THỰC TRẠNG TÁI HOÀ NHẬP CỘNG ĐỒNG VÀ NHỮNG RÀO CẢN ĐỐI VỚI VIỆC TÁI HOÀ NHẬP CỘNG ĐỒNG CỦA NGƯỜI SAU CAI NGHIỆN MA TUÝ TỪ GÓC NHÌN CÔNG TÁC XÃ HỘI (NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP PHƯỜNG BÃI CHÁY THÀNH PHỐ HẠ LONG TỈNH QUẢNG NINH) - Pdf 50

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
------------

LÊ MINH NGỌC

THỰC TRẠNG TÁI HOÀ NHẬP CỘNG ĐỒNG VÀ NHỮNG
RÀO CẢN ĐỐI VỚI VIỆC TÁI HOÀ NHẬP CỘNG ĐỒNG CỦA NGƯỜI
SAU CAI NGHIỆN MA TUÝ TỪ GÓC NHÌN CÔNG TÁC XÃ HỘI
(NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP PHƯỜNG BÃI CHÁY - THÀNH PHỐ HẠ
LONG - TỈNH QUẢNG NINH)
Chuyên ngành Công tác xã hội
Mã số: 60 90 01 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS.NGUYỄN TUẤN ANH

Hà Nội – 2016

1


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là nghiên cứu của riêng tôi. Các kết quả và số liệu trong
luận văn “Thực trạng tái hoà nhập cộng đồng và những rào cản đối với việc tái
hoà nhập cộng đồng của người sau cai nghiện ma tuý từ góc nhìn công tác xã
hội (nghiên cứu trường hợp phường Bãi Cháy - thành phố Hạ Long - tỉnh
Quảng Ninh)” là trung thực, chính xác, đảm bảo tính khách quan khoa học, xuất
phát từ tình hình thực tế của phạm vi nghiên cứu và có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng
và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác. Các đoạn trích dẫn

MỤC LỤC

4


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt

Nội dung

CLB

Câu lạc bộ

CTXH

Công tác xã hội

KT – XH

Kinh tế - Xã hội

LĐ-TB&XH

Lao động Thương binh và Xã hội.

GDLĐXH.

Giáo dục lao động xã hội


Phỏng vấn sâu

UBND

Ủy ban nhân dân

5


MỞ ĐẦU
Lý do chọn đề tài
Ma túy là một hiểm họa lớn của nhân loại, không một quốc gia, một dân tộc,
một đất nước nào có thể thoát khỏi vòng xoáy của nó. Buôn lậu ma túy, tàng trữ và
sử dụng ma túy gây ra cho nền KT-XH của đất nước, đời sống con người những hậu
quả nghiêm trọng và vô cùng thảm khốc. Tình hình tệ nạn ma túy diễn biến rất phức
tạp, có xu hướng gia tăng về số lượng người nghiện ma túy và các tội phạm ma túy..
Tại diễn đàn Liên Hợp quốc, ngài Boutros Gali – nguyên Tổng thư ký Liên
Hợp Quốc đã đánh giá: “Trong những năm gần đây, tình trang nghiện hút ma túy
đang trở thành hiểm họa lớn của toàn nhân loại. Không một quốc gia, dân tộc nào
thoát khỏi vòng xoáy của nó để tránh khỏi những hậu quả do nghiện hút và buôn
lậu ma túy gây ra. Ma túy đang làm gia tăng tội phạm, bạo lực, tham nhũng, vắt
kiệt nhân lực, tài chính, hủy diệt những tiềm năng quý báu khác mà lẽ ra phải được
huy động cho việc phát triển kinh tế - xã hội, đem lại ấm no, hạnh phúc cho mọi
người. Ma túy đang làm suy thoái nhân cách, phẩm giá, tàn phá cuộc sống yên vui
gia đình, gây xói mòn đạo lý, kinh tế, xã hội,... Nghiêm trọng hơn ma túy còn là tác
nhân chủ yếu thúc đẩy căn bệnh thế kỷ HIV/AIDS phát triển...” [25]
Nguồn tin từ khảo sát của Bộ LĐ-TB&XH cuối năm 2009, gần 70% người
nghiện ma túy ở độ tuổi dưới 30 trong khi năm 1995 tỷ lệ này chỉ khoảng 42%. Hơn
95% người nghiện ma túy ở Việt Nam là nam giới. Tuy nhiên, tỷ lệ người nghiện là
nữ giới cũng đang có xu hướng tăng trong những năm qua, độ tuổi của người

Ở phường Bãi Cháy - thành phố Hạ Long - tỉnh Quảng Ninh, theo sự tìm hiểu
của tác giả đề tài này tại địa bàn: những người nghiện ma túy sau khi cai nghiện và
trở về địa phương sinh sống có nhận được sự hỗ trợ từ phía chính quyền địa phương
cũng như các trung tâm chăm sóc sức khỏe y tế và các tổ chức có hoạt động trợ giúp
người cai nghiện tái hòa nhập cộng động.
Từ góc nhìn CTXH có thể thấy, đây là những động thái tích cực của Nhà nước
cũng như của chính quyền địa phương để góp phần nâng cao hiệu quả phòng, chống

7


và khắc phục hậu quả của tệ nạn ma túy cũng như đẩy mạnh các hoạt động trợ giúp
cho người sau cai nghiện ma túy trở về địa phương sinh sống.
Tuy nhiên, họ vẫn còn gặp rất nhiều những khó khăn, thách thức khi trở lại địa
phương sinh sống. Mặc dù hiện nay cộng đồng, xã hội đã có cái nhìn bao dung hơn
với những người cai nghiện ma túy muốn làm lại cuộc đời nhưng vẫn không tránh
khỏi những rào cản nhất định về tâm lý và nhận thức. Không có việc làm, không có
nghề nghiệp ổn định, xã hội chối bỏ, gia đình xa lánh, mặc cảm tự ti về chính bản
thân mình, tỉ lệ tái nghiện ma túy cao, sức khỏe yếu... là những khó khăn mà người
nghiện ma túy đang phải đối mặt sau khi tái hòa nhập cộng đồng. [9]
CTXH là một nghề có thể giúp cá nhân và nhóm cải thiện chức năng xã hội
phục vụ và và nâng cao đời sống của người yếu thế. Trong rất nhiều những vai trò
của NVXH trong trợ giúp người sau cai nghiện ma túy tái hòa nhập cộng đồng, như
vai trò là người đánh giá giám sát,vai trò người kết nối, vai trò là người giáo dục,
vai trò tham vấn, vai trò tư vấn thì vai trò đánh giá và phân tích vấn đề là một vai
trò cơ bản và bắt buộc và quyết định trực tiếp đến việc trợ giúp gười sau cai nghiện
tự tin vượt qua những khó khăn, rào cản trong cuộc sống khi trở về tái hòa nhập
cộng đồng. [65]
Từ những lý do được phân tích ở trên và đi sâu vào những nghiên cứu tại địa
bàn nghiên cứu, tác giả quyết định chọn đề tài “Thực trạng tái hòa nhập cộng

cực mà họ phải trải nghiệm. R.J.Callahan (1997) [2] đã phát hiện ra mối liên hệ
giữa nghiện và lo hãi. Việc phát hiện này đã giúp ông tìm ra một phương pháp chữa
trị cho hầu hết các loại nghiện. Nội dung của phương pháp trị liệu này là tìm cách
vượt qua được sự lo hãi. Ông gọi đó là liệu pháp trường tư duy. Một nghiên cứu
khác của Richardson, Myers, Bing (1997) [7] chỉ ra rằng sự rối loạn tâm trạng, cảm
giác lo âu dự báo khả năng nghiện ma túy nặng. Gần gũi với thuyết nhận thức xã
hội là cách tiếp cận lý thuyết về cái tôi. Nếu như sự nhận thức về cái tôi hiệu quả là
chìa khóa của các nghiên cứu ở trên thì quan điểm của thuyết hiện tượng
9


(phenomenological) mà Rogers là đại diện thì “cái tôi”ở thuyết này còn cần một
loại hiện tượng nữa đi kèm mới dẫn đến hiện tượng nghiện ngập. Đó là những đau
đớn về sự thất bại của cá nhân. Hull J.G, Young R.D. và Jouriles E. (1986) [5] trong
quá trình nghiên cứu ở nhiều đối tượng khác nhau đã thấy có một mối liên hệ chặt
chẽ giữa nghiện, tự nhận thức cao và sự trải nghiệm các thất bại cá nhân. Theo sự
giải thích của cách tiếp cận này thì nhiều cá nhân đã dùng chất gây nghiện để làm
giảm bớt mức độ nhận thức về nỗi đau cũng như những trải nghiệm âm tính trong
cuộc sống của mình. Việc phát hiện mối liên hệ giữa nghiện với tự nhận thức và tần
suất của các thất bại cá nhân mở đường cho việc trị liệu người nghiện ở chính “cái
tôi” của họ để họ có khả năng ứng phó với những khó khăn thất bại xảy ra trong
cuộc sống. Cách tiếp cận hành vi: Theo cách tiếp cận hành vi thì việc sử dụng ma
túy có thể được quan niệm như hành vi giải quyết các vấn đề tạm thời trong việc
thiếu thích nghi trước các nhiệm vụ phát triển, tự lập hóa, hòa nhập vào nhà trường
và xã hội… Nguyên nhân của việc thiếu thích nghi được lý thuyết hành vi xác nhận
là sự thiếu các kỹ năng xã hội, thiếu hụt quá trình làm chủ, loạn chức năng nhận
thức, sự thiếu tự tin. Silvis và Perry (1987) áp dụng cơ chế phản xạ tạo tác của
B.F.Skinner giải thích rằng hành vi nghiện ma túy được củng cố âm tính bằng cách
tránh các tình cảm âm tính và củng cố dương tính bằng cảm giác dễ chịu mà nó tìm
được. O.Brien và các cộng sự (1990) giải thích hiện tượng nghiện ma túy theo cơ

tôi không hiệu quả, yếu đuối và bất lực của cá nhân trong cuộc sống làm phá hại
niềm tin vào bản thân của chính họ. Điều đó khiến họ dễ mắc vào mọi sự cám dỗ
trong đó có ma túy. A.Bandura cho rằng cảm giác về “cái tôi hiệu quả” là chìa khóa
trả lời cho sự tái nghiện của những bệnh nhân nghiện rượu và ma túy. Những
chương trình trị liệu làm nhằm tăng tính hiệu quả của cái tôi của ông đã giúp bệnh
nhân vượt qua được nỗi sợ hãi của đau đớn và bất lực cũng như ứng phó một cách
hợp lý hơn với hoàn cảnh. Nhờ đó mà quá trình cai nghiện diễn ra có hiệu quả hơn.
Lối tiếp cận hệ thống quan niệm gia đình như một hệ thống mà việc loạn chức
năng có ảnh hưởng quyết định đến các rối nhiễu tâm lý của các thành viên trong gia
đình. C.Madanes (1981) [6] đã xác nhận rằng trong gia đình người nghiện heroin thì
sự đảo lộn trật tự thứ bậc là một đặc trưng. Một số tác giả theo lối này cũng

11


phát hiện trong gia đình người nghiện ma túy nổi bật lên các hành vi vi phạm công
khai hoặc tiềm ẩn và những lời phê phán về các nguyên tắc và điều cấm của xã hội.
Ma túy và các tệ nạn liên quan đến ma túy không còn bó hẹp ở một phạm vi,
một lãnh thổ mà nó đã trở thành một vấn đề bức xúc mang tính toàn cầu. Bởi hậu
quả mà ma túy mang lại rất nghiêm trọng và ảnh hưởng đến mọi mặt từ kinh tế,
chính trị, văn hóa...Với phương châm phòng chống tệ nạn ma túy từ xa, ở một số
nước đã có nhiều công trình nghiên cứu về tâm lý tiến hành ở tuổi vị thành niên,
trong đó tập trung vào hành vi và thái độ của chúng đối với các chất gây nghiện như
café, thuốc lá và các loại rượu. Viện nghiên cứu y học Mỹ 1994 đã nghiên cứu
những yếu tố bảo vệ trẻ thành niên để chúng không sử dụng Alcohol. Những yếu tố
đó bao gồm khả năng kiểm soát bản thân, trong đó các nghiên cứu về lòng tự trọng
của Rulter(1990); Demo (1995) cho thấy lòng tự trọng liên quan đến sử dụng chất
gây nghiện và ngược lại những trẻ có lòng tự trọng thấp thường xuyên sử dụng chất
gây nghiện.
Nghiên cứu của Brook (1990), Hawkin (1992) ở Mỹ chỉ ra các yếu tố quan hệ

nghiện ma túy, người mại dâm sau khi được chữa trị phục hồi” do Nguyễn Văn
Minh năm 2001 làm chủ nhiệm. [25] Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng việc
làm, đời sống người nghiện ma túy, người bán dâm. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng
nhiều khả năng tái nghiện của người nghiện ma túy sau cai do không có việc làm,
mặc dù nghị lực của đối tượng là yếu tố quyết định, sự quan tâm của gia đình là yếu
tố quan trọng giúp đối tượng từ bỏ tệ nạn xã hội. Do vậy, các đề xuất của tác giả
hướng tới hoàn thiện hệ thống các giải pháp tạo việc làm cho đối tượng nhằm giúp
họ ổn định cuộc sống, giảm tỉ lệ tái nghiện và các tệ nạn xã hội.
“Nghiên cứu các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý cai nghiện ma
túy và sau cai” 02 – X07 của tiến sĩ Nguyễn Thành Công, Hà Nội, 2003. [26] Đề tài
đã chỉ rõ một số thực trạng và nguyên nhân nghiện ma tuý, phân tích các biện pháp
cai nghiện. Đồng thời đề tài nghiên cứu và nêu ra những hạn chế, tồn tại của công
tác quản lý cai nghiện và quản lý sau cai, những bất cập trong các quy định của văn
bản pháp luật về cai nghiện và quản lý sau cai từ đó đề xuất giải pháp khắc phục.
13


Tuy nhiên, đề tài chưa đề cập tới thực trạng nghiện ma tuý của một nhóm đối tượng
cụ thể nào, chưa có các giải pháp phòng ngừa mà chỉ tập trung vào nhóm giải pháp
giải quyết hậu quả của việc nghiện ma tuý.
Trong một công trình nghiên cứu công phu của nhiều tác giả do tác giả Phạm
Xuân Hiên và Hồ Bá Thâm đồng chủ biên “Tâm lý học giáo dục nhân cách người
cai nghiện ma túy từ thực tế thành phố Hồ Chí Minh” xuất bản năm 2004 [27] đề
cập đến nguyên nhân, đặc điểm tâm lý, công tác giáo dục nhân cách, đạo đức xã hội
dành cho những người liên quan đến nghiện ma túy. Các tác giả cho rằng, người
nghiện là người rối loạn tâm lý, không àm chủ được hành vi của mình; từ việc
không làm chủ được hành vi của bản thân dẫn đến việc hành động theo ham muốn
bản năng dẫn đến các hành vi lệch chuẩn xã hội, khủng khoảng nhân cách, tha hóa –
nổi loạn nhân cách và việc cai nghiện phục hồi nhân cách, sửa đổi và phát triển
nhân cách người nghiện thành công hay không phụ thuộc vào thái độ, tình thương

Ngoài ra, năm 2005, tác giả Phan Thị Mai Hương với nghiên cứu “Thanh niên
nghiện ma túy nhân cách và hoàn cảnh xã hội” [29] đã đưa ra cách tiếp cận mới về
thanh niên nghiện ma túy - từ góc độ của tâm lý học. Tác giả đã phân tích, hệ thống
hóa những lý luận và đặc điểm nhân cách, hoàn cảnh xã hội và sự ảnh hưởng của
chúng trong việc nghiên cứu hành vi của người nghiện ma túy cũng như quan điểm
về việc giải quyết chúng trong thực tiễn. Kết quả nghiên cứu chỉ ra một số đặc điểm
nhân cách và hoàn cảnh xã hội nổi trội của thanh niên nghiện ma túy, mối quan hệ
giữa các đặc điểm với hành vi nghiện. Trong đó, vai trò gia đình được tác giả tìm
hiểu ở khía cạnh môi trường gia đình gắn với vị thế kinh tế - xã hội có ảnh hướng
đến đặc điểm nhân cách và mức độ nghiện của thanh niên nghiện ma túy, cách quản
lý của cha mẹ với con. Trên cơ sở đó, việc ngăn ngừa hành vi nghiện ma túy và việc
cai nghiện ma túy ở thanh niên cần phải kết hợp giữa tri thức và biện pháp của tâm
lý học. Kết quả nghiên cứu đã định hướng về giáo dục và ứng xử thích hợp với
người nghiện ma túy, cũng như góp phần ngăn ngừa việc làm dụng ma túy ở thanh
thiếu niên.
Năm 2007, nghiên cứu “Những giải pháp thực hiện việc ngăn chặn tệ nạn mại
dâm, ma túy trong thanh thiếu niên” do tác giả Đỗ Thị Bích Điểm làm chủ nhiệm.
[30] Đề tài đánh giá được cơ bản thực trạng nghiện ma tuý trong thanh thiếu niên
15


Việt Nam và đề xuất các giải pháp phòng ngừa cho thực trạng này. Tuy nhiên, đề tài
chưa chia tách được thực trạng nghiện ma tuý trong nhóm thiếu niên và nhóm thanh
niên, do đó đề tài cũng chỉ đề xuất được các giải pháp phòng ngừa chung cho cả
thanh niên và thiếu niên, trong khi đó ở mỗi độ tuổi cần phải có những nhóm giải
pháp phòng ngừa phù hợp. Bên cạnh đó, đề tài chưa đề xuất được nhóm giải pháp
để khắc phục những hậu quả của tình trạng nghiện ma tuý trong thanh thiếu niên.
Năm 2008, Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh Thành phố Hà Nội với
Đề tài khoa học “Tình hình lạm dụng ma túy trong sinh viên các trường Đại học,
Cao đẳng, Trung cấp chuyên nghiệp - Một số biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn”.

Một số công trình nghiên cứu về tệ nạn ma túy của các tác giả Ngô Minh Hiến
– “Nghiên cứu về một số động cơ chủ yếu của người phạm tội mua bán các chất ma
túy ở trại giam Z30-Cục V60 Bộ công an”,[33] Tác giả PGS.TS Nguyễn Xuân Yêm
- “Công trình nghiên cứu nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội ma túy của trẻ vị
thành niên”,[34] Tác giả Thạc sĩ Tiêu Thị Minh Hường - “Thực trạng và thái độ
đối với ma túy của sinh viên trường Đại học Lao động thương binh và Xã hội” [35]
hay đề tài “Tìm hiểu công tác phòng chống ma túy” của tác giả Lê Văn Luyện [36]
… Những đề tài trên nghiên cứu ở góc độ rộng đó là tệ nạn ma túy, nó bao gồm cả
tình trạng nghiện ma túy, tội phạm về ma túy và các hành vi trái phép khác về ma
túy, ít nhiều đã đề cập và đưa ra các giải pháp phòng, chống tệ nạn ma túy nói
chung. Tuy nhiên, hầu hết các công trình nghiên cứu chỉ đi sâu vào những vấn đề
chung nhất về tệ nạn ma túy, rất ít công trình nghiên cứu dành riêng cho công tác
phòng, chống nghiện ma túy đối với thanh niên, nhất là đề cập đến thực trạng tệ nạn
ma túy và các giải pháp phòng, chống ma tuý ở một địa bàn cụ thể. Ở đề tài này tác
giả chọn lựa, đi sâu nghiên cứu và đề xuất các giải pháp phòng chống tệ nạn nghiện
ma túy đối với thanh niên quận Long Biên, Thành phố Hà Nội là tài liệu tham khảo
cho các cán bộ làm công tác xã hội trong nghiên cứu và hoạt động thực tiễn.
Tác giả Lê Hồng Minh với nghiên cứu “Tổ chức tư vấn hướng nghiệp cho
thanh niên sau cai nghiện ở Thành phố Hồ Chí Minh” (2010) [37] đã đề cập khá cụ
thể các loại hình tổ chức quản lý giáo dục người nghiện ma túy và sau cai nghiện
ma túy trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh. Các nội dung phương pháp để hoàn
thiện tổ chức tư vấn hướng nghiệp cho thanh niên sau cai nghiện tại cộng đồng. Về
thực tiễn, nghiên cứu đã hệ thống hóa được các loại hình tổ chức, quản lý giáo dục
người nghiện ma túy và sau cai nghiện ma túy trên địa bàn Thành phố Hồ Chí
17


Minh, đánh giá được thực trạng về cách tổ chức các hoạt động quản lý giáo dục
thanh niên sau cai nghiện ở Thành phố Hồ Chí Minh và chỉ ra các mặt hạn chế để
tìm giải pháp khắc phục, hoàn thiện tổ chức tư vấn hướng nghiệp cho thanh niên sau

các công trình trên đã góp phần làm sáng tỏ về mặt lý luận và thực tiễn của công tác
hỗ trợ người sau cai nghiện tái hòa nhập dựa vào cộng đồng ở nước ta trong giai
đoạn hiện nay. Kết quả nghiên cứu của các công trình đó có giá trị tham khảo tốt để
thực hiện đề tài luận văn. Với việc vận dụng những kiến thức đã học về CTXH đề
tài sẽ tìm hiểu thực trạng công tác hỗ trợ người sau cai nghiện ma túy tái hòa nhập
dựa vào cộng đồng; phân tích, đánh giá những điểm đã làm được và những điểm
chưa làm được thực hiện tại địa phương; đồng thời tìm hiểu những nhu cầu của
người sau cai nghiện, làm rõ vai trò của cán bộ xã hội trong việc hỗ trợ nhóm đối
tượng; từ đó đưa ra những giải pháp theo hướng CTXH nhằm nâng cao hiệu quả
công tác hỗ trợ người sau cai nghiện tại phường Bãi Cháy, thành phố Hạ Long, tỉnh
Quảng Ninh.
Nhìn nhận một cách tổng thể, có thể thấy các nghiên cứu ở trên đã tìm hiểu về
đời sống của người sau cai nghiện ma túy cũng như những vấn đề họ gặp phải trong
cuộc sống, và tiếp cận các dịch vụ trợ giúp họ. Tuy nhiên, các nghiên cứu đó mới
dừng ở một phần nhỏ và đánh giá thực trạng trên một vùng hoặc cả nước, đưa ra các
số liệu và tình hình thực tế; hoặc là tài liệu giảng dạy, lý thuyết chưa thực sự phù
hợp với địa bàn nghiên cứu của đề tài này. Thực tế đang thiếu những nghiên cứu về
các hoạt động trợ giúp cho đối tượng là người sau cai nghiện ma túy tái hòa nhập
cộng đồng, đây chính là cơ sở khoa học cho việc hỗ trợ nghiên cứu đề tài.
Chính vì vậy, cần có nghiên cứu rõ hơn về những khó khăn, rào cản và nhu
cầu của người sau cai nghiện ma túy sau khi trở về tái hoà nhập cộng đồng tại địa
phương sinh sống. Cùng với đó là vai trò, nội dung, phương pháp… CTXH đối với
hoạt động đánh giá, giám sát hoạt động chăm sóc trợ giúp người sau cai nghiện ma
túy sau khi trở về tái hòa nhập cộng đồng. Để từ những kết quả phân tích đánh giá
đó, xác định được những điểm mạnh, phù hợp cũng như những khó khăn, thách
thức và những khoảng trống của mô hình hay hoạt động tại địa bàn nhằm nâng cao
đời sống vật chất và tinh thần cho đối tượng nghiên cứu. Thêm vào đó, đúc kết
những bài học kinh nghiệm, những cách làm tốt phục vụ cho quá trình xây dựng và
triển khai chương trình, hoạt động trọ giúp người sau cai nghiện ma túy tái hòa nhập
19

Phạm vi không gian: phường Bãi Cháy, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.
20


Phạm vi thời gian: từ T3/2013 đến T9/2015.
Nội dung: NVXH đóng vai trò quan trọng trong việc tìm hiểu đánh gia quy mô
cơ cấu cũng như đặc điểm, cách thức tái hòa nhâp cộng đồng của người sau cai
nghiện ma túy cùng với đó là các hoạt động can thiệp và trợ giúp người sau cai
nghiện ma túy tái hòa nhập cộng đồng. Tuy nhiên, trong phạm vi luận văn, tác giả
sẽ tập trung nghiên cứu làm nổi bật vai trò là người tìm hiểu, khám phá cộng đồng,
NVXH đi vào cộng đồng, xác định vấn đề của cộng đồng để đưa ra những theo dõi,
kế hoạch trợ giúp tiếp theo, giới thiệu chuyển giao những dịch vụ cần thiết cho
nhóm đối tượng nghiên cứu trong cộng đồng và vai trò của NVXH trong hoạt động
tìm hiều, đánh giá vấn đề của đối tượng nghiên cứu từ đó đưa ra những kết luận và
khuyến nghị nhằm nâng cao chất lượng đời sống của người sau cai nghiện ma túy
tái hòa nhập cộng đồng.
4. Mục tiêu nghiên cứu
-

Nghiên cứu được thực hiện nhằm tìm hiểu quy mô, cơ cấu và đặc điểm, cách thức
cũng như sự hỗ trợ và các hoạt động trợ giúp cho người sau cai nghiện ma túy tái

-

hòa nhập cộng đồng tại phường Bãi Cháy, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.
Tìm hiểu, nhận định, đánh giá những rào cản, khó khăn thực trạng đến từ bản thân,

-

gia đình và cộng đồng đối của người sau cai nghiện ma túy tái hòa nhập cộng đồng.

-

Thực trạng tái hòa nhập cộng đồng của người sau cai nghiện ma túy tái hòa nhập
cộng đồng ở địa bàn nghiên cứu được thể hiện như thế nào? Họ đang gặp phải

-

những khó khăn, rào cản gì khi quay trở lại cộng đồng sau thời gian cai nghiện?
Người sau cai nghiện ma túy đang nhận được sự trợ giúp như thế nào từ chính
quyền địa phương sở tại? Họ đã được cung cấp những hoạt động hỗ trợ gì? Đối

-

tượng nghiên cứu còn có nhu cầu và mong muốn gì khác cần được đáp ứng?
Vai trò của NVXH được thể hiện như thế nào trong hoạt động tìm hiểu, đánh giá và

-

trợ giúp người cai nghiện ma túy tái hòa nhập cộng đồng ở địa phương?
Làm thế nào để nâng cao chất lượng dịch vụ, hiệu quả hoạt động của đơn vị chủ
quản tại địa phương nghiên cứu?
7. Phương pháp nghiên cứu
Nhằm thu thập các thông tin liên quan đến các chủ đề nghiên cứu, tác giả đã
tiến hành thu thập các tài liệu có liên quan như:

-

7.1. Phương pháp thu thập, nghiên cứu tài liệu
Để có số liệu cụ thể, chính xác về các vấn đề liên quan, nhà nghiên cứu đã tìm hiểu


-

Từ những tài liệu thu thập, tác giả đã sử dụng phương pháp phân tích, so sánh, tổng

-

hợp tài liệu…
7.2. Nhóm phương pháp thu thập thông tin khác
7.2.1. Phương pháp phỏng vấn sâu.
Mục tiêu chung của phương pháp phỏng vấn sâu là giúp người làm nghiên cứu hiểu
sâu, hiểu kỹ vai trò của NVCTXH trong hoạt động đánh giá, trợ giúp cho người sau
cai nghiện ma túy tái hòa nhập cộng đồng. Phương pháp phỏng vấn sâu bán cấu trúc
được sử dụng trong toàn bộ cuộc nghiên cứu. Các hướng dẫn phỏng vấn được xây
dựng chi tiết cho từng đối tượng để đảm bảo thu thập được thông tin đầy đủ phục vụ
cho nghiên cứu. Khảo sát viên được tự do trong cách dẫn dắt cuộc phỏng vấn, cách
đặt trình tự câu hỏi, nhằm thu được những thông tin mong muốn. Khi tiến hành
phỏng vấn, người được hỏi nào am hiểu về vấn đề trong nghiên cứu thì khảo sát
viên tập trung hỏi sâu cá nhân này về vấn đề đó.
Sử dụng phương pháp phỏng vấn sâu với đối tượng là người sau cai nghiện ma
túy và các cán bộ quản lý việc hỗ trợ người cai nghiện của UBND và các đơn vị liên
quan tại địa bàn nghiên cứu để tìm hiểu thực tế việc xây dựng và thực hiện các
chính sách về phòng chống tệ nạn ma túy và hỗ trợ nạn nhân của tệ nạn ma túy tái
hòa nhập cộng đồng và tìm hiểu những thuận lợi khó khăn của thực trạng hoạt động
trợ giúp của các cơ sở hỗ trợ người sau cai nghiện ma túy và các mô hình cung cấp
dịch vụ hoạt động.
Người sau cai nghiện ma túy tái hòa nhập cộng đồng sau quá trình đi cai
nghiện ma túy đã và đang bị ảnh hưởng như thế nào đến đời sống hiện tại, có những
cản trở gì trong quá trình tái hòa nhập cộng đồng. (Nguyên nhân của những khó
khăn đang gặp phải), xác định các nhu cầu chung và riêng của họ, ngoài các dịch vụ
được hỗ trợ tại địa phương, người cai nghiện ma túy có phát sinh những nhu cầu,

o Tương tác giữa những người đối tượng nghiên cứu với NVXH, nhân viên y tế, cán
bộ tại UBND phường;
o Mong muốn của đối tượng nghiên cứu đối với hoạt động chăm sóc trợ giúp;
o Khuyến nghị, giải pháp của ban lãnh đạo, nhóm nguồn lực cung ứng dịch vụ.
7.2.3. Phương pháp nghiên cứu trường hợp
Theo trang 58 -57, Tạp chí Tâm lý học số 10 (79), 10 – 2005 (Thạc sĩ Nguyễn
Bá Đạt – Trường Đại học KHXH&NV- Đại học QGHN) [53] thì nghiên cứu trường
hợp trong khoa học xã hội không phải là một phương pháp nghiên cứu chuyên biệt.
Đó là một phương pháp có tính ứng dụng cao, nhất là trong nghiên cứu thực địa về
một tổ chức, một thiết chế, một nhóm xã hội, một cộng đồng hoặc một sự kiện, một
quyết định. Robert Yin cho rằng: “Nghiên cứu trường hợp trong khoa học xã hội là
khảo sát, đánh giá một hiện tượng xã hội đang diễn ra trong bối cảnh đời sống thực

24


tế”. Người nghiên cứu có thể sử dụng những phương pháp khảo sát, đánh giá khác
nhau để nghiên cứu.
Để thiết kế một nghiên cứu trường hợp trong khoa học xã hội, đầu tiên người
nghiên cứu phải tạo dựng, phát hiện vấn đề cần nghiên cứu. Một thí dụ minh họa
cho luận điểm này. Sau khi phát hiện ra vấn đề cần nghiên cứu, người nghiên cứu
phải phát triển những giả thuyết nghiên cứu liên quan đến những sự kiện cụ thể sẽ
được khảo sát trong công trình nghiên cứu. Bước tiếp theo, người nghiên cứu phải
thu thập những dữ liệu có liên quan đến những giả thuyết nghiên cứu. Robert Yin
lưu ý rằng đây không phải là công việc dễ dàng. Trong một nghiên cứu thực
nghiệm, đối tượng nghiên cứu được đặt trong mối liên kết giữa giả thuyết với các
dữ liệu, trong nghiên cứu trường hợp một sự kiện đương thời rất khó để chỉ ra
những mối liên kết trên. Khả năng liên kết những dữ liệu đã được thu thập với
những giả thuyết được đặt ra liên quan đến bước cuối cùng trong việc thiết kế một
nghiên cứu trường hợp. Đó là việc đề ra những tiêu chuẩn xác định những kết quả


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status