồn nhân lực tại huyện UBND Kỳ Anh,
tỉnh Hà Tĩnh
Chương 3 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả phát triển nguồn nhân lực
tại UBND huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh.
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN
LỰC TRONG CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC
1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.1 Nguồn nhân lực
Thuật ngữ nguồn nhân lực (hurman resoures) xuất hiện vào thập niên 80
của thế kỉ XX khi mà có sự thay đổi căn bản về phương thức quản lý, sử dụng
con người trong kinh tế lao động. Sự xuất hiện của thuật ngữ “nguồn nhân lực”
thể hiện sự công nhận của phương thức quản lý mới trong việc sử dụng nguồn
lực con người. Khái niệm nguồn nhân lực có nguồn gốc từ bộ môn kinh tế học
và kinh tế chính trị, được gọi một cách truyền thống là lao động - một trong bốn
yếu tố của sản xuất. Có khá nhiều định nghĩa khác nhau về nguồn nhân lực.
Theo từ điển Tiếng Việt: Nguồn là nơi phát sinh, nơi cung cấp. Nhân lực là
sức của con người bao gồm: sức lực cơ bắp (thể lực), trình độ tri thức được vận
dụng vào quá trình lao động của mỗi cá nhân (trí lực), những ham muốn, hoài
lao động nhưng đang đi học.
Nguồn nhân lực là một phạm trù dùng để chỉ sức mạnh tiềm ẩn của dân cư,
khả năng huy động tham gia vào quá trình tạo ra của cải vật chất tinh thần cho
xã hội trong hiện tại cũng như trong tương lai. Sức mạnh và khả năng đó được
thể hiện thông qua số lượng, chất lượng và cơ cấu dân số, nhất là số lượng và
chất lượng của con người cơ sở đủ điều kiện tham gia vào nền sản xuất xã hội.
Theo Liên Hợp Quốc: Nguồn nhân lực là tất cả kiến thức, kỹ năng kinh
nghiệm ,năng lực và tính sáng tạo của con người có quan hệ tới sự phát triển
của mỗi cá nhân và của đất nước [2].
Tuy có những định nghĩa khác nhau tuỳ theo góc độ tiếp cận, nhưng các
định nghĩa về nguồn nhân lực đều đề cập đến các đặc trưng chung là:
- Số lượng nguồn nhân lực, trả lời cho câu hỏi là có bao nhiêu người và sẽ
có thêm bao nhiêu nữa trong tương lai. Sự phát triển về số lượng nguồn nhân lực
dựa trên hai nhóm yếu tố bên trong, bao gồm nhu cầu thực tế công việc đòi hỏi
phải tăng số lượng lao động và các yếu tố bên ngoài của tổ chức như sự gia tăng
về dân số hay lực lượng lao động do di dân.
- Chất lượng nhân lực, là yếu tố tổng hợp của nhiều yếu tố bộ phận như trí
tuệ, trình độ, sự hiểu biết, đạo đức, kỹ năng, sức khoẻ, năng lực thẩm mỹ,... của
người lao động. Trong các yếu tố trên thì trí lực và thể lực là hai yếu tố quan
trọng trong việc xem xét đánh giá chất lượng nguồn nhân lực.
- Cơ cấu nguồn nhân lực: đây là yếu tố không thể thiếu khi xem xét đánh
giá về nguồn nhân lực. Cơ cấu nhân lực thể hiện trên các phương diện khác
nhau: cơ cấu về trình độ đào tạo, dân tộc, giới tính, độ tuổi,…
Nguồn nhân lực là nguồn lực con người. Nguồn lực đó được xem xét ở
hai khía cạnh. Trước hết, với ý nghĩa là nguồn gốc, là nơi phát sinh ra nguồn lực.
Nguồn nhân lực nằm ngay trong bản thân con người, đó cũng là sự khác nhau cơ
bản giữa nguồn lực con người và các nguồn lực khác. Thứ hai, nguồn nhân lực
được hiểu là tổng thể nguồn lực của từng cá nhân. Với tư cách là một nguồn lực
các thay đổi là cần thiết trong lực lượng lao động của mỗi quốc gia nhằm định
hướng, giúp cho các nhà hoạch định chính sách, các doanh nhân thấy được và
định hướng sự phát triển nguồn nhân lực của mình và từ đó đáp ứng các cơ hội
và thách thức do hội nhập quốc tế mang lại.
1.1.2 Nguồn nhân lực trong cơ quan hành chính nhà nước
Nguồn nhân lực trong cơ quan hành chính nhà nước: là toàn bộ những
người đang làm việc trong cơ quan hành chính nhà nước và những người đang
có nguyện vọng, mong muốn được làm việc trong cơ quan Hành chính nhà
nước.
Nguồn nhân lực trong cơ quan hành chính nhà nước bao gồm nhiều đối
tượng khác nhau, tuy nhiên đề tài chỉ giới hạn đối tượng nguồn nhân lực là
CBCC.
a) Khái niệm cán bộ
Theo quy định tại khoản 1, điều 4 Luật CBCC thì khái niệm cán bộ được
hiểu là công dân Việt Nam, được bầu cử phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ chức
danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ
chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, ở thành phố trực thuộc trung ương
(sau đây gọi chung là cấp tỉnh) ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau
đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà
nước.
b) Khái niệm công chức
Theo quy định tại khoản 2, điều 4 Luật CBCC thì khái niệm công chức
được hiểu là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức
vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức
chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc
quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chyên nghiệp và trong
bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt
Nam, Nhà nước các tổ chức chính trị xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự
tịch, phó Chủ tịch quận, huyện nơi không tổ chức thí điểm HĐND.
1.1.3 Phát triển nguồn nhân lực
Có rất nhiều quan điểm khác nhau về phát triển nguồn nhân lực, tùy vào
cách tiếp cận khác nhau sẽ có các cách hiểu khác nhau về phát triển nguồn nhân
lực.
Phát triển nguồn nhân lực dưới gốc độ của một đất nước là tạo dựng ra một
lực lượng lao động năng động, thể lực và sức lực tốt, có trình độ lao động cao,
có kĩ năng sử dụng, lao động có hiệu quả. Xét gốc độ cá nhân thì phát triển
nguồn nhân lực là việc nâng cao kĩ năng, năng lực hành động và chất lượng cuộc
sống nhằm nâng cao năng suất lao động. Nói một cách khái quát nhất phát triển
nguồn nhân lực chính là quá trình tạo lập và sử dụng nguồn nhân lực toàn diện
con người vì sự tiến bộ kinh tế xã hội và sự hoàn thiện bản thân mỗi con người.
Tổng thể của phát triển nguồn nhân lực là các hoạt động nhằm nâng cao thể lực,
trí lực của người lao động.
Theo Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc
(UNESCO): Phát triển nguồn nhân lực được đặc trưng bởi toàn bộ sự lành nghề
của dân cư, trong mối quan hệ phát triển của đất nước đáp ứng tốt hơn nhu cầu
sản xuất.
Theo quan điểm của Liên Hợp Quốc: “ Phát triển nguồn nhân lực bao gồm
giáo dục, đào tạo và sử dụng tiềm năng của con người nhằm thúc đẩy phát triển
kinh tế- xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống của nguồn nhân lực”.
Một số nghiên cứu khác lại cho rằng: “Phát triển nguồn nhân lực là sự biến
đổi về mặt số lượng, chất lượng NNL trên tất cả các mặt thể lực, trí lực, kĩ năng,
kiến thức và tinh thần cùng với quá trình tạo ra sự biến đổi tiến bộ về cơ cấu
nguồn nhân lực. Phát triển nguồn nhân lực được xem xét trên 2 mặt chất và
lượng. Về chất phát triển nguồn nhân lực phải được tiến hành trên cả 3 mặt: Phát
triển nhân cách, phát triển trí tuệ, thể lực kĩ năng và tạo môi trường thuận lợi cho
nguồn nhân lực phát triển. Về lượng gia tăng số lượng nguồn nhân lực, tuy nhiên
mục tiêu của tổ chức và thích ứng một cách tốt nhất với sự thay đổi của môi
trường [10].
Cách tiếp cận này không chỉ xem xét tới tính hiện tại của tổ chức mà con
quan tâm đến cả tiềm năng phát triển của tổ chức, tính thích ứng của tổ chức đối
với sự thay đổi.
Trong khi đó hiệu quả hành chính nhà nước lại có thể hiểu là kết quả đạt
được của bộ máy hành chính trong sự tương quan với mức độ chi phí và nguồn
lực, trong mối quan hệ giữa hiệu quả kinh tế với hiệu quả xã hội. Hiệu quả phản
ánh mối quan hệ giữa kết quả hoạt động của hành chính nhà nước với chi phí.
UBND huyện Kỳ Anh là cơ quan hành chính nhà nước. Vậy phát triển
nguồn nhân lực tại UBND huyện Kỳ Anh được coi là có hiệu quả khi:
- Đạt mục tiêu quản lý hành chính nhà nước nhất định với một chi phí càng
ít càng tốt.
- Với một mức chi phí các nguồn lực nhất định, hành chính nhà nước đạt
được kết quả càng cao càng tốt.
- Đạt được mục tiêu không chỉ trong quan hệ với chi phí nguồn lực (tài
chính, nhân lực…) mà còn trong quan hệ với hiệu quả xã hội.
Hiệu quả hành chính nhà nước có thể được đánh giá theo nhiều tiêu chí
như: Tiêu chí đánh giá theo đầu vào, tiêu chí đánh giá theo đầu ra, đánh giá theo
kết quả hay đánh giá theo quá trình thực thi.
1.2 Vai trò của phát triển nguồn nhân lực trong cơ quan hành chính
Đổi mới công tác quản lý và phát triển nguồn nhân lực hành chính là yêu
cầu luôn được đặt ra đối với mọi nền hành chính và mọi thời đại. Nguồn nhân
lực là nguồn lực có vai trò quyết định mọi thành công cũng như thất bại của bất
kỳ hệ thống hay tổ chức nào. Trong đó, nguồn nhân lực trong cơ quan hành
chính nhà nước có vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình thực thi luật pháp,
quản lý mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội; tham mưu, hoạch định, tổ chức
thực hiện và thanh tra, kiểm tra việc thực thi các đường lối, chính sách. Đó chính
sang phục vụ là chủ yếu, thì việc đổi mới công tác quản lý, phát triển nguồn
nhân lực đội ngũ CBCC hành chính là yêu cầu có tính khách quan, vừa cấp thiết
và lâu dài.
Phát triển nhân lực là yếu tố then chốt, có ý nghĩa quyết định, vừa là yêu
cầu vừa là động lực cho sự phát triển. Phát triển nhân lực là một trong những
động lực quan trọng để hoàn thành cơ bản sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại
hóa là nhân tố quyết định phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh, hài hòa và
bền vững.
Để phát triển nguồn nhân lực có chất lượng phải xác định rõ mục tiêu, xây
dựng kế hoạch, các phương pháp, đầu tư hoàn thiện các điều kiện phát triển
nhân lực, quy hoạch hệ thống đào tạo phù hợp để đáp ứng nhân lực trên các lĩnh
vực, cấp độ và vùng miền.
1.3 Yêu cầu của phát triển nguồn nhân lực làm việc trong cơ quan HCNN
Phát triển nguồn nhân lực là một hoạt động xuyên suốt và lâu dài và phức
tạp. Tùy vào mỗi giai đoạn nhất định mà có thêm các yêu cầu khác nhau tuy
nhiên phải đảm bảo các yêu cầu cơ bản sau đây:
Hoạt động phát triển phát triển nguồn nhân lực trong cơ quan hành chính
nhà nước phải hướng tới việc thực hiện mục tiêu của tổ chức HCNN là phục vụ
đất nước phục vụ nhân dân. Bởi vậy người cán bộ công chức phải đảm bảo các
yêu cầu về kiến thức, kĩ năng, đạo đức, lối sống để thực hiện tốt nhiệm vụ của
mình.
Hoạt động phát triển nguồn nhân lực làm việc trong cơ quan hành chính
nhà nước cần phải xuất phát từ nhu cầu thực tiễn. Đảm bảo theo tiến trình phát
triển chung của xã hội.
Hoạt động phát triển nguồn nhân lực phải gắn với việc sử dụng nguồn nhân
lực sau quá trình phát triển. Thực tế hiện nay có nhiều CBCC được cử đi đào
tạo, cử đi học rất nhiều, nguồn ngân sách chi cho công tác đào tạo bồi dưỡng
cũng rất nhiều.Tuy nhiên sau quá trình đi học đó nguồn nhân lực được đào tạo
không có cơ hội phát huy hết những gì họ đã được học. Bởi vậy yêu cầu của
nhân đảm nhiệm vị trí chức danh tương ứng. Chính vì vậy căn cứ vào báo cáo
công chức hàng năm, chỉ tiêu biên chế được giao, đơn vị nhận định nhu cầu
nhân sự cần tuyển.
Bước 2: Xác định yêu cầu đối với vị trí cần tuyển
Xác định vị trí cần tuyển cần căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ cụ thể của cơ
quan để thiết lập bản mô tả công việc. Tuy nhiên nếu đó là một vị trí mới cần
phải được xem xét, sửa đổi, bổ sung cho phù hợp. Thông thường công tác này
được thực hiện từ các bộ phận phòng ban chuyên môn.
Trước khi xác định vị trí cần tuyển công chức phụ trách mảng tuyển dụng
phải xác định được những thông tin cụ thể về chỉ tiêu biên chế, chính sách sử
dụng… từ đó tổng hợp và đưa ra kết luận cuối cùng về những tiêu chuẩn đối với
các vị trí cần tuyển.
Yêu cầu đối với vị trí công việc cần tuyển phải rõ ràng, khả thi để tránh
tình trạng nhận nhiều hồ sơ không phù hợp, ít người để đáp ứng yêu cầu tuyển
dụng.
Bước 3: Thông báo tuyển dụng và tiếp nhận người tham gia dự tuyển
(thu hút người tham gia dự tuyển)
Đây là quá trình thu hút người xin việc có trình độ, từ lực lượng lao động
xã hội đến lực lượng lao động bên trong tổ chức tham gia tuyển chọn, giúp cho
tổ chức tuyển chọn hiệu quả, tiết kiệm, giúp tổ chức có được nguồn lực chất
lượng, đạt mục tiêu hoạt động tổ chức.
Có rất nhiều biện pháp khác nhau để thu hút người tham gia dự tuyển, như
đăng thông báo tuyển dụng trên phương tiện truyền thông, tuyển sinh viên từ các
trường đại học cao đẳng, các hình thức khắc như theo sự giới thiệu của cơ quan
khác, của nhân viên trong cơ quan hay do ứng viên tự đến xin làm. Theo Nghị
định của Chính phủ cơ quan có thẩm quyền tuyển dụng công chức phải thông
báo công khai trên phương tiện thông tin đại chúng, trang thông tin điện tử của
cơ quan và niêm yết công khai tại trụ sở làm việc về tiêu chuẩn, điều kiện, số
việc làm do người đứng đầu cơ quan có thẩm quyền tuyển dụng công chức quyết
định.
Môn tin học văn phòng: thi thực hành trên máy hoặc thi trắc nghiệm 01 bài
theo yêu cầu của vị trí việc làm do người đứng đầu cơ quan có thẩm quyền tuyển
dụng công chức quyết định.
Bước 5: Thông báo kết quả tuyển dụng
Trong thời hạn 15 ngày kể từ nhận được thông báo kết quả thi tuyển hoặc
xét tuyển của hội đồng tuyển dụng, cơ quan tuyển dụng phải niêm yết công khai
kết quả thi tuyển hoặc xét tuyển, danh sách dự kiến người trúng tuyển tại trụ sở
làm việc là trên trang thông tin điện tử của cơ quan có thẩm quyền tuyển dụng
công chức; hoặc gửi giấy thông báo kết quả bằng văn bản tới người dự tuyển.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày niêm yết công khai kết quả thi tuyển
hoặc xét tuyển, người dự tuyển có quyền gửi đơn đề nghị phúc khảo kết quả thi
tuyển hoặc xét tuyển. Người đứng đầu cơ quan có thẩm quyền tuyển dụng công
chức có trách nhiệm tổ chức chấm phúc khảo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày
hết thời hạn nhận đơn phúc khảo theo quy định tại khoản này.
Bước 6: Ra quyết định tuyển dụng và nhận việc
Ra quyết định là bước cuối cùng trong quá trình tuyển dụng, người trúng
tuyển mới chính thức trở thành thành viên của cơ quan tổ chức. Người đứng đầu
cơ quan có thẩm quyền tuyển dụng công chức ra quyết định tuyển dụng công
chức. Một quyết định có hiệu lực thi hành khi nó được ban hành bởi cơ quan nhà
nước có thẩm quyền và phải thể hiện đầy đủ nội dung sau:
-
Căn cứ để ra quyết định
Họ tên người được tuyển dụng
Ngạch được tuyển dụng
Thời gian tập sự
vị trí việc làm được tuyển dụng;
c) Tập giải quyết, thực hiện các công việc của vị trí việc làm được tuyển
dụng Cơ quan sử dụng công chức có trách nhiệm:
Hướng dẫn người tập sự nắm vững và tập làm những công việc theo yêu
cầu nội dung tập sự quy định tại khoản 3 Điều 20 Nghị định này[13].
Đối với những trường hợp tuyển dụng trực tiếp không qua thi tuyển như
sinh viên tốt nghiệp xuất sắc, cán bộ khoa học trẻ thì người đứng đầu cơ quan
đơn vị có thẩm quyền phải chịu trách nhiệm về chất lượng tuyển dụng đảm bảo
thực chất, đúng người, đúng việc, sử dụng đúng chuyên môn đào tạo người được
sử dụng.
1.4.2 Sử dụng cán bộ, công chức
Việc tuyển dụng được nguồn nhân lực chất lượng cao, có trình độ chuyên
môn phù hợp với yêu cầu công việc là một vấn đề quan trọng đặt ra cho nhà
tuyển dụng tuy nhiên sau khi tuyển dụng việc bố trí, sắp xếp, phân công công
việc lại càng đóng vai trò cần thiết vì nó giúp cho cá nhân phát huy năng lực
làm việc, đảm bảo điều kiện cho cá nhân phát triển trên con đường chức nghiệp
Sử dụng nguồn nhân lực trong tổ chức là quá trình sắp xếp, bố trí nguồn
nhân lực của tổ chức vào các vị trí khác nhau trong tổ chức. Sử dụng nguồn
nhân lực có thể hiểu là quá trình sắp xếp bố trí nhân sự vào các công việc của tổ
chức, khai thác và phát huy tối đa năng lực làm việc của nhân sự nhằm đạt hiệu
quả cao của công việc thông qua đó đạt mục tiêu đề ra [14].
Sử dụng hợp lý nguồn nhân lực không chỉ làm tăng tính hiệu quả, khoa học
trong công việc mà còn giúp xây dựng cơ cấu tổ chức hợp lý “ đúng người, đúng
việc” đồng thời thúc đẩy tổ chức phát triển. Ngược lại nếu bố trí không hợp lý sẽ
tạo ra những kết quả trái chiều, dẫn tới sự không thỏa mãn trong công việc hiệu
quả công việc sẽ không cao.
Trong cơ quan hành chính nhà nước việc sử dụng đội ngũ CBCC đảm bảo
tính hợp lý, hiệu quả là yêu cầu vô cùng quan trọng. Vấn đề đặt ra là phải đánh
Và một số văn bản quy phạm pháp luật khác.
1.4.3 Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức
Đào tạo, bồi dưỡng là một trong những nội dung quan trọng của hoạt động
quản lý và phát triển nguồn nhân lực nói chung và nguồn nhân lực trong cơ quan
Nhà nước và hành chính nhà nước. Đào tạo là một khái niệm rộng , bao gồm
nhiều thành tố khác nhau và được hiểu theo nhiều cách khác nhau.
Theo cách hiểu thông thường nhất thì “đào tạo” nghĩa là làm cho con người
ta trở thành người có năng lực theo những tiêu chuẩn nhất định; còn bồi dưỡng
là làm cho năng lực hoặc phẩm chất tăng thêm[24].
Theo Nghị định số 18/2010/NĐ-CP ngày 05 tháng 3 năm 2010 của Chính
phủ về đào tạo, bồi dưỡng công chức tại điều 5 đào tạo, bồi dưỡng được hiểu
như sau: “Đào tạo là quá trình truyền thụ, tiếp nhận có hệ thống những tri thức,
kỹ năng theo quy định của từng cấp học, bậc học” và “Bồi dưỡng là hoạt động
trang bị, cập nhật, nâng cao kiến thức, kỹ năng làm việc”.
Mục tiêu của đào tạo, bồi dưỡng CBCC:
Trang bị những kiến thức, kĩ năng, phương pháp thực hiện nhiệm vụ, công
vụ. Góp phần xây dựng đội ngũ công chức chuyên nghiệp, có đủ năng lực xây
dựng nền hành chính tiên tiến, hiện đại [16].
Góp phần xây dựng đội ngũ CBCC chuyên nghiệp, vững vàng về chính trị,
hệ thống nghiệp vụ, có đủ năng lực xây dựng hệ thống chính trị, nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa tiên tiến hiện đại [17]
Mục tiêu chung của đào tạo và phát triển nguồn nhân lực là nhằm sử dụng
tối đa nguồn nhân lực hiện có và nâng cao hiệu quả hoạt động của tổ chức giúp
người lao động hiểu rõ hơn về công việc được giao, nâng cao năng suất lao
động, hiệu quả công việc.
Đào tạo CBCC trong một cơ quan HCNN là hoạt động trang bị kiến thức
nghề nghiệp và trang bị, rèn luyện các kĩ năng quản lý, kĩ năng thực hiện công
việc cho CBCC của tổ chức đó. Quy trình của đào tạo bao gồm :
- Tính chất vô nhân xưng: Các viên chức nhà nước thực hiện các nhiệm vụ
được giao theo đúng thẩm quyền quy định trong văn bản chính thức, theo một
thủ tục trình tự khách quan, không bị chi phối bởi mối quan hệ cá nhân
- Tính trung lập với chính trị là biểu hiện đặc trưng của người viên chức
trong bộ máy thư lại. Các viên chức được tuyển lựa và đề bạt thông qua chức
nghiệp trên cơ sở năng lực, chuyên môn của họ, không xem xét tới các mặt khác
như địa vị xã hội, lòng trung thành hay sự ủng hộ của họ đối với các đảng phái
chính trị.
Thuyết quản lý hành chính
Học thuyết này ra đời ở Pháp. Đại diện cho học thuyết này là Henry
Faylol (1841 -1925). Theo ông khi nghiên cứu các chức năng quản lý cấp cao
trong tổ chức, cần quan tâm tới 14 nguyên tắc quản lý hành chính:
- Phân công lao động rành mạch
- Quyền cho người chỉ huy
- Kỉ luật
- Quyền hạn đi đôi với trách nhiệm
- Thống nhất lãnh đạo
- Chỉ huy thống nhất và liên tục
- Lợi ích cá nhân phụ thuộc vào lợi ích chung
- Hệ thống thứ bậc rõ ràng
- Tập trung kết quả kiểm tra
- Công bằng
- Nhân sự ổn định
- Thù lao thích đáng
- Sáng tạo
- Có tinh thần đồng đội
Henry Fayol coi trọng yếu nhân tố con người trong quản lý. Khác với
thuyết quản lý theo khoa học chỉ yêu cần sự phục tùng và kỷ luật thì ông khẳng