Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực của khách sạn ĐiệnLực Hà Nội - Pdf 87

LỜI NÓI ĐẦU
Nền kinh tế thế giới đang trên đà phát triển mạnh mẽ, các ngành kinh tế
ngày càng đa dạng. Thêm vào đó nhu cầu của con người ngày càng phong phú
và đa dạng, họ đòi hỏi không chỉ thoả mãn về mặt vật chất mà còn đòi hỏi sự
thoả mãn về tinh thần. Chính từ hiện tượng trên mà du lịch đã hình thành và dần
trở thành một nhu cầu không thể thiếu trong đời sống xã hội. Với sự phát triển
không ngừng, du lịch đã không ngừng góp một phần quan trọng cho nền kinh tế
quốc dân mà còn mang lại sự giao lưu về kinh tế, văn hóa giữa các vùng, các dân
tộc, các quốc gia, thậm chí trên phạm vi toàn thế giới.
Hoà nhập với nhịp phát triển của kinh tế thế giới, du lịch Việt Nam cũng
ngày càng phát triển, đóng một vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân.
Với những điều kiện thuận lợi về vị trí địa lý, tài nguyên du lịch phong phú và đa
dạng, giàu bản sắc văn hoá dân tộc, du lịch Việt Nam đã chứng tỏ được khả năng
của nó và thực sự khởi sắc.
Cùng với sự phát triển của ngành kinh tế du lịch, kinh doanh khách sạn
cũng là một mặt không thế thiếu tạo nên sự thành công cho ngành du lịch. Khách
sạn là một trong những cơ sở vật chất không thể thiếu để phục vụ khách du lịch
cả trong và ngoài nước. Kinh doanh khách sạn cũng đóng góp một phần không
nhỏ vào doanh thu của ngành du lịch. Nhận thức được cơ hội, tiềm năng phát
triển của du lịch, kinh doanh khách sạn, nhà nước ta cũng đã ra nhiều chính sách
nhằm khuyến khích phát triển ngành công nghiệp không khói mang lại hiệu quả
cao này.
Một trong những doanh nghiệp nhà nước kinh doanh có hiệu quả trong
ngành kinh doanh khách sạn phải kể đến là khách sạn Điện Lực Hà Nội thuộc
tổng công ty điện lực Việt Nam ( 30 Lý Thái Tổ - Hoàn Kiếm – Hà Nội ). Kể từ
1
khi thành lập cho đến nay khách sạn Điện Lực đã gặt hái được rất nhiều thành
tích: hoạt động kinh doanh rất hiệu quả, chất lượng phục vụ không ngừng tăng
lên, đời sống của nhân viên trong khách sạn được cải thiện đáng kể. Cũng như
bất cứ một doanh nghiệp nào, nguồn nhân lực cũng đóng vai trò quan trọng làm
nên sự thành công của doanh nghiệp đó, và khách sạn Điện Lực Hà Nội cũng

không, tinh thần tốt dẫn đến các quan hệ xã hội cũng tốt đẹp hơn, con người
tham gia vào quá trình sản xuất xã hội một cách hiệu quả hơn làm cho xã hội
phát triển mạnh mẽ cả về mặt chất và lượng.
Nếu như trước đây con người cố gắng làm việc chỉ để có một cuộc sống
với vật chất đầy đủ thì bây giờ họ cố gắng vươn lên nhằm thoả mãn những nhu
cầu về quan hệ xã hội, về cuộc sống tinh thần. Quá trình phát triển mạnh mẽ của
thế giới, với các công nghệ kỹ thuật ngày càng hiện đại cho phép thoả mãn được
ngày càng tốt hơn nhu cầu ngày càng cao của con người. Nắm bắt được điều đó
các nhà nghiên cứu về đặc điểm của con người, tìm ra những nhu cầu mới của họ
và đưa ra các giải pháp nhằm thoả mãn chúng.
Ngày nay, để thoả mãn nhu cầu ngày càng phong phú và đa dạng của con
người, các nhà kinh doanh đã tìm ra rất nhiều cách thức khác nhau, ứng với mỗi
một nhu cầu lại có những sản phẩm đặc trưng phù hợp. Nhưng để thoả mãn nhu
cầu về tinh thần, cũng có rất nhiều sản phẩm thoả mãn được nhưng sản phẩm
3
thoả mãn tốt hơn cả và được con người ngày nay ưa chuộng hơn cả chính là các
sản phẩm của ngành du lịch khách sạn – ngành công nghiệp không khói.
Nhu cầu đi du lịch của con người ngày càng tăng lên, nó thoả mãn rất
nhiều mong muốn của con người khi sử dụng nó. Con người có thể đi du lịch để
thăm họ hàng, vui chơi giải trí, chữa bệnh, thăm quan, hoặc đi du lịch vì mục
đích công vụ… Đi du lịch hiện nay không phải chỉ bó hẹp trong phạm vi của một
đất nước, một châu lục mà nó vươn rộng ra phạm vi của toàn cầu. Trong môi
trường kinh tế mới, mở rộng và hợp tác giữa các quốc gia với nhau, giữa các
châu lục với nhau thì du lịch càng trở thành một ngành kinh tế đem lại nhiều lợi
nhuận cho các nhà kinh doanh nắm bắt tốt được nhu cầu của con người.
Xuất phát từ nhu cầu đi du lịch của con người, ngành kinh doanh du lịch
khách sạn đã ra đời và thực sự phát triển thành công. Trong hoạt động kinh
doanh du lịch, các cơ sở kinh doanh dịch vụ lưu trú và dịch vụ ăn uống đóng vai
trò hết sức quan trọng như là những nhà sản xuất và cung cấp các sản phẩm cho
khách du lịch. Kinh doanh khách sạn cũng chính là một trong những thành phần

bên cạnh đó còn phục vụ cho việc tổ chức hội thảo, chăm sóc khách hàng, ngoài
các dịch vụ lưu trú, ăn uống.
Việt Nam được công nhận là điểm đến an toàn, có nhiều danh lam thắng
cảnh, cộng với sự hợp tác kinh tế giữa các quốc gia với Việt Nam ngày càng lớn
cho nên lượng khách du lịch đến với Việt Nam tăng lên hàng năm. Dựa trên
thuận lợi đó, Hà Nội hơn nữa là lại là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hoá xã hội
5
của cả nước nên có rất nhiều điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh doanh du
lịch khách sạn. Nhiều doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực này đã được
thành lập tạo nên một môi trường cạnh tranh khá mạnh, tất cả đều nhằm mục
đích thoả mãn nhu cầu con người. Cạnh tranh mạnh, các doanh nghiệp ra sức tạo
ra các sản phẩm tốt nhất thoả mãn khách hàng, đẩy mạnh kinh doanh khách sạn
của thành phố ngày càng phát triển. Hiện nay Việt Nam đã trở thành thành viên
chính thức của tổ chức kinh tế thế giới WTO cho nên cơ hội phát triển của du
lịch Việt Nam cũng tăng lên gấp bội.
1.1.2. Đặc điểm của kinh doanh khách sạn
1.1.2.1. Kinh doanh khách sạn phụ thuộc vào tài nguyên du lịch tại các điểm
du lịch
Do sự phát triển của kinh doanh du lịch, kinh doanh khách sạn cũng từ đó
phát triển không ngừng, chính vì vậy kinh doanh khách sạn chỉ có thể thành công
ở những nơi có tài nguyên du lịch, bởi tài nguyên du lịch chính là nhân tố quyết
định động cơ, thúc đẩy nhu cầu đi du lịch của con người. Nơi nào không có tiềm
năng du lịch thì nơi đó không thu hút được khách du lịch trong khi khách du lịch
là khách hàng quan trọng nhất của khách sạn, hoạt động kinh doanh du lịch cũng
như kinh doanh khách sạn không thể tồn tại và phát triển được.
Không chỉ có vậy mức độ hấp dẫn của tài nguyên du lịch cũng như khả
năng tiếp nhận của tài nguyên du lịch ở mỗi điểm du lịch cũng có ảnh hưởng
nhất định đến quy mô của khách sạn. Địa điểm du lịch nào có tài nguyên càng
hấp dẫn, càng có giá trị về mặt thiên nhiên, văn hoá, lịch sử, xã hội, kinh tế thì
khả năng thu hút khách du lịch lớn, kéo theo đó quy mô của các khách sạn trong

đối lớn
Nếu như trước đây dịch vụ mà khách sạn cung cấp chỉ bao gồm dịch vụ
lưu trú, ăn uống là chủ yếu nhằm thỏa mãn nhu cầu thiết yếu của con người thì
ngày nay các dịch vụ của khách sạn không bị bó hẹp trong hai dịch vụ đó mà
ngày càng có them nhiều dịch vụ bổ sung khác. Dịch vụ ngày càng phong phú:
dịch vụ lưu trú, ăn uống, dịch vụ bổ sung như dịch vụ giải trí, chữa bệnh tổ chức
hội họp. Điều này đòi hỏi phải có số lượng nhân viên lớn mới có khả năng thỏa
mãn tốt nhất nhu cầu của khách hàng.
Mặc khác sản phẩm khách sạn lại chủ yếu mang tính chất phục vụ và sự
phục vụ này phải trực tiếp có sự tham gia của cả nhân viên khách sạn và khách
hàng, hay nói cách khác sự phục vụ này không thể cơ giới hóa được. Lao động
trong kinh doanh khách sạn có tính chuyên môn hóa cao ( thường được đào tạo
chuyên nghiệp về một lĩnh vực phục vụ trong khách sạn ). Bên cạnh đó thời gian
lao động lại bị phụ thuộc vào thời gian tiêu dùng của khách, phục vụ khách hàng
vào tất cả các giờ trong ngày. Chính vì thế cần phải cần phải sử dụng một số
lượng lớn lao động làm việc trực tiếp trong khách sạn. Vì phải sử dụng một số
lượng lớn lao động trực tiếp cho nên chi phí lao động trong kinh doanh khách
sạn là khá lớn, mà lại khó làm giảm chi phí này vì dễ ảnh hưởng đến chất lượng
dịch vụ. Để giải quyết tốt nhất vấn đề chi phí nhân lực là cần phải có một đội
ngũ nhân viên phục vụ chuyên nghiệp, vừa giảm được số lượng nhân viên vừa
đảm bảo được chất lượng dịch vụ khách sạn.
8
1.1.2.4. kinh doanh khách sạn mang tính quy luật
Cũng như các lĩnh vực kinh doanh khác kinh doanh khách sạn cũng chịu
sự chi phối của cấc quy luật như : quy luật tự nhiên, quy luật tâm lý con người,
quy luật kinh tế xã hội…
Chẳng hạn, nếu trong một quốc gia có sự biến động về chính trị, đất nước
đó đang bị chiến tranh đe dọa thì chắc chắn sự biến động này sẽ ảnh hưởng đến
số lượng khách đến với đất nước đó. Trong tháp nhu cầu của Maslow trong đó
nhu cầu an toàn là một trong năm nhu cầu của con người. Nhu cầu này cũng rất

kinh doanh khách sạn cũng chính là tạo điều kiện thúc đẩy các ngành kinh tế
khác cùng phát triển, tăng thu nhập quốc dân và thúc đẩy nền kinh tế của quốc
gia đó đi lên, đồng thời cũng khuyến khích phát triển cơ sở hạ tầng cho các điểm
du lịch.
Kinh doanh du lịch khách sạn đòi hỏi vốn đầu tư lớn về cơ sở vật chất kỹ
thuật, đòi hỏi phải thu hút được nguồn vốn lớn từ đầu tư của nước ngoài. Hiện
nay kinh tế mở cửa, giao lưu kinh tế ngày càng mạnh mẽ hơn, vì vậy mà kinh
doanh khách sạn phát triển còn góp phần tăng cường thu hút vốn đầu tư trong và
ngoài nước, huy động được nguồn vốn nhàn rỗi trong nhân dân.
Kinh doanh khách sạn làm tăng thu nhập quốc dân cho các vùng và các
quốc gia, đồng thời còn làm giảm tỷ lệ thất nghiệp. Không những giải quyết
10
được việc làm cho người lao động kinh doanh khách sạn trực tiếp mà còn giải
quyết được số lượng lớn về việc làm gián tiếp trong các ngành có liên quan.
Như vậy kinh doanh khách sạn có ý nghĩa kinh tế lớn đối với nền kinh tế
của bất kỳ quốc gia nào có hoạt động kinh doanh du lịch khách sạn. Đối với Việt
Nam thì ngày càng có ý nghĩa vì Việt Nam còn nghèo và lượng lao động dư thừa
nhiều.
1.1.3.2. Ý nghĩa xã hội
Con người đi du lịch là nhằm thỏa mãn nhu cầu bề mặt tinh thần của mình.
Kinh doanh khách sạn cũng đóng góp quan trọng vào việc thỏa mãn nhu cầu đó,
làm giữ gìn và phục hồi khả năng lao động và sức sản xuất của người lao động.
Không những thế còn nâng cao được mức sống cả về vật chất và tinh thần cho
nhân dân.
Kinh doanh khách sạn còn tạo điều kiện cho sự giao lưu, hợp tác giữa con
người không chỉ bó hẹp trong một vùng, một quốc gia mà rộng ra trên phạm vi
cả châu lục và toàn thế giới.
Không chỉ tạo thuận lợi cho sự giao lưu cá nhân con người mà kinh doanh
khách sạn còn tạo điều kiện cho sự giao thoa về văn hóa, chính trị, xã hội giữa
các quốc gia với nhau.

quan trọng hàng đầu quyết định đến hiệu quả kinh doanh của khách sạn.
12
Mặt khác các nhan viên điều hành, quản lý, các nhân viên marketing cũng
là một phần quan trọng trong nguồn nhân lực khách sạn. Những nhân viên này
nghiên cứu, phát hiện nhu cầu khách hàng và điều hành quản lý nhân viên phục
vụ trực tiếp đảm bảo chất lượng phục vụ của khách sạn.
Như vậy nguồn nhân lực có vai trò hết sức quan trọng trong bất cứ một
lĩnh vực náo cùa đời sống xã hội. Nó đóng vai trò quyết định đến sự thành bại
của các doanh nghiệp nói chung và các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ như
kinh doanh khách sạn nói riêng. Để có thể tồn tại và phát triển thì bất cứ một
doanh nghiệp nào cũng phải đảm bảo chất lượng nguồn nhân lực với chất lượng
cao và thực sự chuyên nghiệp.
1.2.3. Đặc điểm nhân lực trong kinh doanh khách sạn
1.2.3.1. Lao động trong khách sạn chủ yếu là lao động dịch vụ
Theo Giáo trình Quản trị kinh doanh khách sạn : “ Sản phẩm của khách
sạn là tất cả những dịch vụ hàng hóa mà khách sạn cung cấp nhằm đáp ứng nhu
cầu khách hàng kể từ khi họ liên hệ với khách sạn lần đầu để đăng ký buồng cho
tới khi tiêu dùng xong và rời khỏi khách sạn”.
Nếu trong các lĩnh vực kinh doanh khách hệ thống sản phẩm của các
doanh nghiệp chỉ là các sản phảm hàng hóa thì trong lĩnh vực kinh doanh khách
sạn sản phẩm khách sạn ngoài sản phẩm hàng hóa còn có một phần sản phẩm
quan trọng khác đó là sản phẩm dịch vụ. Mặc dù các sản phẩm của khách sạn tồn
tại dưới cả hai hình thức hàng hóa và dịch vụ nhưng hầu như các sản phẩm là
hàng hóa đều được thực hiện dưới hình thức dịch vụ khi đem bán cho khách
hàng. Chính vì vậy mà sản phẩm của kinh doanh khách sạn là sản phẩm dịch vụ.
Lao động trong kinh doanh khách sạn thực hiện nhiệm vụ trực tiếp phục
vụ khách hàng, đưa sản phẩm dịch vụ của khách sạn đến với khách hàng và thỏa
13
mãn tối đa nhu cầu của họ. Bởi lẽ đó lao động trong kinh doanh khách sạn chủ
yếu là lao động dịch vụ. Yêu cầu lao động trong kinh doanh khách sạn cũng có

phí cho việc đào tạo nhân viên mới để cho họ hiểu, quen với công việc và hình
thành tính chuyên nghiệp.
1.2.3.3. Khó có khả năng cơ khí hóa, tự động hóa
Sản phẩm của khách sạn là sản phẩm dịch vụ không thẻ lưu kho cất trữ
được, quá trình sản xuất và tiêu dung sản phẩm dịch vụ khách sạn gần như trùng
nhau cả về không gian và thời gian. Hiểu một cách khác là sản phẩm khách sạn
có tính “ tươi sống ” cao. Sản phẩm của khách sạn chỉ dược tiêu dùng khi có sự
tham gia của nhân viên khách sạn và khách hàng, đây cũng là nhân tố làm cho số
lượng lao động trong kinh doanh khách sạn nhiều hơn các ngành khác.
Mặt khác sản phẩm khách sạn mang tính tổng hợp cao, nhiều dịch vụ, cho
nên đòi hỏi về số lượng nhân viên là rất lớn.
Sản phẩm khách sạn là sản phẩm dịch vụ phải được phục vụ trức tiếp tới
khách hàng, khó có khả năng cơ khí hóa, tự động hóa dẫn đến số lượng lao động
nhiều trong cùng một thời gian, không gian; hơn nữa lại có cả sự tham gia của
người tiêu dùng, nhiều loại chuyên môn nghề nghiệp dẫn đến khó khăn trong tổ
chức quản lý điều hành.
15
1.2.3.4. Cường độ làm việc không đồng đều mang tính thời điểm cao, đa dạng
và phức tạp.
Như ta đã biết hoạt động kinh doanh khách sạn chịu ảnh hưởng của các
quy luật tự nhiên là rất lơn, điều này đã tạo nên tính mùa vụ trong kinh doanh du
lịch cũng như kinh doanh khách sạn. Tính mùa vụ trong kinh doanh khách sạn có
ảnh hưởng nhất định tới lao động kinh doanh trong ngành này. Tính mùa vụ làm
nguyên nhân dẫn đến cường độ làm việc không đồng đều. Lao động khi bước
vào mùa vụ nhiều khi phải đảm nhiệm một khối lượng công việc rất lớn, phức
tạp trong một dơn vị thời gian, gây ra những áp lực công việc cho người lao
động, vừa phải đảm bảo được sức khỏe vừa không làm ảnh hưởng đến chất
lượng dịch vụ nhưng thường thì khó có thể cần bằng được hai lợi ích này vào lúc
mùa chính. Ngược lại, tại những mùa thấp điểm trong năm công việc không
nhiều, lao động nhàn rỗi dư thừa, kinh doanh không có hiệu quả mà lại tốn chi

thích hợp hơn với nữ giới.
Trình độ chuyên môn nghiệp vụ, ngoại ngữ: ứng với mỗi bộ phận kinh
doanh khác nhau của khách sạn thì yêu cầu về chuyên môn nghiệp vụ lại khác
nhau đối với từng nhân viên trong bộ phận đó. Ví dụ như trong bộ phận Lễ tân,
các nhân viên phải có khả năng giao tiếp tốt, gợi mở nhu cầu khách hàng, có
ngoại hình ưu nhìn, thạo ngoại ngữ để gây thiện cảm cho khách hàng. Nhưng đối
với nhân viên bàn thì cần nhanh nhẹn, hoạt bát, cũng phải có yêu cầu về ngoại
ngữ nhưng không cần thiết phải thành thạo như nhân viên Lễ tân.
17
1.2.3.7. Các đặc điểm của quy trình tổ chức lao động
Lao động trong kinh doanh khách sạn phải phục vụ 24/24h vào tất cả các
ngày trong năm, không có ngày nghỉ. Lao động trong kinh doanh khách sạn phải
chịu áp lực công việc rất lớn, vì cảm nhận của khách hàng là cảm nhận cả về một
quy trình phục vụ, chỉ cần có một khâu nào đó trong quá trình phục vụ không
thành công thì cả quá trình phục vụ đó đều trở thành vô nghĩa.
Trên đây là những đặc điểm đặc trưng của lao đông kinh doanh khách sạn,
các nhà quản lý cần nắm bắt được các đặc điểm này để sử dụng hiệu quả nguồn
nhân lực của khách sạn, tức là phải đáp ứng được các nhu cầu sau:
Vừa tiết kiệm được lao động vừa đảm bảo được chất lượng lao động, trong khi
lao động trong khách sạn có hệ số luân chuyển cao, có xu hướng tăng và số
lượng lớn hơn so với các lĩnh vực kinh doanh khác.
Định mức lao động, xác định được nhiệm vụ chính xác cho từng chức
danh, tránh chồng chéo công viêc. Hơn nũa đồng thời phải đảm bảo tính hợp lý
công bằng trong phân phối lợi ích cả về vật chất và tinh thần cho người lao động,
tạo động lực cho họ làm việc có hiệu quả.
1.2.4. Yêu cầu đối với nhân lực trong kinh doanh khách sạn
1.2.4.1. Yêu cầu đối với nhân viên bộ phận lễ tân
Yêu cầu về kỹ năng nghiệp vụ và hiểu biết: được đào tạo về nghiệp vụ lễ
tân với khả năng phục vụ chuyên nghiệp, khả năng giao tiếp tốt với khách và bên
cạnh đó là khả năng bán hàng.

tượng khách hàng khác nhau, thông tin cho khách hàng, giải quyết các phàn nàn
cho nên cần phải có sức khỏe tốt mới đảm bảo được thực hiện công việc.
1.2.4.2. Yêu cầu đối với nhân viên buồng
Có nghiệp vụ chuyên môn về ký năng phục vụ trong quá trình làm việc:
làm việc đúng với quy trình, đảm bảo hoàn thành công việc đúng thời hạn, đảm
bảo về số lượng công việc.
Nhân viên phục vụ buồng phải có đức tính thật thà, chân thật, tỉ mỉ cẩn
thận, có tinh thần trách nhiệm đối với công việc và khách hàng.
Không những thế phải chấp hành đầy đủ các nội quy của khách sạn, có ý
thức kỷ luật cao tạo ra không khí làm việc nghiêm túc cho khách sạn.
Nhân viên bộ phận buồng phải đảm nhiệm một số lượng công việc lớn, vất
vả, sử dụng nhiều đến sức khỏe nên cần phải có một thể lực thật tốt mới có khả
năng hoàn thành tốt công việc. Trong quá trình làm việc phải luôn có thái độ cởi
mở, thân thiện với khách hàng, nhiệt tình phục vụ khách hàng.
1.2.4.3. Yêu cầu đối với nhân viên phục vụ bàn
Nhân viên bộ phận bàn muốn hoàn thành tốt công việc, là một nhân viên
chuyên nghiệp phải hội tụ đủ bốn yếu tố đó là thể lực, trí lực, đạo đức, nghiệp
vụ.
Ngoại hình của nhân viên phục vụ bàn phải ưu nhìn, không mắc các bệnh
ngoài da hay bệnh truyền nhiễm.
Trong quá trình làm việc phải luôn tươi tắn, lịch sự, nhiệt tình phục vụ
khách hàng, có khả năng giao tiếp tốt, tư vấn cho khách hàng có thêm nhiều lựa
chọn.
Có nghiệp vụ bàn chuyên nghiệp, thông thạo ít nhát một ngoại ngữ để
phục vụ khách nước ngoài.
20
1.2.4.4. Yêu cầu đối với nhân viên các bộ phận khác
Ngoài ba bộ phận chính trên khách sạn còn có các bộ phận khác như bộ
phận hành chính, kế toán, marketing, bảo vệ…ứng với mỗi bộ phận các nhân
viên trong các bộ phận này cũng phải có đầy đủ các kỹ năng phù hợp với từng

kinh tế thị trường cũng có những biến đổi tác động mạnh mẽ vào các doanh
nghiệp, do đó sử dụng nguồn nhân lực hợp lý được đặt lên hàng đầu, nhất là đối
với doanh nghiệp kinh doanh khách sạn – ngành có chi phí nhân lực tương đối
lớn. Mỗi giai đoạn phát triển khác nhau, doanh nghiệp cần phải tiến hành phân
tích tình hình sử dụng nguồn nhân lực trong doanh nghiệp nhằm phân loại và
nắm chắc về số lượng cũng như chất lượng lao động hiện có trong doanh nghiệp.
Thông qua đó phát hiện ra những bất hợp lý và hạn chế lãng phí của sử dụng
nhân lực trọng doanh nghiệp, so sánh kỳ này với kỳ trước hoặc với kế hoạch.
Phát hiện ra các nguyên nhân dẫn đến bất hợp lý giúp cho các doanh nghiệp kịp
thời có những biện pháp khắc phục nhằm khai thác và sử dụng có hiệu quả hơn
nguồn nhân lực của mình trong kỳ kinh doanh tới nhằm đạt hiệu quả cao trong
kinh doanh.
1.3.2. Cơ sở lý luận về hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực và các chỉ tiêu đánh
giá hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực trong doanh nghiệp.
Bất cứ một doanh nghiệp nào khi đứng vững được trên thị trường, kinh
doanh hiệu quả được thể hiện bằng các con số doanh thu, lợi nhuận…đằng sau
22
đó có rất nhiều yếu tố làm nên thành công đó và một trong các yếu tố đó chính là
hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực.
Hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực được biểu hiện thông qua mức độ tiết
kiệm hao phí lao động tương ứng với mức tăng kết quả sản xuất kinh doanh.
Cũng có thể hiểu hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực thông qua việc so sánh giữa
kết quả thu được với hao phí lao động đã sử dụng phục vụ cho quá trình kinh
doanh.
Hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực chính là kết quả của việc sử dụng nguồn
nhân lực một cách hợp lý, không lãng phí về số lượng và đảm bảo cả về mặt chất
lượng ( chất lượng ở đây bao gồm chất lượng nguồn nhân lực và chất lượng dịch
vụ, kinh doanh ).
Bản chất của hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực chính là vừa nâng cao năng
suất lao động vừa đồng thời tiết kiệm lao động mà không làm ảnh hưởng đến

lực lượng lao động =
Tổng số công nhân
theo trình độ lành nghề trong doanh nghiệp
Hệ số sử dụng lao động theo trình độ lành nghề cho ta thấy rõ số nhân
viên được làm việc có yêu cầu kỹ thuật và mức độ phức tạp của công việc đúng
với trình độ lành nghề của họ. Hệ số sử dụng lao động theo trình độ lành nghề
càng cao thì hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực càng cao, mức độ phù hợp càng
cao.
Thứ năm: chỉ tiêu sử dụng thời gian lao động
24
Chỉ tiêu đánh giá này được thể hiện thông qua số ngày công và tỷ trọng
thời gian làm việc thực tế trong năm so với ngày công theo chế độ trong năm. Số
ngày công lao động của nhân viên tăng lên, giảm số ngày nghỉ trong điều kiện
của luật lao động phản ánh nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực trong
doanh nghiệp, điều đó cũng đồng nghĩa với nâng cao hệ số ngày công làm việc
theo chế độ.
H = Ttt : Tcd
H : hệ số ngày công làm việc theo chế độ
Ttt : ngày công làm việc thực tế trong năm
Tcd : ngày công làm việc theo chế độ trong năm
Hệ số giờ công lao động: số giờ công lao động có ích của nguồn nhân lực
trong một ngày làm việc.
K = T có ích : T ca
K : hệ số sử dụng giờ công lao động
T có ích: thời gian làm việc hữu ích trong ca
T ca: thời gian ca làm việc theo quy định
Thứ sáu; tỷ lệ người có việc làm tăng lên, tỷ lệ người thất nghiệp trong
doanh nghiệp giảm xuống.
Tỷ lệ huy động lao động:
Số lao động thực tế làm việc


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status