Quan hệ kinh tế quốc tế vấn đề phát triển kinh tế đối ngoại ở việt nam hiện nay tiểu luận cao học - Pdf 50

A. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong quá trình toàn cầu hóa nền kinh tế, mở rộng thị trường các quốc gia
sống trong một ngôi nhà chung, do đó mọi vấn đề đều được giải quyết chung
không còn mang tính chất riêng rẽ của một quốc gia, một dân tộc, hội nhập kinh
tế tạo ra môi trường thuận lợi cho các quốc gia đẩy mạnh phát triển kinh tế đất
nước tuy nhiên nếu quốc gia nào không chịu thay đổi mình không đẩy mạnh
phát triển kinh tế thì việc tụt hậu là điều không tránh khỏi.
Kinh tế quyết định chính trị, kinh tế có bền vững thì chính trị mới ổn định,
kinh tế và tiền đề cho một quốc gia phát triển, nói đến một quốc gia phát triển ta
không thể không đánh giá qua GDP của quốc gia đó.
Ngày nay trong quá trình toàn cầu hóa các quốc gia phải biết tận dụng các
mặt thuận lợi cũng như biết phát huy các thế mạnh và hạn chế những mặt yếu
kém, khắc phục những điều đó để đưa quốc gia mình ngày càng phát triển sánh
cùng với các quốc gia trong khu vực và trên thế giới, biết phát huy nhân tố bên
trong cũng như kết hợp yếu tố bên ngoài để có được sức mạnh tổng thể.
Trong chiến lược phát triển kinh tế của quốc gia có thể nói chính sách đối
ngoại rất quan trọng đối với bất kỳ nước nào đặc biệt đối với các nước đang phát
triển như Việt Nam.
Đối với Việt Nam là một nước nông nghiệp nghèo nàn lạc hậu, kém phát
triển, trang thiết bị kết cấu hạ tầng còn thấp trong khi Việt Nam cũng là một bộ
phận của nền kinh tế thế giới, có sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế khoa học kỹ
thuật, công nghệ, Việt Nam có lợi thế hơn các quốc gia khác là có thiên nhiên
ban phú cho, có tài nguyên thiên nhiên, nguồn lao động dồi dào, có nguồn lao
động trẻ hóa dó đó việc Việt Nam mở rộng quan hệ ngoại giao về kinh tế, hội
nhập cùng nền kinh tế chung trên thế giới là một điều cần thiết dó đó em đã
chọn tên đề tài “ vấn đề phát triển kinh tế đối ngoại ở Việt Nam hiện nay – Lý
luận – thực tiễn – chính sách và giải pháp”
Bài làm gồm các nội dung sau:

1


nhập nền kinh tế thì mỗi quốc gia không thể phát triển một cách riêng biệt, độc
lập mà cần phải tự cân đối bởi mỗi quốc gia là một bộ phận của nền kinh tế thế
giới do đó việc hội nhập nền kinh tế là một nhu cầu tất yếu.
Theo thuyết về lợi ích tuyệt đối của Ađam Xmit một nước chỉ sản xuất
những mặt hàng hóa sử dụng tốt nhất các loại tài nguyên của nước đó, theo
thuyết của Đavit Ricacdo ông khẳng định rằng nếu một quốc gia có hiệu quả sản
xuất thấp hơn một quốc gia khác thì quốc gia đó vẫn có thể tham gia vào thương
mại, quốc tế để tạo ra lợi ích.
Hiện nay khoa học và công nghệ đặc biệt là công nghệ thông tin và công
nghệ sinh học, tiếp tục có những bước nhảy vọt, ngày càng trở thành lực lượng
sản xuất trực tiếp, thúc đẩy sự phát triển kinh tế tri thức, làm chuyển dịch nhanh
3


cơ cấu kinh tế và biến đổi sâu sắc các lĩnh vực của đời sống xã hội. Tri thức và
sở hữu trí tuệ có vai trò ngày càng quan trọng. Trình độ làm chủ thông tin tri
thức có ý nghĩa quyết định sự phát triển. Chu trình luân chuyển vốn, đổi mới
công nghệ và sản phẩm ngày càng được rút ngắn; các điều kiện kinh doanh trên
thị trường thế giới luôn thay đổi đòi hỏi các quốc gia cũng như doanh nghiệp
phải rất nhanh nhạy nắm bắt thích nghi.
Tác động của cách mạng khoa học công nghệ với cường độ mạnh hơn và
trình độ cao hơn làm thay đổi cơ cấu các ngành sản xuất và dịch vụ mạnh mẽ
hơn, sâu sắc hơn, lực lượng sản xuất cũng phát triển ở trình độ cao hơn, các
ngành kinh tế trở nên mềm hoá, khu vực phi hình thức được mở rộng "kinh tế
tượng trưng" có quy mô lớn hơn nền "kinh tế thực" nhiều lần. Cơ cấu lao động
theo ngành nghề có sự thay đổi sâu sắc, xuất hiện nhiều ngành nghề mới với sự
đan kết của nhiều lĩnh vực khoa học công nghệ, của sự phân công lao động quốc
tế, vai trò và tầm hoạt động mới của Công ty đa quốc gia và xuyên quốc gia, quá
trình hợp tác hoá và quốc tế hoá nền kinh tế thế giới ngày càng phát triển mạnh
mẽ cả chiều rộng và chiều sâu trên cấp độ toàn cầu hoá và khu vực hoá, đưa nền

là động lực cho phát triển do đó xã hội ngày càng phát triển để đáp ứng nhu cầu
của xã hội.
Với sự phát triển của khoa học công nghệ với sự ra đời của máy móc, nền
sản xuất theo dây truyền đã tạo nên số lượng hàng hóa dư thừa cùng với đó là
như cầu của con người ngày một tăng cao đã là động lực cho trao đổi mua bán
giữa các cá nhân, các quốc gia vượt ra khỏi phạm vi lãnh thổ.
Do sự phân bố không đồng đều về tiềm năng kinh tế trên thế giới sự khác
biệt về lãnh thổ, tài nguyên thiên nhiên, khí hậu, khoáng sản.... đã tạo nên việc
các quốc gia tập trung sản xuất loại hàng hóa thế mạnh của quốc gia mình do đó
họ phải trao đổi để cân bằng hàng hóa, xuất khẩu đi các mặt hàng mà mình dư
thừa nhập khẩu mặt hàng mà quốc gia mình đang thiếu hụt để đáp ứng như cầu
sinh hoạt.
Với xu thế của thời đại với việc phát triển khoa học công nghệ đã tạo ra
khoảng cách giữa các quốc gia, do đó đây cũng chính là cầu nối đưa các quốc

5


gia gần nhau hơn nữa nhằm học tập kinh nghiệm sự phát triển của các quốc gia
đi trước.
Trên thực tế có rất nhiều các tổ chức các quốc gia tham gia vào quá trình
phát triển kinh tế như; các nhà đầu tư quốc tế ủng hộ cả về vốn và khoa học
công nghệ, các nguồn vốn viện trợ ngắn hạn hoạc dài hạn và cũng có nguồn vốn
không hoàn lại như vốn đầu tư ODA của chính phủ một số nước, các tổ chức
liên hợp quốc, các nhà đầu tư nước ngoài FDI với việc mua lại một bộ phận, cổ
phiếu hay toàn bộ doanh nghiệp đã tạo điều kiện cho nền kinh tế việt nam phát
triển.
Các nguồn vốn hổ trợ của các tổ chức rất có ý nghĩa đối với các quốc gia
đang phát triển và các quốc gia chậm phát triển, việc viện trợ không chỉ về kinh
tế mà còn viện trợ về khoa học lỹ thuật tạo điều kiện cho các quốc gia co nền

mặt hàng như dệt may, đồ đông lạnh như cá Basa, tôm... các loại như Điều Hồ
tiêu cao su... có thể nói những mặt hàng này đã tạo nên tiếng nói, khẳng định
việt nam trên trường qucs tế
Xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa chúng ta đã
đạt kết quả cao trong việc xây dựng khung pháp lý cho sự ra đời của luật doanh
nghiệp từ đó tạo nên môi trường ổn định cho nền kinh tế.
Quan hệ song phương đa phương ngày càng mở rộng và đạt được nhiều
hiệu quả cao, năm 2000 Việt nam ký hiệp định thương mại Việt Nam Hoa Kỳ,
gia nhập WTO đã tạo điều kiện cho các cuộc chuyển giao khoa học công nghệ.
Góp phần nối liền sản xuất và trao đổi trong nước với sản xuất và trao đổi
quốc tế; nối liền thị trường trong nước và thị trường thế giới và khu vực.
Hoạt động kinh tế đối ngoại góp phần thu hút vốn đầu tư trực tiếp (FDI) và
vốn viện trợ chính thức từ các chính phủ và tổ chức tiền tệ quốc tế (ODA); thu
hút khoa học, kỹ thuật, công nghệ khai thác và ứng dụng những kinh nghiệm
xây dựng và quản lý nền kinh tế hiện đại vào nước ta.
Góp phần tích luỹ vốn thực hiện sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá
đất nước đưa đất nước ta từ một nước nông nghiệp lạc hậu lên nước công nghiệp
tiên tiến hiện đại.

7


Góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo ra nhiều công ăn việc làm, giảm
tỷ lệ thất nghiệp, tăng thu nhập, ổn định và cải thiện đời sống nhân dân theo mục
tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Những vai trò to lớn của kinh tế đối ngoại chỉ đạt được khi hoạt động kinh
tế đối ngoại vượt qua được những thách thức của toàn cầu hoá và giữ đúng định
hướng xã hội chủ nghĩa.
Từng bước hình thành kết cấu hạ tầng then chốt cho nền kinh tế, với sự
phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, khoa học kỹ thuật, các doanh

hạn chế đáp ứng nhu cầu của người, dặc biệt đới với đồng bào vùng xa, dân tộc
thiểu số
Mở rộng thị trường đã tạo điều kiện cho Việt Nam học hỏi kinh nghiệm,
tiếp thu khoa học kỹ thuật, nhận các nguồn viện trợ, xây dựng có sở vật chất, hệ
thống giao thong vận tải.
Việc triển khai thực hiện đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước đã đạt
được kết quả khá toàn diện, tiếp tục củng cố và nâng cao vị thế nước ta trên
trường quốc tế, góp phần thiết thực phát triển kinh tế, xã hội của đất nước.
Đã chủ động triển khai có hiệu quả nhiều hoạt động đối ngoại song
phương, nhất là các chuyến thăm của lãnh đạo cấp cao Đảng, Nhà nước đạt được
những kết quả quan trọng, đưa quan hệ với các nước láng giềng, các nước lớn,
các nước bạn bè truyền thống đi vào chiều sâu, ổn định và bền vững hơn. Công
tác phân giới cắm mốc đạt được những kết quả quan trọng.
Các hoạt động đa phương được đẩy mạnh. Lần đầu tiên đảm nhận vai trò
Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, Việt Nam đã có
những đóng góp tích cực và đã làm tốt cương vị Chủ tịch luân phiên Hội đồng
Bảo an. Đã tham gia có trách nhiệm vào việc củng cố và tăng cường hợp tác
trong ASEAN và ASEAN với các đối tác.
Công tác vận động nguồn Hỗ trợ phát triển chính thức (ODA), thu hút đầu
tư nước ngoài (FDI, FII) đem lại kết quả thiết thực; đã chủ động hơn trong đàm
phán, ký kết các hiệp định về thiết lập khu vực mậu dịch tự do và hỗ trợ tích cực
doanh nghiệp mở rộng thị trường.

9


Công tác ngoại giao văn hóa và tuyên truyền đối ngoại được đẩy mạnh góp
phần quảng bá và nâng cao hình ảnh đất nước, con người Việt Nam trên thế giới.
Công tác người Việt Nam ở nước ngoài được coi trọng. Đã lập Quỹ bảo hộ
công dân, miễn thị thực nhập cảnh, triển khai đề án dạy tiếng Việt, đang nghiên

tới các quốc gia toàn thế giới và với tốc độ tăng truởng nhanh từ đó tạo điều
kiện cho chúng ta học tập, mở rộng quan hệ thúc đẩy phát triển kinh tế.
Đối với cá nước láng giềng đẩy mạnh các hoạt động hữu nghị tạo điều kiện
thuận lợi cho quá trình phát triển học tập, tạo khung pháp lý, môi trường ổn định
để các nhà đầu tư xây dựng thị trường, thiết lập quan hệ lâu dài giữa các quốc
gia, tôn trọng chủ quyền và không can thiệp vào công việc nội bộ của nước
khác. Tôn trọng các điều trong nghị định thông tư, không đưa ra các điều kiện có
hại cho nhau, không dùng các thủ đoạn can thiệp vào công việc của nhau.
Việt nam là quốc gia có dân số đông người trong độ tuổi lao động lớn do đó
các quốc gia, các nhà đầu tư có thể đầu tư vào Việt Nam để dử dụng nguồn nhân
công rẻ, cần cù, khéo léo.
Trong quan hệ kinh tế ngày càng đa rạng do đó cân phải áp dụng một đố
hình thức như thương mại quốc tế đây là một trong những loại kém, là hình
thức quan hệ kém, tuy nhiên lại có vai trò hết sức quan trọng tạo điều kiện
đểmỗi quốc gia khia thác hiệu quả các thế mạnh của quốc gia mình, chuyển dịch
cơ cấu đất nước, hổ trợ cho quá trình phát triển dịch vụ, bổ xung vào nguồn lực
còn thiếu, những hàng hóa mà trong nước chưa có khả năng sản xuất đẩy nhanh
sản xuất nhằm đáp ứng như cầu trong nước. Xuất khẩu các mặt hàng là thế mạnh
của quốc gia mình và là thế mạnh của quốc tế, vừa tự do hóa thương mại, vừa
bảo hộ mậu dịch đây là hai xu hướng trái gược nhau nhưng không bài trừ nhau.
Đầu tư quốc tế tạo đều kiện cho quốc gia đố tranh thủ được vốn, kỹ thuật
bên ngoài ddeer phát triển lực lượng sản xuất, có hai dạng dầu tư là trực tiếp và
gián tiếp, đối với nước xuất khẩu vốn đầu tưu cho phép sử dụng hiệu quả nguồn
hơn so với đầu tư trong nước, với các nước nhận được đầu tư tạo điều kiện tiếp
thu khoa học kỹ thuật và công nghệ tiên tiến, tuy nhiên cũng mang lại những
tiêu cực cho nước nhập đầu tư đó là cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên ô nhiễm mối
trường, đôi khi còn tiếp thu khoa học kỹ thuật nghèo nàn lạc hậu,
11





lập các khu công nghiệp, cácc khu chế xuất trong đó thế mạnh của chúng ta là có
cơ cấu dân số vàng, có nguồn nhân lực dồi dào do đó cần xây dựng phát triển
các mặt hàng như dệt may, nuôi trồng thủy hải sản, điện tử… xây dựng các xí
nghiệp các công ty lien donh, các công ty có nguồn vớn là đầu tư nuớc ngoài
Thành lập khung pháp lý tránh tình trạnh bị bán phá giá hoach ăn cắp bản
quyền, như chúng ta đã biết việt nam có nguồn nhân lực dồi dào do đó cần thiết
lập quan hệ để xuất khẩu lao động có trình độ, tay nghề cao, cùng với đó là đưa
lao động đi đào tạo học hỏi
Là quốc gia có các điều kiện về vị trí địa lý khí hậu 4 mùa dõ dệt do đó có
thể tạo điều kiện phát triển lọai hình dịch vụ, để thu hút khách du lịch chúng ta
cần đẩy mạnh tôn tạo, trùng tu các danh lam thắng cảnh tăng cuờng cả về vật
chất,kỹ thuật cho ngành du lịch. Tuyển chọn và đào tạo đội ngũ nhân viên và cán
bộ du lịch có chuyên môn giỏi, phát triển đồng bộ các loại hình, mở rộng quan
hệ quốc tế.
Đa phương hóa quan hệ kinh tế đối ngoại, dựa trên nguyên tắc bình đẳng,
mở rộng thị truờng tạo điều kiện làm ăn lâu dài, mở rộng việc phát triển kinh tế
chính trị, từ đó có thể quảng bá hình ảnh Việt Nam đến với các quốc gia
Xây dựng cơ chế kiểm soát đủ mạnh ngăn chặn các hoạt động đầu tư kém
hiệu quả, đặc biệt việc các công ty nhà nước làm thất thoát.
Việc hội nhập kinh tế một mặt đưa chúng ta tiếp nhận được với khoa học
công nghệ tuy nhiên với những người đứng đầu nếu không sáng suốt thì rất có
thể chúng ta sẽ đi trệch hướng chủ nghĩa xã hội, do đó trong chính sách đối
ngoại nhiều khi chúng ta phải vừa mềm vừa cứng để không mất đi những nhà
đầu tư tiềm năng
Đối với nước ta, việc mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại phải nhằm ừng
bước thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ và văn
minh theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong thời gian trước mắt việc mở rộng
quan hệ kinh tế đối ngoại nhằm thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp

thống nhất, cùng với sự phát triển kinh tế đời sống con người ngày một nâng cao
do đó xã hội ngày càng phát triển hơn nữa để đáp úng nhu cầu của con người, do
đó vấn đề phát triển kinh tế đối ngoại là hết sức quan trọng.

15


MỤC LỤC

16




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status