Khảo sát cách sử dụng thuốc chống ung thư tại khoa phụ ung thư bệnh viện phụ sản trung ương - Pdf 21

BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
NGUYỄN THÙY GIANG
KHẢO SÁT CÁCH SỬ DỤNG
THUỐC CHỐNG UNG THƯ TẠI
KHOA PHỤ UNG THƯ BỆNH VIỆN
PHỤ SẢN TRUNG ƯƠNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP DƯỢC SĨ
HÀ NỘI- 2014
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
NGUYỄN THÙY GIANG
KHẢO SÁT CÁCH SỬ DỤNG
THUỐC CHỐNG UNG THƯ TẠI
KHOA PHỤ UNG THƯ BỆNH VIỆN
PHỤ SẢN TRUNG ƯƠNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP DƯỢC SĨ
Người hướng dẫn:
1. ThS. Trịnh Trung Hiếu
2. ThS. Thân Thị Hải Hà
Nơi thực hiện:
1. Bộ môn Dược lâm sàng-
Trường Đại học Dược Hà Nội
2. Bệnh viện Phụ sản Trung Ương
HÀ NỘI – 2014
Lời cảm ơn
Lời đầu tiên, tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới những người thầy:
ThS.Trịnh Trung Hiếu – Bộ môn Dược lâm sàng, Trường Đại học Dược Hà Nội,
ThS.Thân Thị Hải Hà – Khoa Dược Bệnh viện Phụ sản Trung Ương và ThS.Cao
Thị Bích Thảo – Bộ môn Dược lâm sàng, Trường Đại học Dược Hà Nội đã trực tiếp
động viên, hướng dẫn, chỉ bảo tôi trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành khoá

BSC
(Biological safety cabinet)
Tủ an toàn sinh học
CAPhO
(Canadian Association of Pharmacy in Oncology)
Hội Ung thư Dược Canada
COSA
(Clinical Oncological Society of Australia)
Hội Ung thư lâm sàng Úc
ISOPP
(International Society of Oncology Pharmacy
Practicioners Standards Committee)
Hiệp hội Quốc tế của Ủy ban
tiêu chuẩn thực hành Dược
NIOSH
(National Institute for Occupational Safety and
Health)
Viện an toàn lao động và sức
khỏe quốc gia Mỹ
OSHA
(Occupational Safety and Health Administration)
Cục an toàn lao động và sức
khỏe Mỹ
SHPA
(Society of Hospital Pharmacists of Australia)
Hội Dược sĩ bệnh viện Úc
Danh mục các bảng
Bảng 2.1. Phân loại sai lệch trong sử dụng thuốc
Bảng 3.1. Đặc điểm về chẩn đoán của bệnh nhân trong nghiên cứu
Bảng 3.2. Tỉ lệ các thuốc điều trị ung thư được chỉ định trong bệnh án

Trên thế giới và trong khu vực, việc pha chế thuốc cho hóa trị liệu được thực hiện
tập trung tại khoa Dược và đã cho kết quả rất tốt trên cả ba mặt an toàn, hiệu quả và
tiết kiệm. Thực tế tại hầu hết các bệnh viện ở Việt Nam, trong đó có bệnh viện Phụ
sản Trung Ương, việc tiến hành chuẩn bị thuốc cho hóa trị liệu được thực hiện tại
các khoa lâm sàng và người thực hiện là nhân viên điều dưỡng. Tại thời điểm khảo
sát, bệnh viện cũng chưa có một hướng dẫn cụ thể về kê đơn, pha chế và thực hiện
thuốc điều trị ung thư.
Xuất phát từ thực tế trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Khảo sát cách sử
dụng thuốc chống ung thư tại khoa Phụ Ung thư Bệnh viện phụ sản Trung Ương”
với mục tiêu
- Khảo sát việc thực hiện thuốc ung thư dựa trên bệnh án của bệnh nhân
- Khảo sát quy trình pha chế và thực hiện thuốc ung thư của điều dưỡng
tiến tới đề ra một quy trình chuẩn pha chế và thực hiện thuốc điều trị ung thư, tăng
cường hiệu quả, an toàn trong quá trình sử dụng thuốc
2
PHẦN 1. TỔNG QUAN
1.1. Một số khái niệm liên quan
1.1.1. Thuốc gây độc tế bào (Cytotoxic drugs)
Thuốc gây độc tế bào (thuốc hóa trị liệu-chemotherapy drugs, thuốc điều trị ung
thư-antineoplastic drugs) là các hóa chất tác động đến sự lớn lên và sinh sôi của tế
bào, hầu hết trong số đó hoặc liên quan trực tiếp đến vật liệu di truyền trong nhân tế
bào, hoặc ảnh hưởng đến sự tổng hợp protein của tế bào. Thông thường, thuốc gây
độc tế bào không phân biệt giữa tế bào bình thường và tế bào ung thư .
Thuốc gây độc tế bào thường được dùng cho bệnh nhân suy giảm miễn dịch, và
do hầu hết các loại thuốc này đều ức chế tủy, việc này có thể đặt bệnh nhân vào
nguy cơ cao phát triển nhiễm khuẩn nặng. Vì lý do này, khi pha chế thuốc gây độc
tế bào để tiêm, kĩ thuật vô trùng phải thực hiện tốt để ngăn ngừa nhiễm khuẩn.
Ngoài ra, do hầu hết các hoạt chất đều có chỉ số điều trị hẹp, độ chính xác của việc
chuẩn bị thuốc phải được đảm bảo .
1.1.2. Thuốc độc hại (Hazardous drugs)

Sai sót về thuốc đối với các thuốc điều trị ung thư có thể trở nên đặc biệt nghiêm
trọng do (1) rất nhiều thuốc có chỉ số điều trị hẹp; (2) độc tính cao dù ở liều điều trị;
(3) phác đồ hóa trị liều rất là phức tạp; và (4) bệnh nhân ung thư là nhóm dễ bị ảnh
hưởng bất lợi do họ có khả năng chịu đựng kém . Trong một nghiên cứu, sai sót liên
quan đến các thuốc điều trị ung thư là nguyên nhân phổ biến đứng thứ hai trong các
sai sót về thuốc dẫn đến tử vong (chiếm 15,4% số trường hợp tử vong) . Gần đây,
người ta ước tính rằng 500 trường hợp tử vong xảy ra mỗi năm do sai sót về thuốc
liên quan đến hóa trị liệu ung thư và chỉ có 3% các sai sót đó được báo cáo
Bên cạnh vấn đề bệnh tật và tử vong, chi phí hàng năm dành cho điều trị các
phản ứng phụ do sai sót về thuốc có thể ngăn chặn được được ước tính khoảng 17-
29 tỉ đôla mỗi năm . Sai sót về thuốc là tốn kém cho bệnh nhân, gia đình của họ,
cho bệnh viện, nhân viên chăm sóc sức khỏe, các công ty bảo hiểm, dù vẫn còn có
4
rất ít các ước tính tin cậy về các chi phí này . Riêng đối với sai sót về thuốc lên quan
đến hóa trị liệu, một nghiên cứu đã ước tính rằng nếu các lỗi đã bị ngăn chặn không
được phát hiện ra, họ sẽ có kết quả là thời gian nằm viện kéo dài thêm 216 ngày và
chi phí ước tính hàng năm tiêu tốn tổng cộng 92907 euro, bao gồm 69248 euro
(74%) cho chi phí nằm viện và 23658 euro (26%) cho các loại thuốc bổ sung .
Sai sót về thuốc có thể xảy ra ở bất cứ giai đoạn nào trong quá trình sử dụng
thuốc, từ kê đơn cho đến pha chế, phân phối và thực hiện thuốc trên bệnh nhân.
Hơn thế nữa, quy trình sử dụng thuốc liên quan đến toàn bộ đội ngũ nhân viên y tế,
bác sĩ, dược sĩ, y tá . Sai sót trong hóa trị liệu xảy ra do rất nhiều nguyên nhân, bao
gồm truyền đạt sai chỉ định thuốc bằng lời, thiếu thông tin về tình trạng sức khỏe
bệnh nhân, sử dụng sai thông tin bệnh nhân hoặc sai kết quả xét nghiệm, đóng gói
và ghi nhãn không đạt chuẩn do nhà sản xuất, đơn viết tay không đọc được, tên
thuốc nhìn, phát âm tương tự nhau, sử dụng tên thuốc viết tắt, lỗi sao chép và tính
sai liều, lỗi khi thực hiện thuốc .
Hiện nay trên thế giới, công tác phòng chống sai sót liên quan đến thuốc điều trị
ung thư được coi là một ưu tiên trong các bệnh viện , với nhiều tài liệu khuyến cáo,
hướng dẫn đã được xuất bản để giảm thiểu khả năng xảy ra sai sót . Các hướng dẫn

gây ra các tương tác thuốc, dị ứng thuốc có hại), đơn không đầy đủ (thiếu liều, đơn
vị, đường dùng, loại và thể tích dung môi, thời gian truyền), kê đơn sai (sai thuốc,
sai liều, sai đơn vị, đường dùng, loại và thể tích dung môi, thời gian truyền). Kết
quả của nghiên cứu này cho thấy đơn không đầy đủ (thiếu đường dùng, thể tích
dung môi, số lượng thuốc viên) chiếm tỉ lệ cao nhất, sau đó là kê đơn sai (chủ yếu là
sai liều) và kê đơn không thích hợp. Phần lớn các sai sót này đều được cho là ngăn
chặn được. 72% sai sót được xét là ít gây nguy hại, 3% có khả năng gây thương tổn
lớn hoặc nghiêm trọng .
Nghiên cứu của Slama năm 2005 về sai sót trong kê đơn và sự phù hợp của các
phương pháp phân loại sai sót trong kê đơn thuốc gây độc tế bào phân loại sai sót
6
trong kê đơn thành các sai sót liên quan đến phác đồ (thuốc không hợp lý, thiếu
thuốc, sai liều, sai thời gian đợt điều trị), sai sót liên quan đến tính chất lý hóa (nồng
độ thuốc của dung dịch cuối cùng, tương kị), sai sót liên quan đến thực hiện thuốc
(sai đường dùng so với phác đồ, sai/thiếu thời gian sử dụng) và sai sót khác (đơn
không đủ thông tin hoặc không đọc được). Kết quả cho thấy sai sót chủ yếu liên
quan đến tính chất lý hóa của chế phẩm (73,9%). Việc sử dụng hệ thống kê đơn
máy tính có thể làm giảm thiểu các sai sót này .
Có nhiều nguyên nhân gây ra sai sót trong kê đơn thuốc, như sự mất tập trung
trong lúc kê đơn, không áp dụng các quy định có liên quan, môi trường làm việc,
khối lượng công việc áp lực cao, vấn đề thể chất và tinh thần, thiếu kiến thức, chưa
nhận thức rõ vai trò của kê đơn . Các sai sót trong kê đơn nếu không được phát hiện
ra có thể gây ra các sai sót trong thực hành và ảnh hưởng đến bệnh nhân, tuy nhiên
theo dữ liệu trong cơ sở dữ liệu MEDMARX của Bắc Mĩ, chỉ có 17,7% lỗi trong
giai đoạn kê đơn thực sự tác động được tới bệnh nhân do các sai sót này có thể được
phát hiện và ngăn chặn bởi đội ngũ dược sĩ và điều dưỡng trong quá trình xác nhận,
phân phối và sử dụng thuốc sau đó .
1.2.3. Sai sót trong pha chế và thực hiện thuốc
Giai đoạn pha chế và thực hiện thuốc ung thư gồm nhiều bước phức tạp và tiềm
ẩn nhiều nguy cơ sai sót, các sai sót trong giai đoạn này có thể tác động trực tiếp lên

1.3.1. Phơi nhiễm nghề nghiệp với thuốc độc hại
Người lao động có thể bị phơi nhiễm với các thuốc độc hại ở bất kì điểm nào
trong quá trình sản xuất, vận chuyển, phân phối, giao nhận, lưu trữ, pha chế và sử
dụng, cũng như trong xử lý chất thải, bảo trì và sửa chữa thiết bị . Thuốc có thể vào
cơ thể do hít phải, tiếp xúc với da, hấp thu qua da, tiêu hóa phải thực phẩm bị nhiễm
hoặc chạm tay có dính thuốc lên miệng, hoặc do ngẫu nhiên tiêm phải. Tiếp xúc và
hấp thu qua da có thể là con đường phơi nhiễm chính .
8
Nhân viên thao tác với các thuốc độc hải có thể hít phải những giọt nhỏ, bụi và
hơi của thuốc. Nhiều thao tác trong quy trình pha chế và sử dụng thuốc có thể sinh
ra các hạt khí dung như rút tiêm ra khỏi lọ, sử dụng bơm và kim tiên hoặc ống lọc
để luân chuyển thuốc, bẻ ống tiêm , tiêm thuốc vào dây truyền tĩnh mạch, loại khí
khỏi bơm tiêm hoặc đường truyền, và rò rỉ ở ống, bơm tiêm, hoặc ở điểm nối với
khóa vặn, khi cắt kim tiêm và nghiền ống tiêm đã qua sử dụng . Các tiểu phân thuốc
có thể bay vào không khí sau khi làm khô khu vực bị nhiễm. Một số thuốc điều trị
ung thư có thể bay hơi đã được ghi nhận là cyclophosphamid, carmustin,
ifosfamide, thiotepa .
Phơi nhiễm với thuốc qua da có thể phát sinh do thuốc gây độc tế bào có ở phía
ngoài của lọ thuốc. Do đó, môi trường làm việc có thể bị nhiễm thuốc ngay cả trước
khi bắt đầu pha chế thuốc. Các nghiên cứu đã chứng minh rằng hầu hết các bề mặt
làm việc với thuốc gây độc tế bào đều bị nhiễm các loại thuốc này. Bề mặt làm việc
trong tủ an toàn sinh học (BSC), mặt trên của kệ, sàn nhà, các thiết bị và các bề mặt
khác đã được chỉ ra có bị nhiễm thuốc trong những nghiên cứu từ các nước trên thế
giới. Nguy cơ lớn nhất là tiếp xúc trực tiếp với thuốc qua da trong trường hợp có sự
cố tràn hoặc rò rỉ thuốc xảy ra .
Nhân viên y tế có thể phơi nhiễm với thuốc độc hại do vô ý nuốt phải. Khi thực
phẩm và đồ uống được chế biến, lưu trữ hoặc tiêu thụ trong khu vực làm việc,
chúng có thể dễ dàng bị nhiễm các tiểu phân thuốc gây độc tế bào có trong không
khí. Tương tự như vậy, hút thuốc lá, dùng mỹ phẩm và nhai kẹo cao su cũng có thể
dẫn đến phơi nhiễm thuốc gây độc tế bào qua đường tiêu hóa.

con cái của các y tá (8,6% so với 3,4%). Mẫu nước tiểu của y tá trong nhóm thử cho
thấy có nhiều chất đột biến hơn so với nhóm chứng (40 % so với 10,3%) .
10
Dựa trên sự bài tiết cyclophosphamide qua nước tiểu ở dược sĩ và y tá, Bob và
Sessink đã tính toán sự hấp thu toàn thân của thuốc. Với mức độ phơi nhiễm 3.6-18
mg/ngày, nhóm tác giả đã đề xuất sự gia tăng nguy cơ ung thư từ 1.4 đến 10 ca ung
thư trên 1 triệu nhân viên mỗi năm . Theo một nghiên cứu khác, phơi nhiễm với
cyclophosphamid 16-80 mg/ngày có thể dẫn đến gia tăng nguy cơ ung thư ước tính
khoảng thêm 7-50 ca ung thư trên 1 triệu người .
Từ những nguy cơ trên, nhiều tổ chức, cơ quan đã đưa ra các tài liệu khuyến
cáo, hướng dẫn về thao tác an toàn với các thuốc độc hại/thuốc ung thư cho mọi
nhân viên y tế có liên quan đến quá trình phân phối, sử dụng các thuốc này .
1.3.3. Biện pháp phòng tránh phơi nhiễm với thuốc độc hại
Việc pha chế, thực hiện, hủy bỏ thuốc độc hại cần được tiến hành bởi các nhân
viên được đào tạo bài bản để bảo vệ chính họ, bảo vệ thuốc và bảo vệ môi trường.
Nhân viên y tế cần thực hiện đúng các hướng dẫn bảo hộ, sử dụng các trang thiết bị
bảo hộ và mặc trang phục bảo hộ để giảm thiểu việc giải phóng các phần tử thuốc
độc hại vào môi trường pha chế, dính vào sản phẩm pha chế và để giảm khả năng
phơi nhiễm của bản thân với nhóm thuốc này. Nhân viên không được ăn uống, nhai
kẹo cao su, dùng mỹ phẩm hoặc trữ đồ ăn gần khu vực pha chế. Nhân viên đang có
thai, dự định có thai hoặc đang cho con bú nên được chuyển sang làm các công việc
khác không phải tiếp xúc với các thuốc độc hại. Người đang mắc các bệnh nhiễm
khuẩn, điều trị bằng thuốc ức chế miễn dịch nên ngừng việc pha chế thuốc nếu có
thể. Nhân viên nên có các khoảng giải lao trong thời gian pha chế thuốc để duy trì
khả năng tập trung .
Các trang phục bảo hộ được khuyến cáo sử dụng bao gồm:
Găng tay: nên đeo hai găng trong bất cứ quá trình nào thao tác với thuốc độc hại
như tiếp xúc với vỏ hộp và lọ thuốc độc hại, pha chế và thực hiện thuốc độc hại, xử
lý rác thải từ thuốc độc hại và rác thải từ bệnh nhân điều trị với thuốc này, lau dọn
khi làm tràn thuốc. Sử dụng loại găng chất lượng cao, không có bột, làm từ latex,

nhiễm với thuốc cho nhân viên. Trong trường hợp không có tủ an toàn OSHA
khuyến cáo sử dụng mặt nạ có màng lọc hiệu suất cao để giảm bớt phơi nhiễm do
hít phải . Dưới đây là các hướng dẫn thao tác an toàn trong pha chế thuốc ung thư
dựa trên tiêu chuẩn của Hội Ung thư Dược Canada (CAPhO) :
o Rửa tay với xà phòng và nước, đeo găng theo hướng dẫn
o Lau lọ thuốc bằng cồn 70% để loại bỏ nhiễm bẩn thuốc độc hại
o Sử dụng kim tiêm có thể tích phù hợp, tránh hút đầy hơn 75% chiều dài ống tiêm
o Mỗi kim không dùng chọc quá 3 lần
o Kiểm tra dung dịch sau hoàn nguyên để đảm bảo thuốc được hòa tan hoàn toàn
trước khi rút khỏi lọ/ống
o Điều chỉnh thể tích dung dịch và/hoặc loại khí trong kim trước khi rút kim ra
khỏi lọ
o Đậy nắp bơm chưa thuốc không dùng cả hai tay, pittong nên được kéo xuống để
loại thuốc ở lõi kim tiêm và gắn với một kim tiêm mới trước khi tiêm thuốc vào
túi truyền hoặc trước khi đưa sang khu vực sử dụng.
o Cắm bộ dây truyền vào túi truyền chứa thuốc độc hại hoặc xả dây truyền bằng
dung dịch thuốc độc hại trong môi trường không được kiểm soát cần phải tránh.
Nên cắm bộ dây truyền vào túi truyền trước khi thêm thuốc vào dung dịch truyền
o Hoàn nguyên thuốc trong lọ:
• Sát khuẩn mạc cao su với gạc tẩm cồn tiệt trùng, để khô hoàn toàn ít nhất 10
giây để diệt khuẩn. Bề mặt lọ phải khô để tránh đưa cồn vào trong lọ
• Sử dụng kĩ thuật rút thuốc áp lực âm để hạn chế việc thuốc thoát khỏi lọ do
áp lực trong lọ quá cao
• Nên sử dụng gạc tiệt trùng tẩm cồn bọc quanh kim và nắp lọ trong khi rút
thuốc khỏi lọ
o Sau khi rút dung dịch khỏi lọ, lau nắp lọ bằng gạc tẩm cồn để loại các giọt nhỏ
thuốc thoát ra khỏi lọ
o Thao tác với ống thuốc
• Gõ vào ống để loại bỏ dung dịch thuốc ở phần trên cổ ống thuốc
• Lau cổ ống thuốc bằng gạc tẩm cồn

2.1.2. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là hồ sơ bệnh án của các bệnh nhân được chỉ định điều trị
bằng thuốc ung thư tại khoa Phụ Ung thư bệnh viện phụ sản Trung Ương ra viện từ
20/7/2013 đến tháng 20/2/2014. Tiêu chuẩn lựa chọn là các bệnh án tại khoa Phụ
Ung thư được chỉ định điều trị bằng ít nhất 1 thuốc chống ung thư. Tiêu chuẩn loại
trừ là các bệnh án tử vong.
2.1.3. Phương pháp nghiên cứu
- Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu
- Phương pháp lấy mẫu: Lấy mẫu thuận tiện, thông tin trên bệnh án được ghi
vào phiếu thu thập thông tin bệnh án (Phụ lục 2).
2.1.4. Chỉ tiêu nghiên cứu
- Tỉ lệ các thuốc điều trị ung thư trong bệnh án
- Tỉ lệ lựa chọn đường dùng thuốc và tỉ lệ đường dùng không phù hợp với
hướng dẫn
- Tỉ lệ dung môi không phù hợp với hướng dẫn
- Tỉ lệ lựa chọn tốc độ tiêm truyền không phù hợp với hướng dẫn
- Tỉ lệ các chỉ định có thể gây tương kị
Việc đánh giá chỉ định thuốc phù hợp/không phù hợp được dựa trên thông tin
trong tài liệu chính là Australian Injectable drugs handbook 4
th
ed và một số tài liệu
khác: AHFS Drug Information , BCCA chemotherapy preparation and stability
chart , Martindale , tờ hướng dẫn sử dụng thuốc. Các thông tin này được tổng kết
trong Phụ lục 4.
15
2.2. Khảo sát quy trình pha chế và thực hiện thuốc ung thư của điều dưỡng
2.2.1. Mục tiêu nghiên cứu
- Khảo sát các sai lệch xảy ra trong quy trình pha chế và thực hiện thuốc ung
thư của điều dưỡng
- Khảo sát việc thực hiện kỹ thuật vô khuẩn trong pha chế và thực hiện thuốc

giá mức độ nghiêm trọng của các sai sót. Vì nguồn lực có hạn, chúng tôi chỉ đánh
giá các sai lệch trong sử dụng thuốc so với hướng dẫn thực hiện thuốc và các y văn.
Sai lệch trong sử dụng thuốc được định nghĩa là những sai lệch trong quá trình pha
chế, thực hiện thuốc so với chỉ định của bác sĩ, hướng dẫn của bệnh viện và nhà sản
xuất . Các sai lệch quan sát được được phân loại theo bảng 2.1 (chủ yếu dựa trên
cách phân loại của Allan và Baker về sai lệch trong sử dụng thuốc).
Bảng 2.1. Phân loại sai lệch trong sử dụng thuốc
Phân loại Giải thích
Sai lệch trong pha chế
Sai thuốc Sử dụng thuốc không có trong chỉ định
Bỏ thuốc Thuốc được chỉ định nhưng không được pha chế
Liều không
đúng
Lượng thuốc đem ra pha chế khác với liều thuốc được chỉ định
Sai liều do lỗi
pha chế
Thuốc không được pha chính xác về liều (ví dụ: không được hòa
tan hoàn toàn)
Thuốc có nguy
cơ bị hỏng
Thuốc quá hạn dùng, thuốc không được bảo quản đúng (ví dụ:
thuốc nhạy cảm với ánh sáng không được bảo quản tránh ánh
sáng)
Kĩ thuật pha chế
không chính xác
Thuốc được pha chế không đúng cách (ví dụ: sai dung môi hoàn
nguyên, dung môi pha loãng, thể tích dung môi, sai kỹ thuật lắc)
Sai lệch trong thực hiện thuốc
Bỏ thuốc Liều thuốc không được dùng cho bệnh nhân
Kỹ thuật thực

PHẦN 3. KẾT QUẢ
3.1. Khảo sát chỉ định thuốc điều trị ung thư của bác sĩ
3.1.1. Đặc điểm mẫu nghiên cứu
Trong nghiên cứu này, chúng tôi lựa chọn được 392 bệnh án của những bệnh
nhân ra viện từ tháng 7 năm 2013 đến tháng 2 năm 2014 lưu trữ trên kho hồ sơ ở
hai mã bệnh Chorio và Ung thư của bệnh viện Phụ sản Trung ương để sàng lọc.
Trong số đó 201 bệnh án được chọn, 191 bệnh án bị loại khỏi nghiên cứu do không
thuộc khoa Phụ ung thư (40 bệnh án) và thuộc khoa Phụ ung thư nhưng không có
thuốc ung thư được chỉ định (151 bệnh án).
Trung vị tuổi của bệnh nhân trong mẫu nghiên cứu là 36 tuổi (khoảng tứ phân
vị: 25-50 tuổi). 100% số bệnh nhân trong nghiên cứu là nữ. Bệnh nhân thuộc nhóm
bệnh nguyên bào nuôi chiếm tỉ lệ cao nhất, gần 60%, sau đó là bệnh ung thư buồng
trứng (33,3%). Đặc điểm về chẩn đoán của bệnh nhân được trình bày cụ thể trong
bảng 3.1.
Bảng 3.1. Đặc điểm về chẩn đoán của bệnh nhân trong nghiên cứu
3.1.2. Đặc điểm chung về chỉ định đường dùng, dung môi, tốc độ
Hình 3.1 đưa ra một cái nhìn khái quát về tỉ lệ các chỉ định thuốc điều trị ung thư
không phù hợp của bác sĩ. Chỉ định tốc độ truyền không phù hợp chiếm tỉ lệ cao
nhất (63,4%), sau đó là chỉ định thể tích dung môi không phù hợp (31,5%), thấp
nhất là chỉ định đường dùng thuốc không phù hợp (3,5%). Thông tin chi tiết của
từng vấn đề này được trình bày ở các phần sau.
Chẩn đoán Số lượng Tỉ lệ (%)
Chorio 5 2,5
Chửa trứng xâm lấn 1 0,5
Mole lớn tuổi 1 0,5
U nguyên bào nuôi 112 55,7
U buồng trứng tái phát 1 0,5
U vú 1 0,5
Ung thư buồng trứng 67 33,3
Ung thư vú 13 6,5


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status