Quản lý giáo dục pháp luật cho học sinh ở các trường THPT - Pdf 50

TRƯỞNG ĐẠI HOC SƯ PHẠM HÀ NỘI

Nguyễn Tấn Tài

QUẢN LÝ GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO HỌC SINH
Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Hà Nội, tháng 6 năm 2017


LỜI CẢM ƠN

Tác giả xin được bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới PGS.TS. Nguyễn Tấn
Dũng đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn, các thày cô giáo,

các cán bộ công nhân viên Đại học Sư phạm Hà Nội đã tận tình giảng dạy,
hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu để hoàn thành
luận văn tốt nghiệp này.
Tôi xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo và chuyên viên Sở Giáo dục và Đào tạo
Nam Định, Ban Giám hiệu, tập thể cán bộ giáo viên và học sinh các trường THPT
trên địa bàn Thành phố Nam Định đã động viên giúp đỡ, tạo điều kiện và hợp tác
giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng luận văn không tránh khỏi những thiếu sót,
tác giả kính mong nhận được sự góp ý, chỉ dẫn của các thầy cô giáo, các chuyên
gia và các bạn đồng nghiệp.
Hà Nội, ngày 11 tháng 6 năm 2017
Tác giả


1.2. Một số khái niệm cơ bản ... ............................................................................ ... 8
1.2.1. Khái niệm về pháp luật ............................................................................... ... 8
1.2.2. Khái niệm về giáo dục ............................................................................... .. 11
1.2.3. Khái niệm giáo dục pháp luật và giáo dục pháp luật trong trường THPT ..... 12
1.2.4. Khái niệm quản lý, quản lý giáo dục pháp luật ... ..................................... ... 17
1.2.5. Khái niệm về các lực lượng giáo dục ... .................................................... ... 22
1.3. Quản lý giáo dục pháp luật cho học sinh THPT ... ....................................... .. 23
1.3.1. Mô hình quá trình quản lý GDPL ... ......................................................... ... 23
1.3.2. Mục tiêu GDPL ... ..................................................................................... ... 24
1.3.3. Nội dung quản lý GDPL cho học sinh THPT ... ........................................ .. 24
1.4. Những yếu tố ảnh hưởng đến việc GDPL cho học sinh THPT ................... ... 25
1.4.1. Đặc điểm của học sinh THPT ... ............................................................... ... 25
iii


1.4.2. Yếu tố gia đình ......................................................................................... 29
1.4.3. Yếu tố nhà trường ... ................................................................................. 30
1.4.4. Yếu tố xã hội ............................................................................................ 30
Kết luận chương 1 ... .......................................................................................... 31
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO
HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH
PHỐ NAM ĐỊNH (Giai đoạn 2010-2013) ... .................................................. 32
2.1. Khái quát về tình hình giáo dục, giáo dục đạo đức và pháp luật cho học
sinh THPT ở Thành phố Nam Định ... ............................................................... 32
2.1.1. Về tình hình giáo dục ... ............................................................................ 32
2.1.2. Thực trạng về đạo đức của học sinh THPT ở Thành phố Nam Định
hiện nay ... .......................................................................................................... 34
2.1.3. Thực trạng giáo dục pháp luật cho học sinh ... .......................................... 35
2.2. Thực trạng công tác quản lý giáo dục pháp luật cho học sinh ở các
trường THPT trên địa bàn Thành phố Nam Định ... .......................................... 40

... 60

3.2.3. Xây dựng cơ chế tổ chức phối hợp các lực lượng giáo dục trong và
ngoài nhà trường để GDPL cho học sinh ... ......................................................... . 66
3.2.4. Bồi dưỡng kỹ năng sư phạm và nghiệp vụ công tác chủ nhiệm cho
đội ngũ giáo viên ................................................................................................. .. 73
3.2.5. Nâng cao ý thức tự tu dưỡng, rèn luyện về ý thức pháp luật của bản
thân học sinh ... ................................................................................................... ... 74
3.2.6. Thường xuyên kiểm tra, đánh giá công tác GDPL cho học sinh; biểu
dương kịp thời các gương người tốt việc tốt ... ................................................... .. 75
3.3. Mối quan hệ giữa các biện pháp ... ............................................................... .. 76
3.4. Thăm dò tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp ... ........................ .. 77
3.4.1. Mục đích, nội dung, cách thức thăm dò ... ................................................ .. 77
3.4.2. Kết quả thăm dò tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp ... .......... 77
Kết luận chương 3 ................................................................................................ . 80
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ ... ............................................................... .. 81
1. Kết luận ... ......................................................................................................... . 81
2. Khuyến nghị ................................................................................................... ... 82
TÀI LIỆU THAM KHẢO ... ............................................................................. . 85
PHỤ LỤC ... ...................................................................................................... ... 86
v


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CBQL

: Cán bộ quản lý

CNH-HĐH


THCS

: Trung học cơ sở

THPT

: Trung học phổ thông

VPPL

: Vi phạm pháp luật

XH

: Xã hội

XHCN

: Xã hội Chủ nghĩa

iv


DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Thống kê xếp loại đạo đức học sinh THPT của thành phố Bắc
Ninh từ năm 2010 - 2013 ................................................................... 35
Bảng 2.2: Đánh giá mức độ biểu hiện của một số hành vi VPPL của học sinh ...... 37
Bảng 2.3: Đánh giá về các lỗi vi phạm pháp luật của học sinh THPT ................ 39
Bảng 2.4: Đánh giá của học sinh về mức độ tham gia của học sinh vào các

Trong chiến lược phát triển kinh tế-xã hội, Đảng ta đã xác định “Giáo dục và
đào tạo là quốc sách hàng đầu” nhằm đào tạo lớp người mới làm chủ tương lai của

đất nước. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa
VIII chỉ rõ: Nhiệm vụ và mục tiêu cơ bản của giáo dục Việt Nam là nhằm xây
dựng những con người mới có đầy đủ phẩm chất, năng lực, trí tuệ, sức khỏe, có
tính tổ chức kỷ luật để kế thừa xây dựng đất nước.
Hiện nay, trong nền kinh tế thị trường, một số nhà trường phổ thông chỉ
coi trọng việc “dạy chữ” phục vụ cho thi cử, ít quan tâm đến việc giáo dục đạo
đức, ý thức công dân và trang bị kiến thức pháp luật. Mặc dù chương trình môn

GDCD (có nội dung GDPL) đã trở thành môn học chính khóa từ năm học
1988-1989, nhưng thực sự vẫn chưa được coi trọng như các môn học khác.
Để GDPL đúng với ý nghĩa là trang bị tri thức, cung cấp thông tin nhằm
nâng cao ý thức và kiến thức pháp luật, để từ đó hình thành lối sống tuân thủ
1


pháp luật, điều chỉnh hành vi của học sinh trong cuộc sống, công tác GDPL
trong nhà trường phổ thông cần phải được quan tâm một cách đầy đủ hơn, cần tiếp
tục có sự đổi mới về nội dung, hình thức, phương pháp giáo dục, trong đó bao gồm
cả việc quản lý, phối hợp các lực lượng tham gia GDPL.
Sau gần 30 năm tiến hành công cuộc đổi mới đã đưa nước ta ngày càng
phát triển, an ninh-chính trị ổn định, đời sống nhân dân được cải thiện, vị thế
đất nước ta trên trường quốc tế ngày càng được khẳng định và nâng cao. Tuy
nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được, những vấn đề phức tạp, bức xúc
của toàn xã hội vẫn còn tồn tại và chưa được giải quyết. Nhất là “tội phạm và
một số tệ nạn xã hội có chiều hướng gia tăng, tai nạn giao thông gây nhiều thiệt
hại về người và của” [4, tr. 63] đã tác động tiêu cực đến đời sống tư tưởng của
nhân dân, đặc biệt là đối với thế hệ trẻ, làm cho một bộ phận thanh niên, học

Thành phố Nam Định nói riêng, đã ý thức được điều đó và đang đẩy mạnh các

hoạt động GDPL để trang bị kiến thức, giáo dục hành vi cho học sinh, ngăn
chặn các tác động xấu xâm nhập vào học sinh và nhà trường. Tuy nhiên, hiện
nay việc tổ chức giáo dục còn nhiều hạn chế, nhà trường chưa có sự phối hợp
đồng bộ, thống nhất với các LLGD ngoài nhà trường, chưa huy động được tối

đa các lực lượng toàn xã hội tham gia nên việc GDPL trong nhà trường còn
mang tính lý thuyết, đơn lẻ, một chiều, hình thức. Kết quả GDPL chưa đáp ứng
được yêu cầu đặt ra.
Qua thực tiễn nhận thấy: GDPL cho học sinh THPT ở một thành phố trẻ, giàu
truyền thống văn hiến, cách mạng như Thành phố Nam Định là một vấn đề xã hội

đồng thời cũng là một yêu cầu cấp thiết cần được nghiên cứu để thực hiện có
hiệu quả.

Xuất phát từ những vấn đề lý luận và thực tiễn nêu trên, chúng tôi lựa
chọn đề tài “Quản lý giáo dục pháp luật cho học sinh ở các trường Trung học
phổ thông trên địa bàn Thành phố Nam Định”, hy vọng được đề xuất một số
biện pháp quản lý GDPL ở trường THPT góp phần nâng cao hiệu quả GDPL
của địa phương, đáp ứng yêu cầu, mục tiêu giáo dục và đào tạo hiện nay.
2. Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và khảo sát thực trạng GDPL và quản lý
GDPL cho học sinh ở các trường THPT tại Thành phố Nam Định - Tỉnh Nam
Định, luận văn sẽ đề xuất biện pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả quản lý
3


GDPL cho học sinh, đáp ứng mục tiêu giáo dục và đào tạo trong thời kỳ CNH HĐH đất nước.


6.2. Địa bàn nghiên cứu
7 trường THPT trên địa bàn Thành phố Nam Định, Tỉnh Nam Định (THPT
Chuyên Nam Định, THPT Hàm Long, THPT Hàn Thuyên, THPT Hoàng Quốc
Việt, THPT Lý Nhân Tông, THPT Lý Thường Kiệt và THPT Nguyễn Du).
6.3. Phạm vi thời gian

Đánh giá biện pháp quản lý GDPL cho học sinh THPT tại 7 trường
THPT trên địa bàn Thành phố Nam Định trong 3 năm học (từ năm học 2010-

2011 đến năm học 2012-2013) và đề xuất biện pháp quản lý GDPL cho học sinh
các trường THPT trên địa bàn Thành phố Nam Định, Tỉnh Nam Định cho những
năm tiếp theo.
7. Phƣơng pháp nghiên cứu
7.1. Nhóm phƣơng pháp nghiên cứu lý luận
, văn bản liên
quan đến đề tài.
7.2. Nhóm phƣơng pháp nghiên cứu thực tiễn
Để tiến hành điều tra và nghiên cứu thực tiễn công tác quản lý GDPL ở các
trường THPT trên địa bàn Thành phố Nam Định, chúng tôi đã sử dụng các
phương pháp:
- Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi (trưng cầu ý kiến);
-

DPL cho học sinh của nhà trường.

- Phương pháp phỏng vấn.
- Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia.
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm quản lý giáo dục.
- Phương pháp nghiên cứu sản phẩm.

pháp luật cần thiết để suy nghĩ, hành động theo pháp luật.
Bằng con đường giáo dục, các tri thức khoa học đã đưa đến cho con người
mọi hiểu biết về tự nhiên, xã hội, kỹ thuật, công nghệ… để họ được phát triển
toàn diện, làm việc trong các ngành nghề của xã hội để nuôi sống họ và góp
phần xây dựng và bảo vệ đất nước. Tri thức pháp luật cũng vậy, muốn truyền
tải đến mọi người một cách nhanh nhất, hiệu quả nhất tất yếu phải thông qua
con đường giáo dục.
Do vậy, công tác giáo dục pháp luật cho công dân nói chung, cho học sinh
phổ thông nói riêng là một việc làm vô cùng quan trọng kể cả trước mắt và lâu
6


dài. Ngày 09 tháng 12 năm 2003, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ra Chỉ thị số
32/CT-TW “Về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác phổ biến giáo dục

pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân”, trong đó
nhấn mạnh: “Công tác phổ biến giáo dục pháp luật cần phải được coi là một trong
những nhiệm vụ trọng tâm trong việc tăng cường quản lý xã hội bằng pháp luật
và xác định rõ phổ biến giáo dục pháp luật là một bộ phận của công tác giáo dục tư
tưởng, chính trị, là nhiệm vụ của toàn bộ hệ thống chính trị đặt dưới sự lãnh đạo của
Đảng”.
Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ IX đã nêu: “Phát huy dân chủ, giữ vững kỷ

luật, kỷ cương, tăng cường pháp chế, quản lý xã hội bằng pháp luật, tuyên
truyền, giáo dục toàn dân nâng cao ý thức chấp hành pháp luật” [3, tr. 135].
GDPL cho học sinh phổ thông là vấn đề đặc biệt quan trọng trong các con
đường giáo dục nói chung, có ý nghĩa chiến lược trong việc đào tạo, giáo dục để
hình thành một cách vững chắc thế hệ công dân - người lao động đáp ứng các yêu
cầu của xã hội hiện tại và tương lai, thế hệ chủ nhân của đất nước có lối sống, lao
động và làm việc theo hiến pháp và pháp luật.

thiết phải quan tâm đến vấn đề GDPL cho công dân nói chung, học sinh phổ
thông nói riêng; còn các công trình, đề tài nghiên cứu nêu các nội dung, biện
pháp hình thức tổ chức GDPL để áp dụng trong các trường THPT nhằm đạt kết
quả tốt nhất thì chưa được quan tâm nghiên cứu một các cụ thể, đầy đủ để có thể
thực hiện có hiệu quả cao, đặc biệt là để có thể áp dụng phù hợp trong các trường
THPT ở địa bàn Thành phố Nam Định, Tỉnh Nam Định. Do đó, chúng tôi tập
trung nghiên cứu các biện pháp của nhà trường để GDPL cho học sinh các trường
THPT ở thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định nhằm đổi mới, bổ sung và hoàn
thiện hệ thống các biện pháp GDPL cho học sinh trong nhà trường phổ thông cho
phù hợp với điều kiện hiện nay của Thành phố Nam Định, Tỉnh Nam Định nói
riêng cũng như của đất nước ta nói chung.
1.2. Một số khái niệm cơ bản
1.2.1. Khái niệm về pháp luật
1.2.1.1. Pháp luật là gì?
Cũng như Nhà nước, pháp luật là một hiện tượng xã hội có vị trí đặc biệt
quan trọng trong đời sống chính trị của xã hội có giai cấp, nó là công cụ sắc bén
8


để thực hiện quyền lực Nhà nước, duy trì địa vị và bảo vệ lợi ích của giai cấp
nắm quyền. Theo học thuyết Mác - Lênin, pháp luật chỉ phát sinh, tồn tại và phát
triển trong xã hội có giai cấp.
Trong tiến trình phát triển của xã hội loài người, đã có một thời kỳ - thời kỳ
cộng sản nguyên thủy - không có Nhà nước và do vậy cũng không có pháp luật. Ở
thời kỳ này, con người sống chung và hưởng chung thành quả lao động nên xã hội
không có sự phân hóa giàu nghèo, không có sự phân biệt giai cấp. Hoạt động của
hệ thống quản lý cũng không mang tính giai cấp. Hành vi con người và các thành
viên trong xã hội được điều chỉnh bởi các quy phạm đạo đức, phong tục tập quán,
tín ngưỡng.
Khi Nhà nước ra đời, giai cấp cầm quyền đã sử dụng công cụ pháp luật để

Nam, đại diện cho quyền lực của giai cấp công nhân liên minh với giai cấp
nông dân và tầng lớp trí thức đặt ra thể hiện ý chí, nguyện vọng và lợi ích của giai
cấp công nhân và nhân dân lao động, có tính chất bắt buộc chung đối với toàn xã
hội, nhằm điều chỉnh các mối quan hệ trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Việt Nam XHCN.
1.2.1.2. Một số khái niệm có liên quan
- Ý thức pháp luật
Ý thức pháp luật là một hình thái ý thức xã hội được hình thành dưới sự tác
động của toàn bộ mọi mặt đời sống xã hội, thể hiện mối quan hệ của con người
với pháp luật, thể hiện sự đánh giá về tính hợp pháp hay không hợp pháp trong hành
vi xử sự của con người, cũng như trong tổ chức và hoạt động của cơ quan Nhà nước
và các tổ chức xã hội.
- Quy phạm pháp luật
Quy phạm pháp luật là quy tắc xử sự chung do Nhà nước ban hành và bảo đảm
thực hiện, thể hiện ý chí và bảo vệ lợi ích của giai cấp nắm quyền để điều chỉnh
các quan hệ xã hội.
- Vi phạm pháp luật
Vi phạm pháp luật là hành vi (hành động hoặc không hành động) trái pháp luật
và có lỗi do chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện, xâm hại các quan hệ
xã hội được pháp luật bảo vệ.

10


- Trách nhiệm pháp lý
Trách nhiệm pháp lý được hiểu là sự phản ứng tiêu cực của Nhà nước đối với chủ
thể vi phạm pháp luật, bởi vì chủ thể chỉ được phép lựa chọn cho mình cách xử sự
mà quy phạm pháp luật đã nêu ra, làm trái với điều đó thì chủ thể phải gánh chịu trách
nhiệm về việc làm của mình, chịu sự trừng phạt của Nhà nước.
- Pháp chế

tưởng và giáo dục đạo đức. Một khi giáo dục chính trị tư tưởng và giáo dục đạo
đức được tiến hành tốt thì hiển nhiên sẽ có sự tôn trọng pháp luật ở mỗi người
công dân.
- Tuyên truyền, phổ biến hay giải thích pháp luật là công việc, nhiệm vụ của
cơ quan chuyên trách, của các phương tiện thông tin đại chúng, của bộ máy tuyên
truyền.

- Giáo dục pháp luật đồng nghĩa với dạy và học pháp luật ở các nhà
trường, còn việc tuyên truyền, phổ biến về pháp luật ở ngoài xã hội không phải là
giáo dục pháp luật.
- Cũng có quan niệm cho rằng: Không có khái niệm giáo dục pháp luật. Bởi
vì, pháp luật là quy tắc có tình bắt buộc chung, mọi người phải có nghĩa vụ tuân
theo, muốn hay không muốn cũng phải làm theo, do đó không cần đặt vấn đề giáo
dục pháp luật mà chỉ cần phổ biến pháp luật để mọi người tự tìm hiểu và có cách
xử sự cho đúng.
Xuất phát từ nhận thức bản thân pháp luật của Nhà nước đã có vai trò giáo
dục, mỗi quan niệm trên mới chỉ thấy GDPL ở một khía cạnh nào đó, chưa thấy
hết vai trò giáo dục chung của pháp luật đối với nhận thức và hành vi xã hội
của cá nhân.

Theo chúng tôi, khái niệm giáo dục pháp luật trước tiên phải được hiểu
theo nghĩa chung nhất đó là vấn đề giáo dục và tiếp đó là vấn đề pháp luật. Quá
trình hình thành ý thức con người là quá trình ảnh hưởng thống nhất của các
điều kiện khách quan và các nhân tố chủ quan, trong đó các điều kiện khách
quan đóng vai trò là những nhân tố ảnh hưởng, các nhân tố chủ quan đóng vai
12


trò là nhân tố tác động. GDPL là sự tác động của nhân tố chủ quan, do các chủ
thể có năng lực làm công tác giáo dục tiến hành. Đó là các hoạt động có định

được nhân thân, hoàn cảnh, môi trường sống của đối tượng, phải biết cách
13


truyền tải kiến thức pháp luật đến đối tượng, phải là hình mẫu trong việc tuân theo
pháp luật. Đặc biệt, chủ thể giáo dục phải có khả năng minh họa những vấn đề

xảy ra trong đời sống mà có ý nghĩa pháp lý dưới những thuật ngữ, những
nguyên tắc, những quy định pháp luật cụ thể. Nếu thiếu khả năng này, ở chủ thể
giáo dục mất đi ý nghĩa thiết thực của nó.
- Xét về vị trí, vai trò trong hệ thống giáo dục thì GDPL có vai trò chi phối
rất lớn đối với các dạng giáo dục chính trị-xã hội khác. Trong điều kiện xã hội
hiện nay nó là “tiêu chí” đánh giá trong nội dung một số môn học trừu tượng

như: Giáo dục thẩm mỹ, giáo dục đạo đức, giáo dục tâm lý… Chính vì vậy
“sức mạnh”, “khả năng” tác động của GDPL có ưu thế hơn so với ý thức thái
độ của đối tượng giáo dục. Điều này có ý nghĩa đối với đối tượng GDPL ở mọi
lứa tuổi. Đối với lứa tuổi chưa thành niên (tuổi học sinh THPT) và tuổi trưởng
thành, nếu có nhận thức đầy đủ về pháp luật như bản chất, giá trị, thuộc tính
của nó thì sự xuất hiện khả năng tự kìm chế hành vi (có hại, sai trái) sẽ lớn hơn.
Từ những phân tích trên, có thể rút ra kết luận tương đối đầy đủ nhất về
GDPL như sau: GDPL là hoạt động có định hướng, có tổ chức, có chủ đích của
chủ thể giáo dục thông qua các hình thức, phương pháp khác nhau tác động
lên đối tượng giáo dục một cách hệ thống nhằm hình thành ở họ tri thức pháp

lý, tình cảm và hành vi phù hợp với pháp luật hiện hành, xây dựng lối sống
theo pháp luật.
Với khái niệm trên, GDPL không đơn thuần là sự tác động đơn giản nhất
thời mà là một loại hoạt động, một hệ thống các hoạt động có tổ chức với cấu
trúc đồng bộ của nó, bao gồm chủ thể, khách thể, đối tượng, nguyên tắc, mục

trong đó tập trung vào pháp luật của Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt
Nam, Hiến pháp sửa đổi năm 2013, Luật Dân sự, Luật Lao động, Luật Hành
chính và Pháp lệnh xử phạt hành chính.
- Pháp lệnh về Khiếu nại Tố cáo của công dân.
- Vấn đề quyền, nghĩa vụ của công dân quy định trong Hiến pháp.
- Giáo dục ý thức pháp luật, đây là nội dung rất cơ bản.
* Phương pháp GDPL cho học sinh THPT:
Đây là hệ thống những cách thức tác động của nhà giáo dục tới học sinh đề hình

thành ở các em những tri thức, niềm tin, tình cảm, thái độ và thói quen ứng xử,
hành vi theo pháp luật.
15


Thông thường người ta sử dụng các phương pháp sau:
- Phương pháp thuyết phục
Đây là nhóm phương pháp tác động vào nhận thức, tình cảm của học sinh để
hình thành cho các em ý thức, thái độ tích cực với cuộc sống qua khuyên giải,
tranh luận, nêu gương.
- Nhóm phương pháp tổ chức hoạt động
Đưa học sinh vào các hoạt động thực tiễn, thông qua việc phân tích, xử lý tình
huống cụ thể để tập dượt, hình thành ở học sinh thái độ, hành vi và thói quen
tuân thủ pháp luật.
- Nhóm phương pháp kích thích hành vi
Là nhóm phương pháp tác động vào động cơ, tình cảm của học sinh nhằm tạo

nên tính tích cực hoạt động và khả năng điều chỉnh hành vi, khắc phục những
hạn chế, sai lệch trong hành vi pháp luật. Nhóm này gồm khen thưởng, trách phạt,
thi đua.
* Hình thức GDPL cho học sinh THPT:

khoa học và nghệ thuật tác động vào hệ thống mà chủ yếu là việc tác động vào
con người nhằm hoàn thành các mục tiêu kinh tế-xã hội xác định” [8, tr. 7].
Theo tác giả Hà Sỹ Hồ: “Quản lý là một quá trình tác động có định hướng
(có chủ định), có tổ chức, lựa chọn trong số các tác động có thể có, dựa trên các
thông tin về tình trạng của đối tượng và môi trường nhằm giữ cho sự vận hành
của đối tượng được ổn định và làm cho nó phát triển tới mục đích đã định”.

Theo tác giả Nguyễn Minh Đạo: “Quản lý là sự tác động liên tục có tổ
chức, có định hướng của chủ thể (người quản lý, người tổ chức quản lý) lên
khách thể (đối tượng quản lý) về các mặt chính trị, văn hóa, kinh tế, xã hội…
bằng một hệ thống các luật, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và
các biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối
tượng” [5, tr. 97].
Ngoài ra, còn nhiều tác giả đưa ra các định nghĩa khác về quản lý.
Với cách diễn đạt và dùng ngôn từ khác nhau, song khái niệm quản lý đều thể
hiện:
Quản lý là một thuộc tính bất biến nội tại của mọi quá trình lao động xã hội.
Lao động quản lý là điều kiện quan trọng để làm cho xã hội loài người tồn tại và
phát triển.
- Yếu tố con người giữ vai trò trung tâm của hoạt động quản lý.
17



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status