THỰC TRẠNG VỀ TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN THÀNH
PHẨM, TIÊU THỤ THÀNH PHẨM VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ TẠI
XÍ NGHIỆP CARTON SÓNG THUỘC CÔNG TY CỔ PHẦN SẢN
XUẤT VÀ XUẤT NHẬP KHẨU BAO BÌ HÀ NỘI.
2.1. ĐẶC ĐIỂM, TÌNH HÌNH CHUNG CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN SẢN XUẤT
VÀ XUẤT NHẬP KHẨU BAO BÌ HÀ NỘI.
2.1.1.Quá trình hình thành và phát triển
• Tên đơn vị: Công ty cổ phần sản xuất và xuất nhập khẩu bao bì Hà Nội
(Hanoi Packing Prôductin and Export-Import joint stock Company).
• Tên giao dịch: PACKEXIM.
Trụ sở: Số 49, ngõ 15 đường An Dương Vương, phường Phú Thượng, quận Tây Hồ,
Thành phố Hà Nội.
• Văn phòng đại diện: 130B Lò Đúc-Hai Bà Trưng-Hà Nội.
Công ty cổ phần sản xuất và xuất nhập khẩu bao bì Hà Nội là một doanh nghiệp
trực thuộc Bộ Ngoại Thương làm nhiệm vụ sản xuất và cung cấp bao bì trên phạm vi toàn
miền bắc cho nên có thể nói đây là tiền thân của ngành bao bì Việt Nam.
Bộ Ngoại Thương đã ra quyết định số 34/BNGT-TCCP Ngày 16/01/1970 thành lập xí
nghiệp sản xuất bao bì xuất khẩu, trực thuộc Bộ do đồng chí Lê Hồng Sinh làm giám đốc.
Ngày 24/12/1973 Bộ Ngoại Thương đã ra quyết định số 1343/ BNGT-TCCB, tách xí nghiệp
sản xuất bao bì xuất khẩu Hà Nội thành hai xí nghiệp trực thuộc Bộ,đó là:
-Xí nghiệp bao bì xuất khẩu I- Hà Nội (sản xuất túi PE hộp Carton, giấy chống ẩm). Địa
điểm đặt tại Bưởi, Nghĩa Đô, Từ Liêm.
-Xí nghiệp bao bì xuất khẩu II- Hà Nội (sản xuất gỗ, cốt ép, cơ điện). Địa điểm đặt tại
Pháp Vân, Thanh Trì.
Xí nghiệp bao bì xuất khẩu I- Hà Nội là tiền thân của Công ty cổ phần sản xuất và xuất
nhập khẩu bao bì hiện nay.
Yêu cầu của kinh tế và quốc phòng về sản lượng, chủng loại sản phẩm bao bì ngày càng
tăng nhưng xí nghiệp không đủ khả năng do mặt bằng khu vực Nghiã Đô quá chật hẹp.
Vì vậy, để có điều kiện mở rộng sản xuất, Bộ ngoại thượng quyết định để Xí nghiệp bao
bì xuất khẩu I được tiếp quản cơ sở xí nghiệp tre xuất khẩu (công trường 14 thuộc công
ty mây tre tại xã Phú Thượng-Từ Liêm). Và cũng để có điều kiện đầu tư, mở rộng sản
Cán bộ, công nhân viên công ty sản xuất và xuất nhập khẩu bao bì đã luôn luôn thể hiện
nét đặc trưng nổi bật trongquá trình xây dựng và trưởng thành: là càng khó khăn càng xiết chặt
hàng ngũ vượt qua khó khăn, thử thách để phấn đấu đi lên.
Công ty tuy là một đơn vị nằm trong ngành Ngoại Thương nhưng chỉ sau khi chuyển
thành công ty thì mới thành lập bộ phận xuất nhập khẩu. Đối với công ty hoạt động kinh doanh
xuất nhập khẩu còn mới mẻ, cán bộ chưa được đào tạo chuyên sau nên cũng không tránh khỏi
thiếu sót và hạn chế. Trong điều kiện vay vốn Ngân hàng 100%, cơ chế thị trường cạnh tranh
gay gắt nhưng lĩnh vực xuất nhập khảu đã được củng cố. Hoạt động kinh doanh xuất nhập
khẩu có hiệu quả đã hỗ trợ tích cức cho sản xuất bao bì phát triển và đóng góp đáng kể cho
thành tích công ty.
Ngày 19/11/2004 công ty đã chuyển đổi thành công ty cổ phần-đánh dấu một giai đoạn
chuyển đổi mới cả về chất và lượng.
Từ đó đến nay, công ty đã không ngừng mở rộng quan hệ kinh tế với bên ngoài, tận dụng
năng lực sản xuất hiện có, khai thác ưu thế thị trường trong và ngoài nước, một mặt đáp ứng
nhu cầu thị trường, mặt khác nâng cao đời sống của cán bộ công nhân viên, đem lại nguồn thu
nhập cho công ty.
Kết quả sản xuất kinh doanh 2000-2006:
(Một số chỉ tiêu chủ yếu)
Năm Đầu tư
(1000đ)
Doanh thu
(1000đ)
Nộp ngân
Sách
(1000đ)
Thu nhập
Bình quân
(đ/tháng)
Lợi nhuận
cáo có hiệu quả. Nhận thức được rõ ràng vấn đề đó, công ty đã sản xuất ra các sản phẩm vừa
đảm bảo về chức năng, vừa đảm bảo về mặt thẩm mỹ. Chính vì thếmà thị trường tiêu thụ sản
phẩm của công ty ngày càng được mở rộng.
Sản xuất phải thỏa mãn nhu cầu của người mua, có như vậy mới mong bán được sản
phẩm và thu được lợi nhuận. Trên thực tế thì nhu cầu người mua ngày càng tăng về số lượng
và chất lượng, đặc biệt là vềmặt chất lượng, nhất là Việt Nam vừa được gia nhập tổ chức
WTO. Sự bảo hộ bằng hàng rào thuế quan không còn nữa, công ty sẽ phải cạnh tranh với các
công ty sản xuất bao bì lớn trong khu vực và trên thế giới.Tất cả những điều đó buộc
PACKEXIM phải luôn đổi mới mình trong đó việc đầu tư đổi mới trang thiết bị máy móc hiện
đại về cả bề rộng lẫn chiều sâu được coi là nhân tố quyết định đến sự tồn tại và phát triển của
công ty.
Công ty có 3 xí nghiệp thành viên trong đó xí nghiệp Carton sóng là thành viên chính.
- Xí nghiệp Carton sóng.
- Xí nghiệp in hộp phẳng.
- Xí nghiệp bao bì nhựa.
Từ chỗ chỉ có 1 máy in Trung Quốc, đến nay công ty đang vận hành :
+ 1 dàn máy Carton sóng của Nhật được trang bị từ năm 1985.
+ Máy in offet của Đài Loan.
+ Máy in roland của Đức.
+ Máy in 8 màu trên ống đồng và máy ghép phức hợp để sản xuất các sản phẩm đồ nhựa và túi
polytilen.
Bên cạnh việc chú trọng đầu tư về dây chuyền sản xuất, công ty còn quan tâm đến việc
không ngừng nâng cao trình độ tay nghề của đội ngũ quản lý, kỹ sư, côngnhân để thích ứng với
tình hình sản xuất mới. Với mứclương bình quân hiện nay là 1.400.000 đông/ người/tháng. Chế
độ lao động được thực hiện đầy đủ. Ngoài ra hàng năm công ty còn tham gia công tác xã hội
quan tâm chăm lo đến đơì sống cán bộ công nhân viên. Vì thế cán bộ công nhân viên thực sự
an tâm phấn đấu và gắn bó với công ty.
2.1.2.2 Đặc điểm tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh
Như phần trên đã trình bày về quá trình hình thành côngty ta thấy PACKEXIM đã phải
thay đổi đặc điểm quy mô của mình để thích ứng với nhu cầu thị trượng, chính vì thế cơ cấu tổ
nội bộ, được sử dụng con dấu vuông để giao dịch và mở tài khoản chuyên dùng, chịu trách
nhiệm thực hiện sản xuất, quản lý tài sản, đảm bảo an toàn lao động cho công nhân và hoàn
thành các chỉ tiêu Công ty giao.
Chủ tịch HĐQT
Tổng giám đốc
Phó
Chủ tịch HĐQT
Phó
Tổng giám đốc
Phòng
TC-KT
Phòng
QLSX
Phòng
Vật tư-HH
Phòng
Hành chính
Ban
Bảo vệ
Trung tâm
XNK
Phòng
Kinh doanh
Xưởng
Bao bì nhựa
Xưởng in
Hộp phẳng
Xưởng
Carton song
- Phòng kinh doanh và phòng xuất nhập khẩu: chịu trách nhiệm trước Phó chủ tịch hội đồng
Kế toán chi
phí lưu thông
và tiêu thụ
Kế toán
TSCĐ và
nguồn vốn
Kế toán
nguyên vật
liệu,CCDC
Kế toán
lương, bảo
hiểm
Kế toán vốn
bằng tiền và
thanh toán
Kế toán các
phòng xuất
nhập khẩu
Kế toán phân
xưởng nhựa
Kế toán phân
xưởng in hộp
phẳng
Kế toán phân
xưởng sóng
kinh doanh để từ đó có chiến lược và biện pháp thích hợp tối đa hóa lợi nhuận ở mỗi phân
xưởng.
2.2 ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA XÍ NGHIỆP CARTON SÓNG THUỘC CÔNG TY CỔ
PHẦN SẢN XUẤT VÀ XUẤT NHẬP KHẨU BAO BÌ HÀ NỘI
2.2.1 Đặc điểm tổ chức sản xuất kinh doanh và quy trình công nghểan xuất sản phẩm ở xí
Khi khách hàng gửi fax đặt hàng đến Xí nghiệp, Xí nghiệp đồng ý và Giám đốc Xí nghiệp tiến
hành ký kết hợp đồng với khách hàng. Dựa trên đơn đặt hàng, phó giám đốc sản xuất lập Phiếu
giao cho từng tổ sản xuất. Sau đó, mỗi tổ sản xuất sẽ có chức năng và nhiệm vụ riêng tiến hành
công việc được giao để hoàn thành việc sản xuất sản phẩm cuối cùng. Từ các nguyên vật liệu
như: giấy, keo cùng với nhiệt độ từ lò thông hơi qua băng chuyền của tổ máy giấy là giàn máy
Carton sóng sẽ tạo ra tấm Carton sóng. Tấm Carton sóng nếu không phải in thì được đưa thẳng
tới tổ máy dọc, máy ngang để tạo kích cỡ cho tấm bìa; còn nếu phải in thì tấm Carton sóng sẽ
được chuyển sang tổ in, trong tổ in đã bao gồm cả chế bản, tấm Carton sóng có thể được in
bằng máy hoặc in lười tùy thuộc yêu cầu về mẫu mã sản phẩm của khách hàng. Sau khi in
xong, nó sẽ chuyển đến tổ máy dọc, máy ngang. Tổ này có nhiệm vụ cắt rãnh, cắt góc và tạo
hằn cho tấm bìa. Cuối cùng, tấm bìa sẽ được dập ghim hoặc dán để tạo thành thành phẩm. Mỗi
người trong tổ đều có trách nhiệm kiểm tra, giám sát quá trình sản xuất của mình sao cho có
hiệu quả nhất. Toàn bộ thành phẩm hoàn thành phải qua bộ phận KCS kiểm tra chất lượng
đúng theo tiêu chuẩn đã quy định mới được nhập kho và giao cho khách hàng đúng như hợp
đồng dã ký kết.
2.2.2 Đặc điểm tổ chức bộ máy quản lý của xí nghiệp
Để đảm bảo cho sản xuất có hiệu quả và quản lý sản xuất tốt, xí nghiệp tổ chức bộ máy
quản lý gọn nhẹ, theo quy mô hình thức trực tuyến chức năng.
Sơ đồ bộ máy quản lý của xí nghiệp Chức năng, nhiệm vụ của từng bộ phận:
Giám đốc là người có quyền lực cao nhất, giúp việc cho giám đốc là hai phó giám đốc,
tiếp theo là các phòng ban và các tổ sản xuất.
- Giám đốc xí nghiệp chịu trách nhiệm chung và chịu sự chỉ đạo của giám đốc công ty.
- Hai phó giám đốc vừa tham mưu cho giám đốc vừa quản lý các phòng ban thuộc
trách nhiệm của mình, thu nhập và cung cấp đầy đủ các thông tin về sản xuất kinh
doanh giúp giám đốc lãnh đạo xí nghiệp.
+ Phó giám đốc phụ trách sản xuất có nhiệm vụ thiết kế các công việc cần làm cho các
Phòng kế toánPhó giám đốc
Sản xuất
Phó giám đốc
Kinh doanh
Tổ máy giấy
Sơ đồ bộ máy kế toán ở xí nghiệp bao bì Carton sóng:
Chức năng, nhiệm vụ của từng bộ phận kế toán:
- Kế toán tổng hợp: là người thay mặt kế toán trưởng Công ty thực hiện chức năng và
nhiệm vụ kế toán tại Xí nghiệp theo quy chế phân cấp quản lý của giám đốc Công ty.
- Kế toán vật tư: theo dõi tình hình nhập-xuất-tồn vật tư: nguyên, nhiên, vật liệu, phụ
tùng thay thế.
Kế toán vật tư theo dõi chi tiết cho từng loại vật tư, cuối tháng lập bảng tổng hợp vật tư
rồi chuyển cho các bộ phận kế toán khác có liên quan.
- Kế toán thành phẩm: theo dõi, phản ánh chính xác đầy đủ, kịp thời và giám đốc chặt
chẽ tình hình hiện có và sự biến động nhập-xuất-tồn của từng loại thành phẩm cả về
số lượng và giá trị. Thủ quỹ theo dõi sự biến động và số hiện còn của từng loại tiền
mặt, tiền gửi ngân hàng qua tài khoản của xí nghiệp tại ngân hàng.
- Kế toán bán hàng và thanh toán công nợ: theo dõi chặt chẽ tình hình tiêu thụ và thanh
toán các khoản công nợ.
- Kế toán tiền lương, BHXH, BHYT: theo dõi, tính toán tiền lương và các khoản bảo
hiểm cho cán bộ công nhân viên ở xí nghiệp.
- Thủ kho: theo dõi tình hình nhập-xuất-tồn kho nguyên vật liệu, thành phẩm, đối chiếu
thường xuyên với kế toán vật tư và kế toán thành phẩm.
2.2.3.2 Hình thức kế toán áp dụng
Hình thức kế toán là hệ thống sổ kế toán được sử dụng để ghi chép và hệ thống hóa và
tổng hợp số liệu từ các chứng từ kế toán theo một trình tự và phương pháp ghi chép nhất định.
Vận dụng hình thức kế toán phù hợp sẽ tạo điều kiện thuận lợi trong việc kiểm tra, quản lý và
đảm bảo thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của từng phần hành kế toán.
Căn cứ vào đặc điểm cụ thể của xí nghiệp và cơ cấu tổ chức bộ máy cũng như trình độ
của công nhân viên kế toán, từ ngày 01/01/1994 phòng kế toán xí nghiệp áp dụng hình thức kế
* Phương pháp hạch toán hàng tồn kho tại xí nghiệp
Ở xí nghiệp, các nghiệp vụ nhập-xuất-tồn thường xuyên xảy ra. Do vậy, để phản ánh một
cách đầy đủ, kịp thời, chính xác tình hình nhập-xuất-tồn hàng tồn kho nói chung và tình hình
nhập-xuất-tồn thành phẩm nói riêng; đòi hỏi kế toán phải lựa chọn và áp dụng phương pháp kế
toán thích hợp.
Là một bộ quan trọng thuộc TSLĐ của Công ty, việc hạch toán chính xác, đầy đủ, kịp
thời giá trị hàng tồn kho không những là cơ sở để xác định kết quả sản xuất kinh doanh mà còn
là một trong những căn cứ để xác định giá trị thực có của đơn vị. Để thích ứng với yêu cầu và
nhiệm vụ của mình trong quá trình hạch toán kế toán, xí nghiệp đã lựa chọn và áp dụng kế toán
hàng tồn kho theo phương pháp kê khai thường xuyên để phản ánh một cách thường xuyên liên
tục các nghiệp vụ phát sinh và liên quan đến hàng tồn kho nói chung, thành phẩm nói riêng của
xí nghiệp.
* Niên độ kế toán và kỳ kế toán
Niên độ kế toán: xí nghiệp áp dụng thống nhất theo quy định của nhà nước, bắt đầu từ
ngày 01/01 đến ngày 31/12.
Kỳ kế toán: 1 tháng.
* Hệ thống báo cáo ở xí nghiệp bao gồm:
Bảng cân đối kế toán (mẫu B01-DN)
Báo cáo kết quả kinh doanh (mẫu B02-DN).
Các báo cáo này được lập theo tháng.
Chứng từ gốc: Phiếu
nhập kho,Phiếu xuất
kho,Hóa đơn GTGT
Báo cáo tài chính
Bảng tổng hợp chi
tiết
Sổ
quỹ
Bảng cân đối tài khoản
Sổ cái TK
Quản lý về mặt số lượng, chất lượng: luôn kiểm tra đảm bảo đúng tiến độ sản xuất để có
thể hoàn thành đúng kế hoạch, phải kiểm kê số lượng thành phẩm trước khi giao hàng cho
khách hàng, đồng thời phải đảm bảo yêu cầu về mẫu mã, quy cách, chủng loại sản phẩm theo
đúng đơn đặt hàng, phải được qua bộ phận KCS kiểm tra sản phẩm trược khi giao hàng: thành
phẩm không bị bong dột, đủ độ kết dính, đủ dộ dày sóng, độ cứng. Nếu sản phẩm không đúng
chất lượng sẽ được tận dụng để làm đệm và vách đặt trong hộp hoặc đem bán cho cơ sở khác.
Quản lý về mặt giá trị tính toán và xác định đúng đắn giá trị của thành phẩm khi nhập,
xuất kho.
Bên cạnh đó, xí nghiệp đã tổ chức kho bảo quản thành phẩm một cách hợp lý, thành
phẩm sau khi qua bộ phận KCS được vận chuyển vào kho, việc ra vào kho được quản lý một
cáh chặt chẽ do Thủ kho thành phẩm giám sát và chịu trách nhiệm vật chất. Việc sắp xếp, bố trí
nơi để thành phẩm nhập kho được phân loại theo từng đối tượng khách hàng, có đánh dấu để
nhận biết giúp cho việc cung cấp sản phẩm một cách tiện lợi, nhanh chóng nhất.
2.3.1.3 Đánh giá thành phẩm
Thành phẩm ở Xí nghiệp có nhiều quy cách, mẫu mã, chủng loại khác nhau và luôn có sự
biến động thường xuyên về số lượng và giá trị, việc nhập, xuất kho diễn ra hàng ngày. Để phục
vụ cho việc hạch toán kịp thời và tính toán chính xác giá trị thành phẩm nhập, xuất kho kế toán
đã sử dụng phương pháp đánh giá thành phẩm theo giá thực tế.
Đánh giá thành phẩm nhập kho: do Xí nghiệp sản xuất theo đơn đặt hàng, nên đối tượng
kế tóan chi phí sản xuất được xác định là từng loại thành phẩm; đối tượng tính giá thành là
từng loại thành phẩm. Đối tượng kế toán chi phí sản xuất và đối tượng tính giá thành phù hợp
nhau, kế toán sử dụng phương pháp giản đơn để tính giá thành với kỳ tính gía thành hàng
tháng.
Tổng giá thành = Chi phí sản xuất + Chi phí sản xuất - Chi phí sản xuất
dở dang đầu kỳ phát sinh trong kỳ dở dang cuối kỳ
Hiện nay, Xí nghiệp đang áp dụng phương pháp đánh giá thành phẩm dở dang theo chi phí
nguyên vật liệu chính trực tiếp. Vì chi phí nguyên vật liệu chính trực tiếp chiếm tỷ trọng lớn
trong tổng chí phí, các nguyên vật liệu chính như: giấy Duplex và giấy Kraft. Theo phương
pháp này, giá trị sản phẩm dở dang chỉ tính phần chi phí nguyên vật liệu chính trực tiếp, còn
các khoản chi phí khác tính cho cả sản phẩm hoàn thành. Mặt khác, để đơn giản và giảm bớt
phẩm sau khi kết thúc quá trình sản xuất hoàn thành, được bộ phận KCS kiểm tra chất lượng,
xác nhận phù hợp với tiêu chuẩn quy định được nhập trực tiếp vaò kho thành phẩm ở Xí
nghiệp sau đó sẽ được giao cho khách hàng; Nghiệp vụ nhập, xuất thường diễn ra trong cùng
một ngày nên các Chứng từ chủ yếu bao gồm: lệnh xuất kho (hay gọi là Phiếu xuất kho), hóa
đơn GTGT mà không cần dùng Phiếu nhập kho giúp cho việc ghi chép, quản lý chứg từ của kế
toán thành phẩm và thủ kho thành phẩm ở Xí nghiệp được đơn giản hơn. Thủ kho sử dụng sổ
ghi chép hàng ngày để ghi số lượng thực tế nhập kho hàng ngày.
• Quá trình xuất kho thành phẩm: Lệnh xuất kho phản ánh tình hình xuất kho
thành phẩm bán cho khách hàng. Thủ kho được sự ủy quyền của Giám đốc Xí nghiệpviết lệnh
xuất kho. Thông thường số lượng sản phẩm sản xuất thực tế có thể lớn hơn hoặc nhỏ hơn so
với yêu cầu của đơn dặt hàng nhưng Xí nghiệp giao cho khách hàng số lượng thực tế sản xuất
và vẫn được khách hàng chấp nhận. Khách hàng hoặc người lái xe của xí nghiệp trực tiếp đến
kho đẻ nhận Lệnh xuất kho sau đó đưa lên phòng kế toán, kế toán bán hàng và thanh toán công
nợ sẽ viết Hóa đơn GTGT cho số hàng đó; đơn giá bán trên hóa đơn do Phó giám đốc phụ
trách sản xuất hoặc Giám đốc tính giá sau đó hỏa thuận với khách hàng; công việc tính giá
được tiến hành sau khi nhận được fax đặt hàng của khách hàng, Phó giám đốc phụ trách sản
xuất hoặc Giám đốc sẽ căn cứ vào tiêu chuẩn khách hàng đưa ra về mẫu mã, chất lượng thành
phẩm; loại bìa 2 lớp, 3 lớp, 4 lớp, 5 lớp toàn nội hay thùng 5 lớp 1 ngoại… để từ đó có giá cả
hợp lý nhất.
Hóa đơn GTGT được lập làm 3 liên:
+Liên 1(màu tím): lưu lai quyển gốc.
+Liên 2(màu đỏ):giao cho khách hàng làm căn cứ ghi sổ kế toán của đơn vị mua.
+Liên 3(màu xanh):dùng để thanh toán nội bộ giữa đơn vị bán và mua do kế toán công
nợ giữ.
Hóa đơn GTGT phải có đày đủ chữ ký, họ tên của những người liên quan và đóng dấu
đỏ; lệnh xuất kho phải có chữ ký của Thủ kho và Giám đốc Xí nghiệp. Sau đó, Lệnh xuất kho
và Hóa đơn GTGT sẽ được khách hàng đưa xuống thủ kho và thủ kho ký xác nhận vào hóa
đơn, ghi số seri của hóa đơn vào Lệnh xuất kho làm căn cứ ghi số chứng từ trên Thẻ kho; sau
đó giao hàng cho khách hàng.
Nếu khách hàng bằng tiền mặt ngay thì thủ quỹ sẽ viết Phiếu thu và thu tiền. Trường
Địa chỉ: Phường Chăm Mát- Thị xã Hòa Bình
Số tài khoản:
Hình thức thanh toán: CK sau MST: 5400105260
STT Tên hàng hóa, dịch vụ Đơn vị tính Số lượng Đơn giá Thành tiền
A B C 1 2 3
Thùng 5L-in 1 màu+ vách 385
X250x165 chiếc 3850 2281 8.781.856
Thùng 5L-in 2 màu+ vách 150 4.100 615.000
435x248x152 chiếc
Vách 5L 243x152 chiếc 850 140 119.000
Cộng tiền hàng: 9.515.856
Thuế suất GTGT: 10% tiền thuế GTGT: 951.586
Tổng cộng tiền thanh toán 10.467.442
Số tiền viết bằng chữ: (Mười triệu bốn trăm sáu bảy ngàn bốn trăm bốn hai đồng).
Người mua hàng Người bán hàng Thủ trưởng đơn vị
(ký, ghi rõ họ tên) (ký, ghi rõ họ tên) (ký, ghi rõ họ tên, đóng dấu)
2.3.1.5 Kế toán chi tiết thành phẩm
Để đáp ứng yêu càu quản lý thành phẩm theo từng loại, kích cỡ khác nhau kế toán chi
tiết thành phẩm tại Xí nghiệp được tiến hành theo phương pháp ghi thẻ song song. Việc hạch
toán chi tiết thành phẩm được tiến hành ở 2 nơi: ở kho và ở phòng kế toán.
Từ Lệnh xuất kho và Sổ ghi chép hằng ngày sẽ làm căn cứ để ghi vào Thẻ kho và để
thực hiện theo dõi xuất nhập kho thành phẩm. Cụ thẻ như sau:
Tại kho: do số lần nhẩptong tháng nhiều nên Xí nghiệp mở Thẻ kho theo từng tháng và
mở chi tiết cho từng loại thành phẩm.
Hằng ngày, căn cứ vào Lệnh xuất kho và Sổ ghi chép hàng ngày để ghi vào Thẻ kho
theo số lượng thành phẩm thực nhập, thực xuất. Cuối tháng, thủ kho tiến hành cộng trên thẻ
kho tính ra số lượng thành phẩm tồn cuối tháng; đồng thời kiểm kê thành phẩm tồn kho thực
tế bằng việc lập bảng kiểm kê thành phẩm xem có khớp đúng với thẻ kho hay không.