Nghiên cứu ảnh hưởng của nhân tố quyền sở hữu gia đình đến chính sách cổ tức và nợ bằng chứng thực nghiệm tại các công ty cổ phần việt nam - Pdf 50

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN THỊ THU THỦY

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA NHÂN TỐ QUYỀN
SỞ HỮU GIA ĐÌNH ĐẾN CHÍNH SÁCH CỔ TỨC VÀ
NỢ: BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM TẠI CÁC
CÔNG TY CỔ PHẦN VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP. Hồ Chí Minh - Năm 2017


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN THỊ THU THỦY

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA NHÂN TỐ
QUYỀN SỞ HỮU GIA ĐÌNH ĐẾN CHÍNH SÁCH CỔ
TỨC VÀ NỢ: BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM TẠI
CÁC CÔNG TY CỔ PHẦN VIỆT NAM

Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã số: 60340201

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

1.2.

Mục tiêu nghiên cứu ...................................................................................... 3

1.3.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ................................................................. 3

1.4.

Phương pháp nghiên cứu ............................................................................... 3

1.5.

Ý nghĩa của đề tài .......................................................................................... 4

1.6.

Bố cục luận văn ............................................................................................. 4

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN KHOA HỌC ..........................................................6
2.1. Cơ sở lý luận khoa học ..................................................................................... 6
2.1.1. Định nghĩa công ty gia đình .......................................................................6
2.1.2. Phân loại hình thức sở hữu công ty gia đình ..............................................6
2.1.3. Lý thuyết chi phí đại diện ...........................................................................7
2.2. Kết quả nghiên cứu thực nghiệm ...................................................................... 8
2.2.1. Các nghiên cứu thực nghiệm về việc hiện diện của công ty gia đình và
ảnh hưởng của quyền sở hữu gia đình lên kết quả hoạt động của công ty...........8
2.2.2. Các nghiên cứu thực nghiệm về ảnh hưởng của quyền sở hữu gia đình lên
chính sách cổ tức của công ty .............................................................................12

Bảng 4. 2 Kiểm định sự khác biệt giữa hai loại hình công ty ...................................29
Bảng 4. 3 Ma trận hệ số tương quan giữa các biến chính trong bài (N=1480) .........30
Bảng 4. 4 Kết quả của kiểm định Hausman của 4 phương trình ..............................33
Bảng 4. 5 Kết quả mô hình FEM của chính sách cổ tức, nợ, quyền sở hữu gia đình
(phương trình 1a và 2a) .............................................................................................33
Bảng 4. 6 Kết quả mô hình FEM của chính sách cổ tức, nợ, quyền kiểm soát gia
đình (phương trình 1b và 2b) ....................................................................................34
Bảng 4. 7 Kết quả kiểm định phương sai thay đổi của 4 phương trình ....................37
Bảng 4. 8 Kết quả kiểm định hiện tượng tự tương quan của 4 phương trình ...........38
Bảng 4. 9 Kết quả ước lượng GMM của biến chính sách cổ tức, nợ và quyền sở hữu
gia đình (phương trình 1a và 2a) ...............................................................................39
Bảng 4. 10 Kết quả ước lượng GMM của biến chính sách cổ tức, nợ và quyền kiểm
soát gia đình (phương trình 1b và 2b) ......................................................................42


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Chữ viết tắt

Tên đầy đủ

GMM

Generalized

method

of

moments

OLS

Ordianry Least Squares
Phương pháp ước lượng bình phương nhỏ nhất

HOSE

Sở Giao dịch Chứng khoán TP.HCM

HNX

Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội


1

TÓM TẮT
Trong bài nghiên cứu này, tác giả tiến hành nghiên cứu thực nghiệm ảnh
hưởng của quyền sở hữu gia lên chính sách cổ tức và ảnh hưởng của quyền sở hữu
gia đình lên nợ của công ty đó. Bài nghiên cứu sử dụng mô hình tác động cố định
(Fixed effects model) trên nền tảng kiểm định Hausman và phương pháp moment
tổng quát GMM của Arellano and Bond (1991) cho bộ dữ liệu bảng từ các doanh
nghiệp niêm yết trên Sàn giao dịch chứng khoán Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh
trong giai đoạn từ 2008 – 2015. Bài nghiên cứu rút ra được các phát hiện quan trọng
sau đây:
Thứ nhất, trên thực tế có sự ảnh hưởng của quyền kiểm soát gia đình lên
chính sách cổ tức và mức nợ của công ty. Mối quan hệ giữa quyền kiểm soát gia
đình lên chính sách cổ tức và nợ của công ty là mối quan hệ cùng chiều.
Thứ hai, chưa tìm thấy bằng chứng mối quan hệ giữa quyền sở hữu gia đình
lên chính sách cổ tức và nợ ở các công ty cổ phần tại Việt Nam.

doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ phần thành công bây giờ đều là xuất thân từ
những doanh nghiệp gia đình, chẳng hạn như công ty Tân Hiệp Phát, tập đoàn Kinh
Đô, Vingroup, Vinasun... Số lượng công ty gia đình niêm yết trên thị trường chứng
khoán ngày càng phổ biến. Chính vì tính chất sở hữu đặc biệt của các công ty gia
đình nên rất có thể các quyết định của công ty gia đình cũng sẽ bị ảnh hưởng. Từ
trước đến nay đã có nhiều nghiên cứu về mối quan hệ giữa quyền sở hữu gia đình
với chính sách cổ tức công ty như nghiên cứu của Setia-Atmaja (2009) kiểm định
mối quan hệ giữa các công ty gia đình và việc sử dụng cổ tức, nợ; Fama and French
(1998) nghiên cứu mối quan hệ công ty gia đình với cổ tức và nợ. Tuy nhiên tác giả
nhận thấy tại Việt Nam chưa có nhiều nghiên cứu về mối quan hệ công ty gia đình
và chính sách cổ tức cũng như nợ của công ty. Nhận thấy đây là một hướng nghiên
cứu còn bỏ ngỏ chính vì thế, tác giả đã chọn đề tài nghiên cứu “NGHIÊN CỨU
ẢNH HƯỞNG CỦA NHÂN TỐ QUYỀN SỞ HỮU GIA ĐÌNH ĐẾN CHÍNH


3

SÁCH CỔ TỨC VÀ NỢ: BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM TẠI CÁC CÔNG
TY CỔ PHẦN VIỆT NAM” nhằm kiểm tra những quyền sở hữu gia đình sẽ tác
động lên chính sách cổ tức và nợ ở những công ty cổ phần ở Việt Nam như thế nào.
Từ nghiên cứu này giúp cho các nhà đầu tư có một cái nhìn đúng đắn về các doanh
nghiệp gia đình tại Việt Nam và cân nhắc trước khi tiến hành đầu tư vào cổ phiếu
của loại hình công ty này.
1.2.

Mục tiêu nghiên cứu
Bài nghiên cứu này nhằm mục tiêu tìm hiểu mối quan hệ giữa sở hữu gia

đình có tác động hay không và tác động như thế nào đến chính sách cổ tức và chính
sách tài trợ của công ty cổ phần phi tài chính được niêm yết trên sàn chứng khoán

1.5.

Ý nghĩa của đề tài
Đầu tiên đó là tính mới trong bài nghiên cứu này là nghiên cứu mối quan hệ

giữa quyền sở hữu gia đình trong công ty với chính sách cổ tức và nợ, khía cạnh này
còn khá ít nghiên cứu được thực hiện tại Việt Nam. Thứ hai, bài nghiên cứu này đưa
ra các bằng chứng khách quan giữa mối quan hệ sở hữu gia đình trong công ty có
ảnh hưởng hay không đến chính sách cổ tức và nợ của công ty cổ phần tại Việt
Nam. Tác động này là cùng chiều hay ngược chiều. Từ đó, sẽ cho có cái nhìn đúng
đắn hơn về các công ty gia đình ở Việt Nam có giống như xu hướng của các công ty
gia đình trên thế giới hay không đồng thời cung cấp cho các nhà đầu tư cái nhìn
nhận tổng quát về các công ty gia đình của Việt Nam trước khi chính thức quyết
định đầu tư vào cổ phiếu của công ty đó.
1.6.

Bố cục luận văn
Nội dung chính của luận văn bao gồm 5 chương, được trình bày cụ thể theo

trình tự sau:
Chương 1: Giới thiệu đề tài.
Trong chương này, tác giả sẽ làm rõ lý do chọn đề tài nghiên cứu, mục tiêu
nghiên cứu, các vấn đề cần nghiên cứu đồng thời giới thiệu tổng quan về phương
pháp nghiên cứu và ý nghĩa khi thực hiện đề tài.
Chương 2: Cơ sở lý luận khoa học
Trong chương này, tác giả sẽ tổng hợp cơ sở lý luận khoa học, những nghiên
cứu thực nghiệm trên thế giới về việc hiện diện của công ty gia đình, ảnh hưởng của
quyền sở hữu gia đình lên kết quả hoạt động kinh doanh, ảnh hưởng của quyền sở
hữu gia đình lên chính sách cổ tức và nợ của công ty. Từ các nghiên cứu trước đây


viên trong gia đình, gia tộc nắm phần lớn vốn điều lệ, tài sản và quyền quản trị, điều
hành công ty. Có những công ty do một gia tộc nắm 100%. Một số công ty khác gia
tộc đó nắm giữ cổ phần chi phối theo luật của nước sở tại. Các công ty gia đình khá
phổ biến ở châu Á. Các công ty, kể cả tập đoàn xuyên quốc gia lớn
như Samsung đều cha truyền con nối. Châu Âu ít có các công ty gia đình hơn.
Theo nghiên cứu của Faccio and Lang (2002) và Kusnadi (2011) đã định
nghĩa công ty gia đình là công ty có tổng tỷ lệ phần trăm sở hữu vốn của các cổ
đông có mối quan hệ gia đình vượt quá 20% tổng số vốn.
Trong nghiên cứu này, tác giả sẽ sử dụng định nghĩa của Faccio and Lang
(2002) và Kusnadi (2011) để phân loại hình thức sở hữu của các công ty cổ phần
Việt Nam được niêm yết trên HOSE và HNX.
2.1.2. Phân loại hình thức sở hữu công ty gia đình
Trong nghiên cứu của Faccio, M., and Lang, L.H.P. (2002), tác giả đã phân
loại loại hình sở hữu cuối cùng của công ty gia đình thành 6 loại:
-

Gia đình: 1 gia đình (bao gồm 1 cá nhân) hoặc 1 doanh nghiệp không được niêm yết
trên bất kỳ sàn chứng khoán.

-

Định chế tài chính lớn: một công ty tài chính lớn được kiểm soát ở một ngưỡng nhất
định.

-

Nhà nước: Một chính phủ quốc gia (trong nước hoặc nước ngoài), chính quyền địa
phương (hạt, đô thị, vv), hoặc cơ quan chính phủ.

-

trường vốn bên ngoài và do đó có thêm nhiều sự giám sát. Lập luận của Larpota et
al., (2000) cho rằng chi trả cổ tức có thể giảm vấn đề chi phí đại diện vì nhà quản lý
buộc phải tạo tiền mặt đủ để chi trả cổ tức, nhà quản lý buộc phải tiếp cận thị trường
vốn bên ngoài để tài trợ cho các dự án và do đó họ sẽ phải cung cấp ra thị trường
nhiều thông tin nội bộ hơn, dòng tiền tự do sẽ giảm và sẽ không bị sử dụng lãng phí.
Theo nghiên cứu của Jensen (1986) cho rằng chi trả cổ tức được sử dụng làm
công cụ trung hòa mâu thuẫn giữa những người quản lý và các cổ đông vì các nhà
quản trị muốn giữ lại nguồn lực tài chính thay vì chi trả cổ tức cho các cổ đông. Nhà
quản lý ưa thích giữ lại lợi nhuận để thực hiện chiến lược tăng trưởng công ty do sự
lớn mạnh của công ty sẽ cho họ nhiều quyền lực hơn trong việc kiểm soát các


8

nguồn lực. Mặt khác, các cổ đông lại thích chi trả cổ tức hơn giữ lại lợi nhuận. Nếu
lợi nhuận không được chi trả cho các cổ đông dưới hình thức cổ tức, người quản lý
có thể thay đổi mục tiêu hướng các chính sách phục vụ cho lợi ích của họ hoặc đầu
tư nguồn lực vào những dự án không sinh lợi. Với những nguyên do trên, khi mâu
thuẫn lợi ích xảy ra giữa các bên, nó có thể được giải quyết thông qua chính sách
chi trả cổ tức.
Theo Jensen (1986) và Farinha (2003) chính sách cổ tức dùng để giảm lượng
tiền mặt có sẵn tương tự như vậy nợ cũng là một công cụ khác để giảm lượng tiền
mặt tuy nhiên nó cần được cân nhắc kỹ trước khi sử dụng. Theo Agrawal and
Knoeber (1996) nợ cũng là một phương pháp khác để làm giảm bớt vấn đề đại diện
chi phí bởi vì nó được giám sát bởi các chủ nợ. Cổ tức và nợ là 2 phương pháp thay
thế lẫn nhau trong việc quản trị doanh nghiệp.
2.2. Kết quả nghiên cứu thực nghiệm
2.2.1. Các nghiên cứu thực nghiệm về việc hiện diện của công ty gia đình và
ảnh hưởng của quyền sở hữu gia đình lên kết quả hoạt động của công ty
Sự tham gia của các gia đình trong các doanh nghiệp là rất phổ biến ở châu

nghiên cứu này. Đa phần các công ty tài chính lớn chủ yếu là các công ty đại chúng,
trong khi các công ty phi tài chính nhỏ là các công ty gia đình. (Faccio, M., and
Lang, L.H.P, 2002).
Tại khu vực Đông Nam Á, các công ty đại chúng là thiểu số, cơ cấu sở hữu
chủ yếu là kiểm soát bởi một gia đình, mà thường là một giám đốc đứng đầu
(Faccio et al., 2001).
Qua các nghiên cứu thực nghiệm trên cho thấy mặc dù có thể có sự khác biệt
giữa các vùng lãnh thổ, các quốc gia nhưng loại hình công ty gia đình xuất hiện
phổ biến và ở khá nhiều nơi trên thế giới từ Châu Á, Châu Âu, Châu Mỹ.
Trong bài nghiên cứu The role of family in family firms của Bertrand, M.,
and Schoar, A. thực hiện năm 2006, tác giả đã tập trung vào sức mạnh của mối quan
hệ gia đình như một nguồn gốc của sự khác biệt văn hoá giữa các quốc gia. Sự khác
biệt khác có liên quan đến gia đình sẽ là sự khác nhau về cấu trúc thừa kế hoặc các
chuẩn mực về hôn nhân như đa thê, có thể ảnh hưởng đến tuổi thọ và sự gắn kết của


10

các công ty gia đình. Sau khi thực hiện các nghiên cứu thực nghiệm, tác giả đã đưa
ra kết luận rằng giá trị gia đình có thể đóng một vai trò quan trọng trong việc định
hình cách thức tổ chức của doanh nghiệp và hiệu quả hoạt động của chúng.
Trong bài nghiên cứu Founding family ownership and earnings quality của
Wang, D. thực hiện năm 2006 đã thực hiện nghiên cứu sử dụng dữ liệu từ 500 công
ty S&P 500 trong khoảng thời gian 1994-2002 để điều tra mối liên hệ giữa việc
thành lập quyền sở hữu của gia đình và chất lượng thu nhập. Các kết quả thực
nghiệm cho thấy rằng, gia đình sáng lập sở hữu công ty có liên quan đến chất
lượng thu nhập cao hơn. Ngoài ra, kết quả cho thấy một mối quan hệ phi tuyến giữa
sở hữu gia đình và chất lượng thu nhập
Trong bài nghiên cứu The separation of ownership and control in East Asian
corporations của tác giả Claessens, S., Djankov, S., and Lang, L.H.P. thực hiện năm

kết quả của bài nghiên cứu là không phù hợp với giả thuyết rằng các cổ đông thiểu
số bị ảnh hưởng bất lợi bởi quyền sở hữu gia đình, bài nghiên cứu cho thấy rằng
quyền sở hữu của gia đình là một cơ cấu tổ chức có hiệu quả.
Trong bài nghiên cứu Large shareholders and firm performance – An
empirical examination of founding-family ownership của Andres, C. thực hiện
năm 2008, tác giả đã giải quyết vấn đề bằng cách sử dụng dữ liệu bảng chi tiết của
275 công ty niêm yết Đức 1998-2004. Các doanh nghiệp gia đình chiếm tới 37,5%
của mẫu. Tác giả đã sử dụng hồi quy OLS để kiểm tra mối quan hệ giữa quyền sở
hữu thành lập gia đình, và hiệu suất công ty. Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng các
công ty gia đình không chỉ có lợi nhuận nhiều hơn các công ty đại chúng mà còn
các công ty làm tốt hơn các loại hình công ty có cổ đông lớn. Tuy nhiên, hiệu suất
của các doanh nghiệp gia đình là chỉ tốt hơn trong các công ty, trong đó gia đình
sáng lập vẫn còn hoạt động trong ban điều hành hoặc ban giám sát. Những phát hiện
này cho thấy rằng quyền sở hữu gia đình có liên quan đến hiệu suất công ty vượt
trội trong những điều kiện nhất định. Nếu gia đình chỉ là các cổ đông lớn mà không
có đại diện trong hội đồng quản trị thì hiệu suất của các công ty không khác với các
công ty khác.


12

Qua các nghiên cứu trên ta có thể thấy rằng trên nhiều nền kinh tế khác
nhau đều cho thấy loại hình công ty gia đình hoạt động hiệu quả hơn so với các loại
hình công ty khác.
2.2.2. Các nghiên cứu thực nghiệm về ảnh hưởng của quyền sở hữu gia đình
lên chính sách cổ tức của công ty
Trong bài nghiên cứu Dividend policy, corporate governance and managerial
entrenchment hypothesis: An empirical analysis. của Farinha, J. thực hiện năm
2003, tác giả cung cấp một phân tích thực nghiệm về giải thích lý thuyết chi phí đại
diện đối với việc phân chia chi trả cổ tức tại Anh. Quan điểm này khẳng định rằng

ngân hàng không có hiệu quả như vậy.
Trong bài nghiên cứu Pay-out policies in founding family firms của
Isakov, D., and Weisskopf, J.P. hiện năm 2015, tác giả đã phân tích gia đình
sáng lập về chính sách trả tiền cho các tập đoàn niêm yết của Thụy Sĩ trong giai
đoạn 2003-2010. Bài nghiên cứu này cung cấp bằng chứng mới về các quyết định
tài chính của các gia đình. Bài viết kiểm tra các chính sách chi trả của gia đình sáng
lập và đưa ra những hiểu biết sâu sắc mới về mối quan hệ giữa kiểm soát cổ đông và
chính sách chi trả. Kết quả của chúng tôi cho thấy rằng các công ty gia đình sáng
lập có tỷ lệ trả cổ tức cao hơn đáng kể so với các công ty có quyền sở hữu khác.
Chúng tôi cũng kiểm tra đặc điểm gia đình cụ thể và tài liệu rằng cổ phần của gia
đình, sự tham gia tích cực và thế hệ đóng một vai trò quan trọng trong việc xác định
chính sách trả tiền.
Trong bài nghiên cứu Dividends and expropriation của Faccio, M., Lang,
L.H.P., and Young L. thực hiện năm 2001, cung cấp một phân tích toàn diện về
quyền sở hữu và kiểm soát cấu trúc của các tập đoàn Đông Á, với điểm chuẩn là các
tập đoàn Tây Âu. Bài nghiên cứu được dựa trên 5897 công ty tài chính và phi tài
chính, trong đó có nhiều kích thước trung bình và nhỏ. Bài viết sử dụng phương
pháp hồi quy OLS để kiểm tra mức độ tác động đến cổ tức. Bằng cách kiểm tra
hành vi cổ tức có liên quan đến cơ cấu sở hữu và kiểm soát, tác giả đã tìm thấy
bằng chứng về tước quyền sở hữu có hệ thống của các cổ đông bên ngoài của các


14

tập đoàn công ty có cấu trúc kim tự tháp lớn. Cổ tức đóng một vai trò cơ bản trong
việc hạn chế tước quyền sở hữu nội bộ vì chúng loại bỏ sự giàu có của công ty từ
việc kiểm soát nội bộ. Nếu tăng tỷ lệ chi trả cổ tức thì mâu thuẫn đại diện ở công ty
cổ phần sẽ giảm thiểu đi.
Trong bài nghiên cứu Family involvement and dividend policy in closely
held firms của González, M., Guzmán, A., Pombo, C., and Trujillo, M. thực hiện

Singapore, Đài Loan, Thái Lan) giai đoạn từ 2006-2010. Kết quả tìm thấy bằng
chứng mạnh rằng có mối quan hệ ngược chiều sự kiểm soát gia đình với chính sách
cổ tức. Công ty gia đình ít tăng cổ tức hơn các công ty không có sở hữu bởi gia
đình. Mối liên hệ ngược chiều giữa các công ty gia đình và chính sách cổ tức là rõ
rệt hơn trong cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu gần đây, cho thấy rằng các gia
đình kiểm soát có động lực để tước quyền sở hữu công ty trong khủng hoảng hơn
nhiều hơn so với bình thường.
Nghiên cứu Ownership concentration, firm performance, and dividend policy
in Hong Kong của Chen, Z., Cheung, Y., Stouraitis, A., and Wong, A.W.S. (2005)
phân tích mẫu 412 công ty được niêm yết ở Sở giao dịch chứng khoán Hồng Kông
(SEHK) từ năm 1995-1998. Tác giả cũng tìm thấy ít mối quan hệ giữa quyền sở
hữu và gia đình chính sách cổ tức. Chỉ cho các công ty nhỏ có một mối quan hệ
ngược chiều giữa chính sách cổ tức và mối quan hệ sở hữu gia đình với tỷ lệ sở hữu
tối đa 10% số cổ phần công ty và một mối quan hệ cùng chiều đối với tỷ lệ sở hữu
gia đình từ 10 đến 35%.
Nhìn chung, các nghiên cứu nêu trên các tác giả đều cho ra kết quả nghiên
cứu đó là quyền kiểm soát gia đình trong công ty và chính sách cổ tức có mối quan
hệ với nhau. Tùy theo mỗi nghiên cứu được tiến hành ở các nước, khu vực khác
nhau, có tác giả tìm thấy bằng chứng có mối quan hệ cùng chiều, có tác giả tìm
thấy bằng chứng lúc có mối quan hệ vừa cùng chiều vừa ngược chiều tùy thuộc vào
tỷ lệ sở hữu gia đình, có lúc mối quan hệ ngược chiều, hoặc tìm thấy bằng chứng ít
có quan hệ. Điều này có thể khẳng định rằng quyền kiểm soát gia đình là yếu tố có
ảnh hưởng đến chính sách cổ tức. Tuy nhiên chưa thể kết luận được nó là mối quan
hệ ngược chiều hay cùng chiều.


16

2.2.2. Các nghiên cứu thực nghiệm về ảnh hưởng của quyền sở hữu gia đình
lên nợ của công ty


chứng thực nghiệm thấy rằng quyền sở hữu nội bộ và các quyết định tài chính công
ty phụ thuộc lẫn nhau. Các phân tích ở bài này sử dụng phương pháp bình phương
tối thiểu ba giai đoạn (3SLS) trong việc kiểm tra mối quan hệ giữa các quyết định
nợ, cổ tức và quyền sở hữu nội bộ của một công ty. Cách tiếp cận 3SLS cho phép sự
phụ thuộc lẫn nhau của các quyết định công ty, trong khi kiểm soát các hiệu ứng
đặc trưng doanh nghiệp khác có thể có trên những quyết định này. Các kết quả ủng
hộ giả thiết rằng các quyết định tài chính và mức độ sở hữu nội bộ phụ thuộc lẫn
nhau. Cụ thể, mức độ sở hữu nội bộ có ảnh hưởng ngược chiều đến nợ và cổ tức
của một công ty. Quyền sở hữu nội bộ có liên quan đến các biến đại diện cho lợi ích
của cải từ các tiềm năng kiểm soát của công ty. Các kết quả cho thấy rằng chi phí
đại diện và chi phí phá sản cũng ảnh hưởng đến các quyết định tài chính của một
công ty.
Trong bài nghiên cứu Corporate capital structure, agency costs, and
ownership control: The case of all-equity firms của Agrawal, A., and Nagarajan,
N.J. thực hiện năm 1990, tác giả so sánh tài chính, quản lý, và các đặc quyền sở hữu
của một mẫu của công ty công khai tất cả các công ty cổ phần và một mẫu kiểm
soát của các công ty có vay nợ. Bài nghiên cứu thu thập dữ liệu của 104 công ty
không sử dụng nợ dài hạn trong suốt 5 năm (1979-1983). Tác giả đã chỉ ra rằng tất
cả công ty toàn là vốn chủ sở hữu nắm giữ cổ phiếu có mối quan hệ gia đình sâu
rộng hơn giữa các quản lý hàng đầu thì tính thanh khoản cao hơn so các công ty có
vay nợ. Hơn nữa, các giám đốc của công ty có mối quan hệ gia đình có quyền kiểm
soát biểu quyết lớn hơn của công ty so với các giám đốc công ty không có sự tham
gia của gia đình. Những phát hiện này phù hợp với việc giải thích rằng kiểm soát
quản lý của quyền biểu quyết và các mối quan hệ gia đình giữa các nhà quản lý cấp
cao là những yếu tố quan trọng trong quyết định để loại bỏ đòn bẩy.
Các nghiên cứu trước đây cũng chỉ ra rằng quyền sở hữu gia đình có ảnh
hưởng lên chính sách nợ tuy nhiên có lúc cùng chiều có lúc ngược chiều. do đó,
chưa thể kết luận được rằng quyền sở hữu gia đình ảnh hưởng cùng hay ngược
chiều lên nợ của công ty đó.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status