Luận văn tốt nghiệp
Lời nói đầu
Trong những năm gần đây, nền kinh tế nước ta đã có những bước
chuyển mình mạnh mẽ theo hướng xoá bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp,
chuyển sang nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước. Các doanh
nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp nhà nước, từ chỗ sản xuất và tiêu thụ
theo chỉ tiêu pháp lệnh của Nhà nước, đã chuyển sang tự hạch toán kinh
doanh. Để tồn tại và phát triển trong bối cảnh đó, các doanh nghiệp phải quan
tâm tới việc làm thế nào để tổ chức sản xuất kinh doanh một cách có hiệu quả
nhất, đồng thời đem lại lợi nhuận cao nhất. Có nhiều mảng, nhiều khía cạnh
mà một doanh nghiệp phải quan tâm một khi muốn có hiệu quả hoạt động cao
nhất, đem lại nhiều lợi nhuận nhất, trong đó vấn đề quản lý và sử dụng vốn có
thể được xem như vấn đề quan trọng nhất. Để tiến hành bất cứ một hoạt động
sản xuất kinh doanh nào cũng cần có vốn.
Quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cũng là quá
trình hình thành, phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp.
Trong nền kinh tế thị trường, sự cạnh tranh gay gắt giữa các doanh nghiệp đã
đòi hỏi các doanh nghiệp phải tính toán kỹ về hiệu quả của mỗi đồng vốn mà
mình bỏ ra, nếu không thì đồng vốn không sinh lời dẫn đến việc không đảm
bảo được tái sản xuất giản đơn, vốn bị mất dần sau mỗi chu kỳ kinh doanh,
kéo theo tình trạng thua lỗ kéo dài và doanh nghiệp phải vắng bóng trên thị
trường. Vốn kinh doanh có hai loại là vốn cố định và vốn lưu động. Trong đó,
vốn lưu động như dòng máu luôn vận động tuần hoàn để nuôi sống doanh
nghiệp. Chính vì vậy mà việc tổ chức quản lý và sử dụng vốn lưu động có
hiệu quả hay không sẽ ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả sử dụng vốn kinh
doanh của doanh nghiệp.
Trương Quỳnh Giao Lớp: Tài chính Doanh nghiệp 42
B
1
Luận văn tốt nghiệp
Trong thời kỳ bao cấp trước đây, sản phẩm phụ tùng xe đạp của công ty
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong bộ môn Tài chính
doanh nghiệp, đặc biệt là PGS. TS Vũ Duy Hào cùng các cô phòng Tài chính
kế toán của công ty Xe đạp - Xe máy Đống Đa Hà Nội đã tạo điều kiện và
giúp đỡ em hoàn thành đề tài này.
Chương I
vốn lưu động và hiệu quả sử dụng vốn lưu động của doanh
nghiệp
1.1. Vốn lưu động và vai trò của nó trong hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp.
1.1.1. Vốn lưu động và nguồn hình thành vốn lưu động của doanh nghiệp.
1.1.1.1. Vốn lưu động của doanh nghiệp.
1.1.1.1.1. Vốn lưu động và nội dung vốn lưu động của doanh nghiệp.
Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp cần
có 3 yếu tố:
+ Tư liệu lao động (TLLĐ)
+ Đối tượng lao động (ĐTLĐ)
+ Sức lao động (SLĐ)
Khác với các TLLĐ, ĐTLĐ (như nguyên vật liệu, bán thành phẩm…)
chỉ tham gia vào một chu kỳ sản xuất và không giữ nguyên hình thái vật chất
ban đầu, giá trị của nó được chuyển dịch toàn bộ, một lần vào giá trị sản
phẩm. Phần lớn các ĐTLĐ thông qua quá trình chế biến để hợp thành thực
thể của sản phẩm bông thành sợi, cát thành thuỷ tinh… một số khác bị mất đi
như các loại nhiên liệu. Bất kỳ hoạt động sản xuất kinh doanh nào cũng cần
phải có các đối tượng lao động. Lượng tiền ứng trước để thoả mãn nhu cầu về
Trương Quỳnh Giao Lớp: Tài chính Doanh nghiệp 42
B
3
Luận văn tốt nghiệp
các ĐTLĐ được gọi là vốn lưu động hay nói dưới góc độ tài sản thì vốn lưu
động được sử dụng để chỉ những tài sản lưu động. Tài sản lưu động là những
ban đầu là tiền tệ sang hình thái vật tư hàng hoá và cuối cùng quay trở lại hình
thái tiền tệ gọi là sự tuần hoàn của VLĐ. Quá trình này diễn ra liên tục và lặp
đi lặp lại có tính chất chu kỳ nên còn gọi là quá trình chu chuyển của VLĐ.
Sau mỗi chu kỳ sản xuất, VLĐ hoàn thành một vòng luân chuyển.
Do quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra một cách
thường xuyên, liên tục nên VLĐ cũng vận động không ngừng tạo ra sự chu
chuyển vốn và tại mọi thời điểm VLĐ có thể cùng tồn tại dưới nhiều hình
thức khác nhau, cả trong sản xuất và lưu thông hàng hoá.
Từ những phân tích ở trên, ta có thể rút ra: VLĐ của doanh nghiệp là số
tiền ứng ra để hình thành nên TSLĐ của doanh nghiệp, đảm bảo cho quá trình
hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra một cách thường
xuyên, liên tục và trong quá trình chu chuyển, giá trị của VLĐ được chuyển
dịch toàn bộ, một lần và hoàn thành một vòng tuần hoàn sau mỗi chu kỳ sản
xuất và tiêu thụ sản phẩm.
1.1.1.1.2. Phân loại VLĐ của doanh nghiệp.
Để quản lý và sử dụng VLĐ có hiệu quả cần phân loại VLĐ của doanh
nghiệp theo các tiêu thức khác nhau. Có những cách phân loại sau:
- Dựa vào hình thái biểu hiện, VLĐ được chia thành 2 loại:
* Vốn bằng tiền
Là bộ phận VLĐ không biểu hiện bằng hình thái hiện vật. Vốn bằng
tiền gồm: tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển, các khoản
phải thu, các khoản đầu tư chứng khoán ngắn hạn.
* Vốn vật tư hàng hoá
Trương Quỳnh Giao Lớp: Tài chính Doanh nghiệp 42
B
5
Luận văn tốt nghiệp
Là bộ phận VLĐ biểu hiện dưới hình thái hiện vật trong doanh nghiệp.
Vốn vật tư hàng hóa bao gồm: nguyên, nhiên liệu, vật liệu, sản phẩm dở dang,
bán thành phẩm, thành phẩm.
định đúng các trọng điểm và biện pháp quản lý VLĐ có hiệu quả hơn phù hợp
với điều kiện cụ thể của doanh nghiệp. Mặt khác, với việc thay đổi kết cấu
VLĐ trong những thời kỳ khác nhau có thể thấy được những biến đổi tích cực
hay những hạn chế về mặt chất lượng công tác quản lý VLĐ của từng doanh
nghiệp.
1.1.1.1.3.2. Các nhân tố ảnh hưởng tới kết cấu VLĐ.
Các nhân tố ảnh hưởng đến kết cấu VLĐ của doanh nghiệp có nhiều
loại, có thể chia thành 3 nhóm chính:
- Nhóm nhân tố về mặt sản xuất:
+ Chu kỳ sản phẩm có ảnh hưởng rất lớn đến tỷ trọng vốn sản
phẩm dở dang. Nếu chu kỳ sản phẩm càng dài thì lượng vốn ứng ra cho sản
phẩm dở dang càng lớn và ngược lại.
+ Đặc điểm của quy trình công nghệ và của sản phẩm. Nếu sản
phẩm càng phức tạp thì lượng vốn ứng ra sẽ cao hơn.
+ Đặc điểm tổ chức sản xuất có ảnh hưởng đến sự khác nhau về
tỷ trọng VLĐ bỏ vào khâu dự trữ và khâu sản xuất. Nếu doanh nghiệp tổ chức
sản xuất đồng bộ, phối hợp được khâu cung cấp và sản xuất một cách hợp lý
sẽ giảm bớt được một lượng dự trữ vât tư sản phẩm dở dang.
- Nhóm nhân tố về mua sắm vật tư và tiêu thụ sản phẩm:
+ Khoảng cách giữa doanh nghiệp với đơn vị cung ứng vật tư,
khoảng cách giữa doanh nghiệp với người mua hàng. Khoảng cách càng xa
thì việc dự trữ vật tư, thành phẩm càng lớn.
Trương Quỳnh Giao Lớp: Tài chính Doanh nghiệp 42
B
7
Luận văn tốt nghiệp
+ Điều kiện và phương tiện giao thông vận tải cũng có sự ảnh
hưởng đến vốn vật tư, thành phẩm dự trữ. Nếu như thuận lợi thì dự trữ ít và
ngược lại.
+ Khả năng cung cấp của thị trường. Nếu là loại vật tư khan
- Nợ phải trả
Là số vốn thuộc quyền sở hữu của các chủ thể kinh tế khác, doanh
nghiệp có quyền sử dụng, chi phối trong một thời hạn nhất định. Nợ của
doanh nghiệp thường bao gồm 2 bộ phận: Nợ chiếm dụng (các khoản vốn
trong thanh toán mà doanh nghiệp được sử dụng một cách hợp pháp khi chưa
tới kỳ hạn) và nợ tín dụng (các khoản vốn vay từ các chủ thể khác như: ngân
hàng, các tổ chức tài chính - tín dụng, các doanh nghiệp khác)
Cách phân loại này giúp doanh nghiệp có biện pháp quản lý VLĐ một
cách chặt chẽ. Từ đó xác định được đâu là nguồn VLĐ phải trả lãi, từ đó có
kế hoạch sử dụng VLĐ một cách có hiệu quả.
1.1.1.2.2. Căn cứ theo nguồn hình thành VLĐ
- Nguồn vốn điều lệ: Phản ánh số vốn do các chủ sở hữu của doanh
nghiệp bỏ ra, gồm có: Vốn NS cấp (đối với các DNNN); vốn cổ phần, vốn do
chủ doanh nghiệp bỏ ra…
- Nguồn vốn tự bổ sung: Phản ánh số vốn do doanh nghiệp tự bổ sung,
chủ yếu từ lợi nhuận để lại nhằm đáp ứng nhu cầu mở rộng quy mô sản xuất.
- Nguồn vốn liên doanh liên kết: Là số VLĐ được hình thành từ vốn
góp liên doanh của bên tham gia liên doanh. Vốn góp liên doanh có thể bằng
tiền mặt hoặc bằng hiện vật là vật tư hàng hoá.
- Nguồn vốn tín dụng: Là số vốn vay của các ngân hàng thương mại
hoặc các tổ chức tín dụng, vay bằng việc phát hành trái phiếu.
Trương Quỳnh Giao Lớp: Tài chính Doanh nghiệp 42
B
9
Luận văn tốt nghiệp
- Nguồn vốn chiếm dụng: Phản ánh số vốn mà doanh nghiệp chiếm
dụng một cách hợp pháp của các chủ thể khác trong nền kinh tế, phát sinh
trong quan hệ thanh toán như phải trả cho người bán, phải nộp ngân sách…
Đây là nguồn vốn doanh nghiệp có thể tạm thời sử dụng mà không phải trả
chi phí sử dụng vốn. Do đó, doanh nghiệp nên tận dụng tối đa nguồn vốn này.
dụng có hiệu quả vốn hiện có, mặt khác cần phải chủ động tổ chức khai thác
các nguồn vốn đáp ứng cho nhu cầu sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
1.1.2. Vai trò của vốn lưu động trong hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp.
Vốn nói chung và đặc biệt là VLĐ giữ một vai trò quyết định trong
hoạt động sản xuất kinh doanh. VLĐ bảo đảm cho sự thường xuyên liên tục
của quá trình sản xuất kinh doanh từ khâu mua sắm vật tư đến tiến hành tổ
chức sản xuất, tiêu thụ sản phẩm. Đây cũng chính là vốn luân chuyển giúp
cho doanh nghiệp sử dụng tốt máy móc thiết bị và lao động để tiến hành sản
xuất kinh doanh nhằm thu lợi nhuận.
VLĐ với đặc điểm về khả năng chu chuyển của mình có thể giúp
doanh nghiệp thay đổi chiến lược sản xuất kinh doanh một cách dễ dàng, đáp
ứng kịp thời nhu cầu thị trường cũng như các nhu cầu tài chính trong các quan
hệ kinh tế đối ngoại cho doanh nghiệp.
VLĐ luân chuyển một lần vào giá trị của sản phẩm và là một trong
những nhân tố chính tạo nên giá thành sản phẩm. Do vậy, quản lý tốt VLĐ sẽ
giúp doanh nghiệp giảm chi phí giá thành, tăng sức cạnh tranh cho doanh
nghiệp.
Ngoài ra, vòng tuần hoàn và chu chuyển của VLĐ diễn ra trong toàn bộ
các giai đoạn của chu kỳ sản xuất kinh doanh nên đồng thời trong quá trình
theo dõi sự vận động của VLĐ, doanh nghiệp quản lý được gần như toàn bộ
Trương Quỳnh Giao Lớp: Tài chính Doanh nghiệp 42
B
11
Luận văn tốt nghiệp
các hoạt dộng diễn ra trong chu kỳ sản xuất kinh doanh. Chính vì vậy, VLĐ
có ảnh hưởng lớn đến việc thiết lập chiến lược sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp.
Quy mô của VLĐ ảnh hưởng trực tiếp đến quy mô sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp. Đặc biệt là đối với doanh nghiệp thương mại, nó làm tăng
Nhà nước bao cấp vốn hoặc cho vay với lãi suất ưu đãi, bao cấp về giá, sản
xuất kinh doanh theo chỉ tiêu pháp lệnh, lỗ đã có Nhà nước bù, lãi Nhà nước
thu… Do đó, công tác quản lý sử dụng vốn trong các doanh nghiệp quốc
doanh không được quan tâm đúng mức, vai trò của vốn bị xem nhẹ, vì vậy
dẫn tới tình trạng hiệu quả sử dụng vốn thấp.
Từ sau Đại hội Đảng Việt Nam khoá VI, Đảng và Nhà nước ta đã
khẳng định nền kinh tế nước ta chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung
sang nền kinh tế thị trường với đa thành phần kinh tế tham gia có sự quản lý
vĩ mô của Nhà nước theo định hướng XHCN.
Doanh nghiệp Nhà nước trong cơ chế thị trường là đơn vị hạch toán
kinh doanh độc lập, nơi trực tiếp sử dụng và khai thác mọi khả năng để sản
xuất kinh doanh hàng hoá sản phẩm, dịch vụ nhằm đáp ứng nhu cầu ngày
càng tăng của xã hội và tích luỹ cho nền kinh tế. Kinh tế thị trường đã đem lại
sự đa dạng hoá về loại hình doanh nghiệp… Cùng với nó là sự cạnh tranh
khốc liệt, doanh nghiệp nào không đủ khả năng cạnh tranh sẽ phải rút lui,
phải phá sản. Với tình hình như vậy, đòi hỏi mỗi đồng vốn tạo ra đều phải
sinh lợi nhuận. Ngoài VCĐ, việc nâng cao hiệu quả sử dụng và quản lý VLĐ
sẽ mang lại hiệu quả sản xuất kinh doanh cho doanh nghiệp. Điều này xuất
phát từ các lý do sau:
Một là: Xuất phát từ vai trò, vị trí của VLĐ trong quá trình sản xuất
kinh doanh. Như đã đề cập ở trên, VLĐ đóng một vai trò quan trọng trong
Trương Quỳnh Giao Lớp: Tài chính Doanh nghiệp 42
B
13
Luận văn tốt nghiệp
hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Doanh nghiệp nào thiếu vốn
thì việc chuyển hoá hình thái sẽ gặp nhiều khó khăn, VLĐ cũng không luân
chuyển và quá trình sản xuất sẽ bị gián đoạn. Sự vận động của VLĐ phản ánh
sự vận động của vật tư hàng hoá, VLĐ luân chuyển nhanh hay chậm phản ánh
số lượng vật tư sử dụng tiết kiệm hay lãng phí, thời gian nằm trên các giai
biến đối, vì vậy, bảo toàn VLĐ thực chất là đảm bảo cho số vốn cuối kỳ đủ
mua một lượng hàng hoá, vật tư tương đương với đầu kỳ khi giá cả hàng hoá
tăng lên, duy trì khả năng thanh toán của doanh nghiệp.
Ngoài ra, tăng cường quản lý và sử dụng tốt VLĐ còn giúp cho doanh
nghiệp luôn có được trình độ sản xuất kinh doanh phát triển, trang thiết bị kỹ
thuật được cải tiến. Đăc biệt, khai thác được các nguồn vốn, sử dụng tốt VLĐ
sẽ giảm bớt nhu cầu vay vốn cũng như giảm chi phí về lãi vay. Tóm lại, tổ
chức quản lý tài chính là vấn đề quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh
nghiệp.
1.2. Hiệu quả sử dụng vốn lưu động.
1.2.1. Khái niệm hiệu quả sử dụng vốn lưu động.
Hiệu quả sử dụng VLĐ là một phạm trù kinh tế phản ánh tình hình sử
dụng nguồn VLĐ của doanh nghiệp để đạt được hiệu quả cao nhất trong kinh
doanh với tổng chi phí thấp nhấp có thể.
Hiệu quả sử dụng VLĐ là chỉ tiêu chất lượng phản ánh trường hợp
những cố gắng, những biện pháp hữu hiệu về kỹ thuật đảm bảo với số vốn
hiện có, bằng các biện pháp quản lý và trường hợp nhằm khai thác triệt để khả
năng vốn có để có thể mang lại nhiều lợi nhuận hơn cho doanh nghiệp.
Hiệu quả sử dụng VLĐ được biểu hiện bằng mối quan hệ giữa kết quả
hoạt động sản xuất kinh doanh với số VLĐ đầu tư cho hoạt động của doanh
nghiệp trong một kỳ nhất định:
Trương Quỳnh Giao Lớp: Tài chính Doanh nghiệp 42
B
15
Luận văn tốt nghiệp
Hiệu quả sử dụng VLĐ =
VL§
qu¶KÕt
Kết quả thu được từ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
được thể hiện bằng doanh thu đạt được hay lợi nhuận trong kỳ, còn VLĐ là số
có cơ sở khoa học về hiệu quả kinh doanh nói chung và hiệu quả sử dụng
VLĐ nói riêng thì doanh nghiệp phải dựa trên nguồn thông tin từ các báo cáo
tài chính và dùng phương pháp tỷ lệ phân tích. Dưa trên nền tảng cơ bản đó,
các nhà kinh tế xây dựng một hệ thống các chỉ tiêu phản ánh chất lượng sử
dụng VLĐ của doanh nghiệp.
1.2.2. Hệ thống các chỉ tiêu xác định hiệu quả sử dụng vốn lưu động.
Trước khi đi vào các chỉ tiêu tính toán cụ thể, ta có thể tiếp cận các
khái niệm tổng quát hơn đó là VLĐ thường xuyên và nhu cầu VLĐ. Cả hai
khái niệm này đều phần nào phản ánh lên hiệu quả sử dụng, tổ chức hay quản
lý VLĐ và tài sản lưu động trong một doanh nghiệp.
Vốn lưu động thường xuyên:
Chênh lệch giữa nguồn vốn dài hạn với tài sản lưu động hay giữa tài
sản lưu động với nguồn vốn ngắn hạn được gọi là vốn lưu động thường
xuyên.
Vốn lưu động thường xuyên = Nguồn vốn dài hạn- Tài sản cố định
= Tài sản lưu động- Nguồn vốn ngắn hạn
Mức độ an toàn của tài sản ngắn hạn phụ thuộc vào lượng vốn lưu
động thường xuyên. Có thể biểu hiện mối quan hệ của VLĐ thường xuyên
như sau:
Tài sản Nguồn vốn
Trương Quỳnh Giao Lớp: Tài chính Doanh nghiệp 42
B
17
Luận văn tốt nghiệp
A. TSLĐ và
đầu tư ngắn
hạn
Tài sản
ngắn hạn
Nguồn vốn
đủ cho tài sản cố định và tài sản lưu động đủ để doanh nghiệp trả các khoản
nợ ngắn hạn, tình hình tài chính của doanh nghiệp như vậy là lành mạnh.
Trương Quỳnh Giao Lớp: Tài chính Doanh nghiệp 42
B
18
Luận văn tốt nghiệp
Như vậy, vốn lưu động thường xuyên là một chỉ tiêu tổng hợp quan
trọng để đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp. Nó cho biết doanh nghiệp
có khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn không và tài sản cố định của
doanh nghiệp có được tài trợ vững chắc bằng nguồn vốn dài hạn không.
Nhu cầu VLĐ thường xuyên:
Nhu cầu vốn lưu động thường xuyên là một lượng vốn ngắn hạn doanh
nghiệp cần để tài trợ cho một phần tài sản lưu động, đó là hàng dự trữ và các
khoản phải thu ( tài sản lưu động không phải là tiền).
Nhu cầu vốn lưu = Dự trữ và - Nợ ngắn hạn
động thường xuyên các khoản phải thu
Thực tế có thể xảy ra những trường hợp sau:
- Nhu cầu vốn lưu động thường xuyên >0 tức là tồn kho và các khoản
phải thu > nợ ngắn hạn. Tại đây, các sử dụng ngắn hạn của doanh nghiệp lớn
hơn nguồn vốn ngắn hạn mà doanh nghiệp có được từ bên ngoài, doanh
nghiệp phải dùng nguồn vốn dài hạn để tài trợ vào phần chênh lệch. Giải pháp
trong trường hợp này là doanh nghiệp phải nhanh chóng giải phóng hàng tồn
kho và giảm các khoản phải thu.
- Nhu cầu vốn lưu động thường xuyên < 0 có nghĩa là các nguồn vồn
ngắn hạn từ bên ngoài đã dư thừa để tài trợ cho các sử dụng ngắn hạn của
doanh nghiệp, doanh nghiệp không cần nhận thêm vốn ngắn hạn để tài trợ cho
chu kì kinh doanh.
Sau đây ta đi sâu nghiên cứu, phân tích hệ thống một số chỉ tiêu cụ thể
đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp nói chung và hiệu quả sử dụng
VLĐ nói riêng.
lại.
- Kỳ luân chuyển VLĐ: phản ánh số ngày (thời gian cần thiết) để hoàn
thành một vòng luân chuyển VLĐ.
K =
L
360
hay K =
thuÇn thu Doanh
360 x VL§
bq
Trong đó:
K: Kỳ luân chuyển VLĐ
VLĐ bq: VLĐ bình quân trong kỳ.
Trương Quỳnh Giao Lớp: Tài chính Doanh nghiệp 42
B
20
Lun vn tt nghip
Tc luõn chuyn VL nhanh hay chm núi lờn tỡnh hỡnh t chc cỏc
mt hng mua sm d tr, sn xut v tiờu th ca doanh nghip cú hp lý
hay khụng. Vũng quay ca vn cng nhanh thỡ k luõn chuyn vn cng c
rỳt ngn v chng t VL cng c s dng cú hiu qu.
1.2.2.2. Ch tiờu hm lng VL.
Hm lng VL =
kỳtrong thu Doanh
kỳtrong VLĐ
bq
Ch tiờu ny phn ỏnh s VL cn cú t c mt ng doanh thu.
Ch tiờu ny cng nh thỡ hiu qu s dng VL cng cao v ngc li.
1.2.2.3. Ch tiờu v doanh li.
Mc doanh li VL =
dài là một tín hiệu đáng lo ngai vì nó đồng nghĩa với viêc doanh nghiệp đang
duy trì môt lượng ngân quỹ cao quá mức cần thiết.
- Chỉ tiêu về khả năng hoạt động.
Số vòng quay hàng tồn kho và thời gian một vòng quay hàng tồn kho:
Số vòng quay hàng tồn kho =
Gi¸ vèn hµng b¸n
TrÞ gi¸ hµng tån kho b × nh qu©n
Thời gian vòng quay hàng tồn kho =
khotån hµngquay vßngSè
360
Số vòng quay hàng tồn kho là số lần mà những hàng hoá tồn kho bình quân
luân chuyển trong kỳ. Số vòng quay càng cao thì vốn luân chuyển càng
nhanh, việc kinh doanh được đánh giá là tốt vì chỉ cần cho hàng tồn kho thấp
mà vẫn đạt được doanh thu cao và ngược lại.
Vòng quay khoản phải thu và kỳ thu tiền bình quân:
Vòng quay các khoản phải thu =
Doanh thu tiª u thô trong kú
Sè d b × nh qu©n c¸c kho¶n ph¶i thu
Vòng quay các khoản phải thu phản ánh tốc độ chuyển đổi khoản phải thu
thành tiền mặt của doanh nghiệp. Vòng quay càng lớn chứng tỏ tốc độ thu hồi
các khoản phải thu nhanh là tốt vì doanh nghiệp không phải đầu tư nhiều vào
khoản phải thu (không cấp tín dụng cho khách hàng)
Kỳ thu tiền bình quân =
360
Vßng quay c¸c kho¶n ph¶i thu
Trương Quỳnh Giao Lớp: Tài chính Doanh nghiệp 42
B
22
Luận văn tốt nghiệp
Chỉ tiêu này đo lường khả năng thu hồi vốn nhanh trong thanh toán, nó phản
vực trong hoạt động sản xuất kinh doanh buộc các doanh nghiệp phải tìm
cách thu hút khách hàng như tạo ra các ưu đãi, bán chịu, chính sách tiếp thị…
cũng như luôn luôn phải dự trữ một lượng tiền mặt, hàng tồn kho để chớp lấy
cơ hội khi cần thiết. Điều đó khiến chi phí của doanh nghiệp tăng lên đáng kể.
Do vậy, doanh nghiệp phải tìm biện pháp xử lý vốn thích hợp để tăng năng
suất, rút ngắn thời gian sản xuất nhằm tăng hiệu quả sử dụng vốn.
- Chính sách kinh tế vĩ mô: hệ thống pháp luật, chế độ chính sách…
của nhà nước tác động tới toàn bộ nền kinh tế nói chung cũng như toàn bộ
hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nói riêng, đặc biệt là tới
chiến lược dài hạn của doanh nghiệp.
1.3.1.3. Các nhân tố về khoa học kỹ thuật.
Sự phát triển của khoa học công nghệ không những làm thay đổi số
lượng, chất lượng hàng hoá mà theo đó nó làm phát sinh những nhu cầu mới
cũng như thủ tiêu một số nhu cầu cũ. Theo đó, yêu cầu của khách hàng đối
với hàng hóa, dịch vụ cũng ngày càng cao. Do vậy, doanh nghiệp phải điều
chỉnh hoạt động của mình cho phù hợp hơn với yêu cầu của thị trường. Ngoài
ra, nhân tố này còn ảnh hưởng đên tốc độ chu chuyển tiền mặt, khả năng rút
ngắn chu kỳ sản xuất, khả năng tiêu thụ hàng hóa… Thậm chí nó còn ảnh
hưởng tới hàng dự trữ như chống hao mòn, hư hại hoặc làm hàng dự trữ giảm
giá do lỗi thời… Với đà phát triển ngày càng cao của khoa học công nghệ, các
doanh nghiệp thường có xu hướng tăng tiền mặt, giảm tồn kho để có thể nắm
bắt kịp thời cơ hội kinh doanh.
1.3.1.4. Các nhân tố về chính trị, văn hóa, xã hội.
Cũng như các nhân tố trên, môi trường chính trị, văn hóa, xã hội có
mối quan hệ mật thiết, tác động qua lại với các nhân tố trên. Nhân tố này cũng
Trương Quỳnh Giao Lớp: Tài chính Doanh nghiệp 42
B
24
Luận văn tốt nghiệp
tác động trực tiếp đến nhu cầu người tiêu dùng và đặc biệt, nó có mối quan hệ