BỘ Y TẾ
TRƢỜNG ĐẠI HỌC DƢỢC HÀ NỘI
PHẠM THỊ HẢI
KHẢO SÁT VIỆC SỬ DỤNG
DỊCH TRUYỀN DINH DƢỠNG TĨNH MẠCH
TRÊN TRẺ SƠ SINH
Ở BỆNH VIỆN PHỤ SẢN TRUNG ƢƠNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP DƢỢC SĨ
HÀ NỘI – 2018
BỘ Y TẾ
TRƢỜNG ĐẠI HỌC DƢỢC HÀ NỘI
PHẠM THỊ HẢI
Mã sinh viên: 1301120
KHẢO SÁT VIỆC SỬ DỤNG
DỊCH TRUYỀN DINH DƢỠNG TĨNH MẠCH
TRÊN TRẺ SƠ SINH
Ở BỆNH VIỆN PHỤ SẢN TRUNG ƢƠNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP DƢỢC SĨ
Người hướng dẫn:
1. ThS. Cao Thị Bích Thảo
2. ThS. Nguyễn Huy Tuấn
Nơi thực hiện:
Phạm Thị Hải
MỤC LỤC
Lời cảm ơn
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC BẢNG
ĐẶT VẤN ĐỀ................................................................................................................1
CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN ........................................................................................ 2
1.1.
Khái niệm về dinh dƣỡng tĩnh mạch..............................................................2
1.1.1.
Định nghĩa, vai trò của nuôi dưỡng ................................................................... 2
1.1.2.
Các hình thức nuôi dưỡng ................................................................................. 2
1.1.3.
Định nghĩa dinh dưỡng tĩnh mạch ..................................................................... 2
1.1.4.
Mục đích của dinh dưỡng tĩnh mạch ................................................................. 3
1.1.5.
1.2.6.
Vitamin .............................................................................................................. 8
1.2.7.
Nước .................................................................................................................. 8
1.3.
Nhu cầu nuôi dƣỡng ở trẻ sơ sinh...................................................................9
1.3.1.
Đặc điểm sinh lý của trẻ sơ sinh ........................................................................ 9
1.3.2.
Nhu cầu dịch .................................................................................................... 10
1.3.3.
Nhu cầu năng lượng ........................................................................................ 10
1.3.4.
Nhu cầu glucid ................................................................................................. 11
1.3.5.
Theo dõi bệnh nhân trong và sau khi nuôi dƣỡng tĩnh mạch ....................15
1.5.1.
Biến chứng trong quá trình nuôi dưỡng tĩnh mạch ......................................... 15
1.5.2.
Các chỉ số cần theo dõi trong quá trình nuôi dưỡng tĩnh mạch....................... 15
1.6.
Các nghiên cứu về nuôi dƣỡng tĩnh mạch trên trẻ sơ sinh ........................15
1.7.
Phác đồ nuôi dƣỡng tĩnh mạch sơ sinh của Bệnh viện Phụ sản Trung
ƣơng..............................................................................................................................16
CHƢƠNG 2. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ...................... 17
2.1.
Đối tƣợng nghiên cứu ....................................................................................17
2.1.1.
Tiêu chuẩn lựa chọn ........................................................................................ 17
2.1.2.
CHƢƠNG 3. KẾT QUẢ ............................................................................................ 24
3.1.
Đặc điểm của trẻ sơ sinh sử dụng dịch truyền dinh dƣỡng tĩnh mạch .....24
3.1.1.
Đặc điểm chung của bệnh nhân ....................................................................... 24
3.1.2.
Đặc điểm về thời gian nuôi dưỡng đường tĩnh mạch ...................................... 24
3.1.3.
Đặc điểm về bệnh lý của bệnh nhân ................................................................ 25
3.1.4.
Đặc điểm về chăm sóc và lâm sàng ................................................................. 26
3.2.
Đặc điểm sử dụng dịch truyền dinh dƣỡng tĩnh mạch ...............................26
3.2.1.
Đặc điểm về lựa chọn dịch truyền dinh dưỡng ............................................... 26
3.2.2.
4.2.
Đặc điểm sử dụng dịch truyền dinh dƣỡng tĩnh mạch ...............................37
4.3.
Một số khó khăn và hạn chế khi thực hiện nghiên cứu ..............................43
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ .................................................................................... 45
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng
Trang
ảng
Phân loại acid amin .........................................................................................5
ảng
Nhu cầu điện giải ở trẻ sơ sinh......................................................................13
ảng
Nội dung thu thập thông tin trên bệnh nhân .................................................18
Đặc điểm về chăm sóc và lâm sàng ..............................................................26
ảng 3
Các loại dịch truyền dinh dưỡng được sử dụng ............................................27
ảng 3
Công thức dinh dưỡng tĩnh mạch..................................................................27
ảng 3
Tổng thể tích dịch nuôi dưỡng theo từng giai đoạn ......................................28
ảng 3
Năng lượng từ dịch nuôi dưỡng theo từng giai đoạn ....................................29
ảng 3
Năng lượng từng thành phần dinh dưỡng ...................................................29
ảng 3.11. Tỷ lệ năng lượng từng thành phần trong dịch nuôi dưỡng .........................30
ảng 3
Năng lượng từ dịch truyền dinh dưỡng .......................................................31
ảng 3 3 Hàm lượng các thành phần dinh dưỡng trong dịch nuôi dưỡng .................32
ảng 3
nặng không thể hoặc không cung cấp đủ dinh dưỡng qua đường tiêu hóa [16], [17],
[44]. Ở trẻ sơ sinh, dinh dưỡng tĩnh mạch được áp dụng cho trẻ sinh non tháng do
không thể đáp ứng đủ nhu cầu dưỡng chất và năng lượng bằng chế độ ăn bình thường
và/hoặc trẻ có tình trạng bệnh lý đặc biệt như dị tật bẩm sinh hay tổn thương đường
tiêu hóa [2], [14]. Dinh dưỡng tĩnh mạch đã được chứng minh giúp nâng cao chất
lượng điều trị, giảm tỷ lệ biến chứng và rút ngắn thời gian nằm viện cho các đối tượng
bệnh nhân này [6], [12], [21].
Tuy nhiên, các nghiên cứu cho thấy bệnh nhân được sử dụng dịch truyền dinh
dưỡng tĩnh mạch có nguy cơ gặp một số biến chứng trên lâm sàng như các biến chứng
nhiễm trùng, biến chứng chuyển hóa làm giảm sức đề kháng, mất cân bằng điện giải
ảnh hưởng đến các quá trình hoạt động sinh lý của trẻ [23], [42], [44], [49] Vì vậy,
việc cung cấp một chế độ chăm sóc dinh dưỡng tĩnh mạch để đáp ứng nhu cầu năng
lượng và đảm bảo an toàn cho trẻ sơ sinh là điều vô cùng cần thiết.
Ở Bệnh viện Phụ sản Trung ương, phương pháp dinh dưỡng tĩnh mạch trên trẻ sơ
sinh đã được áp dụng tại Trung tâm Chăm sóc và Điều trị sơ sinh từ trước những năm
2000. Bệnh viện đã ban hành các phác đồ nuôi dưỡng tĩnh mạch trên trẻ sơ sinh, trong
đó có Phác đồ nuôi dưỡng tĩnh mạch sơ sinh ban hành năm
[4] để tối ưu hóa việc
nuôi dưỡng trẻ sơ sinh non tháng và/hoặc có các tình trạng bệnh lý đặc biệt Tuy nhiên
cho đến nay, Bệnh viện vẫn chưa có tổng kết nào về việc nuôi dưỡng tĩnh mạch trên
đối tượng đặc biệt này.
Chính vì lý do trên chúng tôi thực hiện đề tài “Khảo sát việc sử dụng dịch
truyền dinh dưỡng tĩnh mạch trên trẻ sơ sinh ở Bệnh viện Phụ sản Trung ương” với
hai mục tiêu sau:
1. Khảo sát đặc điểm của trẻ sơ sinh sử dụng dịch truyền dinh dưỡng tĩnh mạch
điều trị tại Trung tâm Chăm sóc và Điều trị sơ sinh của Bệnh viện Phụ sản
Trung ương
2. Khảo sát đặc điểm sử dụng dịch truyền dinh dưỡng tĩnh mạch trên trẻ sơ sinh
tĩnh mạch ngoại vi [23].
1.1.3. Định nghĩa dinh dưỡng tĩnh mạch
Dinh dưỡng tĩnh mạch (hay nuôi dưỡng tĩnh mạch) là việc đưa các chất dinh
dưỡng cần thiết và phù hợp qua đường tĩnh mạch vào máu để nuôi dưỡng cơ thể Các
chất dinh dưỡng bao gồm glucid, protid, lipid, nước, muối khoáng, các chất vi lượng
và vitamin [1], [2], [6], [8]. Có thể phân loại dinh dưỡng tĩnh mạch thành dinh dưỡng
tĩnh mạch hoàn toàn và dinh dưỡng tĩnh mạch một phần [2]. Dinh dưỡng tĩnh mạch
hoàn toàn khi năng lượng cung cấp từ dịch truyền ≥ 75% tổng năng lượng tiêu thụ và
dinh dưỡng tĩnh mạch một phần là năng lượng cung cấp từ dịch truyền
các chất còn lại như chất điện giải, yếu tố vi lượng, vitamin và nước [1], [42], [45].
Các yêu cầu đối với thành phần nuôi dưỡng tĩnh mạch trên trẻ sơ sinh là rất cụ thể và
phụ thuộc vào cân nặng, tuổi và tình trạng bệnh của trẻ [42].
1.2.1. Glucid
Glucid là nguồn cung cấp năng lượng chủ yếu trong dịch truyền dinh dưỡng tĩnh
mạch, trong đó glucid thường được dùng là glucose ngoài ra sorbitol, frutose và
levulose ít gặp hơn [42] Vì vậy, glucose là nguồn cung cấp glucid chính trong thành
phần dinh dưỡng tĩnh mạch cho đến nay [33], bởi lẽ, glucose được chuyển hóa bởi tất
cả các tế bào trong cơ thể và là một dưỡng chất thiết yếu cho các mô thần kinh trung
ương, hồng cầu và vỏ thận. Về chức năng của glucose đối với cơ thể sống, chúng tham
gia tạo hình, bảo vệ cơ thể và là nguồn cung cấp năng lượng chính cho cơ thể [9], [10].
Glucose chiếm 40 – 50% tổng nhu cầu năng lượng, tuy nhiên còn phụ thuộc vào mức
độ nghiêm trọng của bệnh, nhu cầu calo và khả năng dung nạp của bệnh nhân [8].
Nuôi dưỡng glucose qua đường tĩnh mạch có thể xuất hiện một số tác dụng
không mong muốn như trên bệnh nhân suy giảm chức năng thận, nếu truyền dung dịch
glucose đẳng trương quá liều hoặc tốc độ truyền quá nhanh có thể gây ứ nước, lợi tiểu
thẩm thấu; dung dịch ưu trương nếu truyền ngoài mạch có thể gây hoại tử mô; gây
giảm kali và natri trong máu; gây hạ đường huyết nếu ngừng đột ngột sau một thời
gian truyền kéo dài [6], [23] Đồng thời, khi chuẩn bị dịch truyền glucose cho trẻ sơ
sinh, cần lưu ý glucose là nguồn cung cấp glucid dễ đồng hóa, rẻ tiền nhưng năng
lượng cung cấp từ glucose thường không đủ đáp ứng nhu cầu chuyển hóa, do đó trong
quá trình nuôi dưỡng tĩnh mạch phải dùng glucose ưu trương [6]. Khi sử dụng nhiều
glucose, cơ thể tăng sản xuất CO2 do quá trình oxy hóa glucose dẫn đến không dung
nạp glucid và gây ra tăng đường máu do phát sinh tình trạng kháng insulin; tăng tạo
lipid gây ra gan nhiễm mỡ [42], [28], [39] Vì vậy cần sử dụng glucose một cách tối ưu
bằng cách không vượt quá khả năng oxy hóa glucose, đảm bảo nồng độ glucose trong
máu bình thường và hạn chế tối thiểu việc tạo mỡ bằng cách sử dụng hỗn hợp glucose
và lipid [23].
4
Alanin
Leucin
Histidin
Asparagin
Lysin
Pralin
Ornithin
Methionin
Tyrosin
Acid glutamic
Phenylalanin
Cystein
Glycin
Threonin
Taurin
% tổng nhu cầu năng lượng [2], [3]. Trong
nuôi dưỡng tĩnh mạch, phải có một lượng chất béo để đáp ứng ít nhất 5% tổng năng
lượng của cơ thể đòi hỏi trong một tuần vì nếu nguồn năng lượng chỉ lấy từ glucose
bằng cách truyền liên tục, cơ thể sẽ phản ứng lại bằng cách ức chế việc giải phóng chất
béo, gây thiếu acid béo cần thiết với các triệu chứng như khô da, tăng tính thấm thành
mạch, vết thương chậm lành, giảm sức đề kháng, tăng khả năng nhiễm khuẩn, giảm
tiểu cầu [6].
Việc sử dụng nhũ dịch lipid không gây kích ứng tĩnh mạch, cung cấp được nhiều
năng lượng và các acid béo cần thiết Nhũ dịch lipid ở đây là các chất mang một nguồn
năng lượng không phải protein nghĩa là chất béo và vitamin tan trong dầu [42]. Có hai
loại nhũ dịch lipid hay dùng là
% và 20%. Theo khuyến cáo nên dùng loại nhũ dịch
lipid 20% do hạn chế lượng dịch đưa vào cơ thể, giảm độ thanh thải, tiết kiệm chi phí
Có thể pha nhũ dịch lipid vào trực tiếp dịch truyền nuôi dưỡng tĩnh mạch qua hệ thống
AIO (All in one) hoặc sử dụng bằng cách truyền qua nhánh chữ Y bao gồm hỗn hợp
dung dịch các chất acid amin, glucose, điện giải,…ở một nhánh và nhũ dịch lipid
truyền riêng ở nhánh thứ hai [28].
Khi nuôi dưỡng lipid qua đường tĩnh mạch có thể gặp một số tác dụng không
mong muốn như toát mồ hôi, đau đầu, ớn lạnh, mệt mỏi, nổi ban da; khi điều trị kéo
dài có thể bị tăng nhẹ phosphatase – kiềm, transaminase, bilirubin trong máu, giảm
tiểu cầu vừa phải ở người lớn và trầm trọng ở trẻ em; có một số trường hợp bị to gan
và vàng da [6]. Chống chỉ định truyền lipid trên bệnh nhân tăng lipid máu nặng; suy
6
gan trầm trọng; viêm tụy cấp tính có kèm tăng lipid máu hay dị ứng với lecithin của
trứng [1].
7
1.2.6. Vitamin
Vitamin được chia thành hai loại có vai trò cần thiết đối với cơ thể là vitamin tan
trong dầu bao gồm vitamin A, D, E, K và vitamin tan trong nước bao gồm vitamin B1,
B2, B3, B5, B6, B9, B12, C, acid folic, biotin [6]. Về chức năng sinh học của vitamin,
chúng tham gia cấu tạo enzym xúc tác cho phản ứng chuyển hóa của cơ thể như
vitamin B1 là coezym của enzym chuyển hóa glucid, vitamin
6
là coenzym của
enzym chuyển hóa acid amin; góp phần tăng sức đề kháng; có tác dụng chống oxy
hóa; bảo vệ tế bào thần kinh từ đó tham gia bảo vệ cơ thể; đồng thời có vai trò tác
động qua lại với các hormon như vitamin C với hormon tuyến thượng thận, vitamin A
với hormon tuyến giáp, vitamin nhóm
với hormon sinh dục [9], [10]
ên cạnh đó,
các vitamin có tác động qua lại với nhau do đó khi thừa hay thiếu một vitamin nào đó
sẽ kéo theo thừa hoặc thiếu các vitamin khác và gây bệnh cho cơ thể ví dụ thiếu
vitamin B12, cơ thể sẽ không tổng hợp được acid folic gây ra bệnh thiếu máu [55].
Vitamin thường có sẵn trong thực phẩm, do đó ở người khỏe mạnh có chế độ ăn
uống cân đối thì không cần bổ sung vitamin. Nhưng trong dinh dưỡng tĩnh mạch kéo
dài, việc bổ sung vitamin là bắt buộc nếu không sẽ gây rối loạn nghiêm trọng đối với
cơ thể. Liều dùng của vitamin không được xác định rõ ràng nhưng với quá trình nuôi
sinh non [35], [43]. Tỷ lệ này lớn hơn nhiều so với người lớn do tốc độ chuyển hóa
mạnh, cơ thể phải đào thải nhiều chất cặn bã trong quá trình chuyển hóa do sự tăng
trưởng nhanh và sự cô đặc nước tiểu ở thận kém nên lượng dịch trong cơ thể/kg cân
nặng của trẻ cao hơn của người lớn [24], [35].
ên cạnh đó, nhu cầu năng lượng và
nhu cầu dinh dưỡng ở trẻ sơ sinh là cao nhất, nhu cầu năng lượng theo kg cân nặng
gấp 3 lần ở người trưởng thành do khả năng dự trữ chất dinh dưỡng trong cơ thể trẻ rất
thấp, tăng quá trình chuyển hóa để thúc đẩy sự sinh trưởng và phát triển. Do nguồn dự
trữ nội sinh của các cơ chất cần thiết rất ít ỏi nên chức năng sinh lý và hệ enzym
chuyển hóa ở trẻ chưa phát triển, đồng thời khả năng chuyển hóa chuyên biệt chưa
hoàn thiện nên những chất thiết yếu ở trẻ sơ sinh lại là chất không thiết yếu đối với
người trưởng thành. Hơn nữa, một số cơ quan của trẻ sơ sinh vẫn chưa phát triển toàn
diện như não, cơ, xương nên việc cung cấp dưỡng chất theo đúng nhu cầu cho trẻ là
cực kì quan trọng Trong giai đoạn sơ sinh, não chiếm 14% trọng lượng cơ thể trong
khi ở người lớn chiếm 2% nên đòi hỏi nhu cầu chuyển hóa cao trong suốt giai đoạn
này nhằm thúc đẩy quá trình phát triển của hệ thống thần kinh trung ương [19], [24].
Theo Koletzko và cộng sự (2005), dinh dưỡng ở trẻ sơ sinh ảnh hưởng lâu dài đến khả
năng nhận thức và quá trình phát triển tư duy [43]. Hậu quả lâm sàng rõ rệt nhất của
việc cung cấp không đầy đủ dinh dưỡng là trẻ không tăng cân và chiều cao, điều này
liên quan mật thiết đến việc giảm kháng thể và tăng tỷ lệ tử vong với các bệnh truyền
nhiễm. Chính những đặc điểm sinh lý này của trẻ sơ sinh nên yêu cầu phải có một chế
9
độ dinh dưỡng riêng cũng như cách tính dinh dưỡng và sản phẩm dinh dưỡng chuyên
biệt [23].
Theo các tài liệu khuyến cáo, quá trình dinh dưỡng tĩnh mạch trên trẻ sơ sinh trải
xuất hiện tình trạng nước mất không nhận biết bao gồm trẻ sinh cực non, trẻ nằm
giường sưởi, chiếu đèn, tăng thân nhiệt, thở nhanh, khi đó thể tích dịch thường được
tăng thêm
– 3 ml/kg/ngày; mất nước qua đường tiêu hóa như nôn ói, tiêu chảy,
dẫn lưu dạ dày hoặc mất nước qua đường tiểu, khi đó cần bổ sung thêm lượng dịch
tương đương với lượng đã mất; hậu phẫu ống tiêu hóa cần tăng nhu cầu dịch gấp 1,5 –
3 lần so với bình thường [14]. ên cạnh đó, các trường hợp cần giảm nhu cầu dịch là
bệnh nhân nằm lồng ấp hay xuất hiện tình trạng tăng tiết ADH không thích hợp bao
gồm ngạt nặng trong 72 giờ đầu, xuất huyết não, suy hô hấp, bệnh phổi mạn, suy tim,
suy thận cấp thiểu niệu cần hạn chế dịch xuống còn
ml/kg/ngày [2], [3], [5].
1.3.3. Nhu cầu năng lượng
Tùy thuộc vào mục đích mà nhu cầu cung cấp năng lượng là khác nhau Để duy
trì cân nặng cần cung cấp một năng lượng từ 50 – 60 kcal/kg/ngày, trong khi đó để trẻ
tăng cân cần cung cấp một nhu cầu năng lượng cao hơn, khoảng 100 – 120
kcal/kg/ngày [2], [3].
Nguồn năng lượng chính cần được cung cấp từ glucid và lipid với tỷ lệ calo thích
hợp là glucid/lipid ≈
[2]. Ở trẻ sơ sinh, nhu cầu năng lượng trong những ngày đầu chỉ
cần cung cấp 40 – 50 kcal/kg/ngày, rồi tăng dần trong giai đoạn chuyển tiếp 60 – 100
10
kcal/kg/ngày và khi nuôi dưỡng từ một tuần trở lên cần cung cấp năng lượng 100 –
mg/kg/phút; giai
mg/kg/phút và ở giai đoạn trưởng thành khoảng
mg/kg/phút [14].
Khi truyền thành phần glucid qua đường tĩnh mạch, cần kiểm soát chặt chẽ
đường huyết, tránh tăng hoặc giảm đường huyết, dùng insulin nếu glucose máu > 180
mg/dL và glucose niệu > 2+ [14]. Ở trẻ sơ sinh non tháng thường có hiện tượng tăng
đường huyết, vì vậy thường lựa chọn dịch truyền có nồng độ thấp, có khi là
và nồng độ truyền glucose qua tĩnh mạch ngoại vi được giới hạn ≤
– 7,5%
, %, cần lưu ý
rằng nồng độ glucose của dịch truyền phụ thuộc vào khả năng dung nạp của trẻ [3],
[22].
1.3.5. Nhu cầu protid
Năng lượng cung cấp từ protid chiếm 10 – 20% tổng năng lượng từ các dịch
truyền, 1 gam protid cung cấp
kcal cho cơ thể [2], [3] Hàm lượng protid cung cấp
tăng dần qua từng giai đoạn. Trong giai đoạn khởi đầu, hàm lượng protid cung cấp
khoảng 1,5 –
g/kg/ngày; tăng dần đến 2 – 3, g/kg/ngày trong giai đoạn chuyển tiếp.
hạn hàm lượng lipid là , –
g/kg/ngày khi trẻ vàng da tăng bilirubin gián tiếp nặng
[22] hoặc trẻ sinh rất non (< 33 tuần) hoặc nhiễm khuẩn huyết có giảm tiểu cầu nặng
hoặc suy hô hấp do bệnh phổi chưa ổn định [14].
Lipid là dung dịch đẳng trương, an toàn khi truyền tĩnh mạch ngoại biên, khi
truyền cần tránh pha chung với các dung dịch khác vì dễ gây hiện tượng nhũ tương
hóa gây thuyên tắc mỡ, lý tưởng nhất nên truyền một đường riêng hoặc nếu sử dụng
chung một đường tĩnh mạch qua chạc ba, lipid cần được truyền ở gần tĩnh mạch nhất
nhằm hạn chế thời gian tiếp xúc với các dung dịch khác đồng thời cần truyền tĩnh
mạch liên tục trong 20 – 24 giờ [2], [14]. Khi truyền nên truyền nhũ dịch lipid 20%
hơn nồng độ 10% do tỉ lệ phospholipid/triglycerid thích hợp hơn đối với sơ sinh [2],
[8], [30], [46]. Trong quá trình truyền, nếu triglycerid > 400 mg/dl, cần thay đổi lipid
có nồng độ thấp, giảm tốc độ truyền, nếu tình trạng vẫn không cải thiện cần ngừng
truyền lipid. Ở trẻ sơ sinh cực non hoặc mắc nhiễm trùng sơ sinh thường không dung
nạp với liều tối đa của lipid, nghĩa là sau 6 – 8h ngừng truyền lipid, huyết tương vẫn
còn màu đục như sữa hoặc triglycerid/máu ≥
mg%, trong trường hợp này cần giảm
liều lipid [8].
1.3.7. Nhu cầu điện giải
Nhu cầu điện giải ở trẻ sơ sinh phụ thuộc vào tuổi thai lúc sinh [1], [44], [46],
[51] được trình bày trong ảng 1.2.
12
Bảng 1.2. Nhu cầu điện giải ở trẻ sơ sinh (mEq/kg)
2–3
K+
3 – 3,5
3–4
Khi bổ sung các chất điện giải ở trẻ sơ sinh cần chú ý chỉ bắt đầu bổ sung Na+,
K+, P, Zn++ từ ngày thứ hai sau khi sinh; bổ sung Mg++ từ ngày thứ ba sau sinh [2],
[14]; đối với trẻ non tháng, nhu cầu Na+ cao hơn so với trẻ đủ tháng nên có thể tăng
đến 4 –
mEq/kg/ngày [2] và khi bệnh nhân có vàng da ứ mật nặng thì các chất điện
giải chỉ bổ sung 2 lần mỗi tuần (do ứ đồng và mangan) [3].
1.3.8. Nhu cầu vitamin và yếu tố vi lượng
Bệnh nhân sử dụng dịch truyền dinh dưỡng tĩnh mạch sau 1 tuần cần bổ sung
thêm các vitamin và sau
tuần cần bổ sung các yếu tố vi lượng, riêng với sắt cần bổ
sung sau 2 tuần qua đường tĩnh mạch nếu chưa được bổ sung đầy đủ qua đường tiêu
hóa [2], [8], [23]. Nhu cầu vitamin và các yếu tố vi lượng cho trẻ sơ sinh được trình
bày trong Phụ lục 2.
1.4.
Phƣơng pháp nuôi dƣỡng tĩnh mạch ở trẻ sơ sinh
máu màng phổi, dò động mạch, tổn thương ống ngực [23]
ên cạnh đó, các nồng độ
của dịch truyền có thể nuôi dưỡng qua tĩnh mạch trung tâm là glucose
%, 3 %,
50%; lipid 10%, 20%; acid amin 5%, 10%, 15% [7].
1.4.2. Các bước thực hiện nuôi dưỡng tĩnh mạch
1.4.2.1. Nguyên tắc thực hiện
Khi thực hiện nuôi dưỡng tĩnh mạch, cần cung cấp đầy đủ năng lượng và các chất
dinh dưỡng Các chất dinh dưỡng được đưa vào cơ thể cùng lúc, chậm, đều đặn trong
vòng
giờ [3]. Lipid cần truyền riêng từ 12 – 18 giờ hoặc truyền cùng dịch khác qua
chạc ba trong 24 giờ. Dung dịch glucid, protid, điện giải có thể pha chung và phải đảm
bảo tốc độ truyền của các thành phần [8].
1.4.2.2. Các bước tiến hành
Các bước thực hiện dinh dưỡng tĩnh mạch bao gồm:
- Đánh giá bệnh nhân: dấu hiện sinh tồn, cân nặng, tình trạng dinh dưỡng hiện tại,
bệnh lý hiện tại và bệnh lý nền như suy gan, suy thận [3], [8].
- Xét nghiệm: công thức máu, đếm tiểu cầu, điện giải đồ, đường huyết [3], [8].
- Trình tự thực hiện khi dinh dưỡng tĩnh mạch (DDTM) [2], [3], [14]
1. Tính nhu cầu dịch/DDTM/ngày = Nhu cầu dịch/ngày – dịch pha thuốc – dịch
dinh dưỡng tiêu hóa + dịch cơ thể mất khác
2. Tính lượng, thể tích protid theo cân nặng của bệnh nhân
3. Tính lượng, thể tích lipid theo cân nặng của bệnh nhân
4. Tính lượng, thể tích điện giải
đó các chỉ số ion đồ, tỷ số Ca/P, photphatase kiềm, BUN, albumin, triglycerid, chức
năng gan cần được theo dõi
1.6.
– 2 lần/tuần [14].
Các nghiên cứu về nuôi dƣỡng tĩnh mạch trên trẻ sơ sinh
Trên thế giới, nghiên cứu về nuôi dưỡng tĩnh mạch trên trẻ sơ sinh khá phổ biến
[26], [27], [42], [49], hầu hết là các nghiên cứu về việc sử dụng dịch truyền dinh
dưỡng tĩnh mạch hoàn toàn [23], [42], [49], [60]. Ở Việt Nam, các nghiên cứu về dinh
dưỡng tĩnh mạch trên trẻ sơ sinh không nhiều, một số nghiên cứu đã được thực hiện
như nghiên cứu của Nguyễn Thị Hoài Thu về dinh dưỡng tĩnh mạch hoàn toàn ở Bệnh
viện Nhi Trung ương (2013) [23], Ngô Quốc Huy về dinh dưỡng tĩnh mạch hoàn toàn
ở Bệnh viện Bạch Mai (2011) [15].
Các nghiên cứu trên đã mô tả đặc điểm của trẻ sơ sinh sử dụng dịch truyền dinh
dưỡng [23], [49], [52], [60], thời gian dùng dịch của bệnh nhân [22], [23], [49], các
công thức nuôi dưỡng [23], [28], hàm lượng các thành phần dinh dưỡng [47], [50],
15
[52], [56], [59], [60], đường dùng dịch truyền [23], [40], [49], biến chứng sau quá trình
dùng dịch [23], [49], [57].
Các nghiên cứu cũng chỉ ra bệnh nhân được sử dụng dịch truyền dinh dưỡng tĩnh
mạch có nguy cơ gặp một số biến chứng lâm sàng như biến chứng nhiễm trùng, biến
chứng chuyển hóa làm giảm sức đề kháng, mất cân bằng điện giải dẫn đến kéo dài thời
gian dùng dịch của bệnh nhân [23], [42], [43], [49].
1.7.
Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là những bệnh nhân sơ sinh điều trị nội trú tại Trung tâm
Chăm sóc và Điều trị sơ sinh của Bệnh viện Phụ sản Trung ương từ
hết tháng 3 năm
/
/
đến
.
2.1.1. Tiêu chuẩn lựa chọn
Bệnh nhân được chỉ định dịch truyền dinh dưỡng tĩnh mạch.
2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ
Bệnh nhân tử vong trong quá trình sử dụng dịch truyền dinh dưỡng tĩnh mạch.
2.2.
Phƣơng pháp nghiên cứu
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu
Mô tả tiến cứu thông qua quan sát, theo dõi bệnh nhân và ghi nhận thông tin vào
phiếu thu thập thông tin
2.2.2. Mẫu nghiên cứu
Phương pháp chọn mẫu: chọn mẫu thuận tiện.
2.2.3. Phương pháp thu thập số liệu
Phương pháp thu thập số liệu tiến hành qua các bước:
Đặc điểm về lâm sàng (sốt)
Đặc điểm về lâm sàng (phù, thở nhanh)
Tốc độ truyền dịch (ghi nhận từ
phiếu truyền dịch)
Kết quả xét nghiệm (huyết học, sinh hóa, khí
Cân nặng hàng ngày (theo dõi qua
máu)
biển mạch)
Đặc điểm về kê đơn (loại dịch truyền, thể tích
dịch truyền, đường truyền, thời gian nuôi dưỡng)
Biến cố trong quá trình nuôi dưỡng
2.2.4. Chỉ tiêu nghiên cứu
Các chỉ tiêu nghiên cứu bao gồm:
2.2.4.1. Đặc điểm của trẻ sơ sinh sử dụng dịch truyền dinh dưỡng
- Tỷ lệ bệnh nhân theo giới tính
- Tỷ lệ bệnh nhân theo phân loại tuổi thai lúc sinh.
- Cân nặng trung bình, tỷ lệ bệnh nhân theo phân loại cân nặng lúc sinh
- Tỷ lệ bệnh nhân được nuôi dưỡng tĩnh mạch một phần, toàn phần.
- Thời gian nuôi dưỡng tĩnh mạch.
- Tỷ lệ các bệnh lý của bệnh nhân.
- Tỷ lệ bệnh nhân theo các đặc điểm về chăm sóc (bao gồm nằm lồng ấp, nằm