Khoa: Giáo dục chính trị
Khóa luận tốt nghiệp
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
=====***=====
ĐỖ THỊ NHÀI
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM MỞ RỘNG
VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH TẾ
ĐỐI NGOẠI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: KINH TẾ CHÍNH TRỊ
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học
Th.S. TRẦN THỊ HOA LÝ
HÀ NỘI - 2012
Đỗ Thị Nhài
1
Lớp: K34 GDCD - GDQP
Khoa: Giáo dục chính trị
Khóa luận tốt nghiệp
Khóa luận tốt nghiệp
LỜI CAM ĐOAN
Khóa luận tốt nghiệp này được hoàn thành dưới sự hướng dẫn của Th.s
Trần Thị Hoa Lý, tôi xin cam đoan rằng:
- Đây là kết luận nghiên cứu của riêng tôi.
- Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.
Hà Nội, Ngày 5 tháng 5 năm 2012
Sinh viên
Đỗ Thị Nhài
Đỗ Thị Nhài
3
Lớp: K34 GDCD - GDQP
Khoa: Giáo dục chính trị
Khóa luận tốt nghiệp
DANH MỤC CỤM TỪ VIẾT TẮT
CNH, HĐH
: Công nghiệp hoá, hiện đại hoá
: Nhập khẩu
TCH
: Toàn cầu hoá
TTLL
: Thông tin liên lạc
TLSX
: Tư liệu sản xuất
XK
: Xuất khẩu
Đỗ Thị Nhài
4
Lớp: K34 GDCD - GDQP
Khoa: Giáo dục chính trị
Khóa luận tốt nghiệp
MỤC LỤC
Khoa: Giáo dục chính trị
Khóa luận tốt nghiệp
Chƣơng 3. MỘT SỐ PHƢƠNG HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM MỞ
RỘNG VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH TẾ ĐỐI NGOẠI Ở VIỆT
NAM TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY .................................................... 58
3.1. Những phương hướng nhằm mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối
ngoại............................................................................................................. 58
3.2. Một số giải pháp nhằm mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại
...................................................................................................................... 59
KẾT LUẬN .................................................................................................... 82
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 83
Đỗ Thị Nhài
6
Lớp: K34 GDCD - GDQP
Khoa: Giáo dục chính trị
Khóa luận tốt nghiệp
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Cuộc cách mạng khoa học công nghệ (KHCN) trên thế giới đã tạo điều
Khoa: Giáo dục chính trị
Khóa luận tốt nghiệp
thị trường, tranh thủ vốn, kinh nghiệm quản lý, KHCN tiên tiến, v.v.. Sự phát
triển kinh tế đối ngoại trong thời gian vừa qua có ý nghĩa hết sức quan trọng,
thậm chí là quyết định đối với tăng trưởng kinh tế của nước ta. Nước ta đã đạt
được những thành tựu cả về tăng trưởng xuất nhập khẩu, thu hút vốn đầu tư,
du lịch, v.v.. Việt Nam đã tham gia sâu rộng, ngày càng hiệu quả ở các tổ chức
khu vực như ASEAN, Diễn đàn Hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương
(APEC), Diễn đàn Á - Âu (ASEM), tham gia Tổ chức Thương mại Thế giới
WTO, v.v.. Những đóng góp của Việt Nam vào hoạt động của các tổ chức,
diễn đàn quốc tế góp phần từng bước nâng cao vị thế của nước ta trên trường
quốc tế.
Mở rộng kinh tế đối ngoại và tham gia hội nhập kinh tế quốc tế tạo cho ta
những cơ hội, những bước đột phá lớn, song bên cạnh đó còn rất nhiều thách
thức và mặt trái của nó. Do vậy, chúng ta cần có cách nhìn toàn diện về vấn
đề, để có những bước đi đúng đắn đưa kinh tế nước ta phát triển, cải thiện đời
sống nhân dân, tăng trưởng kinh tế gắn với công bằng xã hội, đặc biệt phải
gắn với giữ vững lập trường chính trị và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia.
Do tính cấp thiết của vấn đề nên tôi đã chọn đề tài: "Một số giải pháp
nhằm mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại ở Việt Nam hiện
nay" làm đề tài khoá luận tốt nghiệp. Khoá luận góp phần tìm hiểu về thực
trạng của kinh tế đối ngoại ở Việt Nam, qua đó bước đầu đưa ra những giải
pháp nhằm phát triển kinh tế đối ngoại ở nước ta hiện nay.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Vấn đề về kinh tế đối ngoại cho tới nay đã có rất nhiều công trình nghiên
cứu, nhiều bài viết đề cập tới như:
- Nguyễn Huy Oánh (2003), “Tư tưởng Hồ Chí Minh về kinh tế đối ngoại,
nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại ở Việt Nam hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ
- Một số lý luận cơ bản về kinh tế đối ngoại.
- Thực trạng của hoạt động kinh tế đối ngoại ở Việt Nam hiện nay.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế
đối ngoại ở nước ta hiện nay.
3.3. Phạm vi nghiên cứu
Khoá luận tập trung nghiên cứu về một số giải pháp nhằm mở rộng và
nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại ở Việt Nam hiện nay.
Đỗ Thị Nhài
9
Lớp: K34 GDCD - GDQP
Khoa: Giáo dục chính trị
Khóa luận tốt nghiệp
4. Phƣơng pháp nghiên cứu của đề tài
Khoá luận lấy Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử
làm cơ sở phương pháp luận. Đồng thời, sử dụng các phương pháp phân tích,
tổng hợp; phương pháp thống kê; phương pháp hệ thống hoá; phương pháp
diễn dịch, quy nạp, v.v.. để giải quyết các nhiệm vụ đã đặt ra.
5. Đóng góp của khoá luận
5.1. Ý nghĩa lý luận
Khoá luận góp phần tìm hiểu về vấn đề kinh tế đối ngoại của Việt Nam
trong giai đoạn hiện nay. Làm rõ một số lý luận cơ bản về kinh tế đối ngoại
như khái niệm, tính tất yếu phải mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối
1.1. Kinh tế đối ngoại và cơ sở khách quan của việc hình thành, phát
triển kinh tế đối ngoại
Quan hệ kinh tế quốc tế đã xuất hiện rất sớm. Lịch sử đã ghi nhận "con
đường tơ lụa" - là con đường huyền thoại nối liền Trung Hoa rộng lớn với
vùng Tây Á, nối liền châu Á với châu Âu; được coi là một hệ thống những
con đường thương mại lớn nhất thế giới thời cổ đại (khoảng thế kỷ 2 TCN), là
cầu nối giữa hai nền văn minh Đông - Tây. Trong lịch sử các thương gia
Trung Hoa mang vải lụa, gấm vóc, sa, nhiễu, v.v.. đến Ba Tư và La Mã trao
đổi lấy vàng, đồng thời doanh nhân ở những vùng khác cũng tìm đường đến
với Trung Hoa trao đổi hàng hoá - đó chính là thương mại quốc tế, một hình
thức chủ yếu của quan hệ kinh tế quốc tế tồn tại cho đến ngày nay. Thương
mại quốc tế mang lại lợi ích cho các nước tham gia nhờ mỗi quốc gia có
những lợi thế riêng do điều kiện tự nhiên, trình độ phát triển kinh tế, xã hội,
trình độ chuyên môn hoá lao động, v.v.. khác nhau quy định.
Sau này, các nhà kinh tế học đã khái quát lại thành lý thuyết lợi thế: lý
thuyết lợi thế tuyệt đối của Ađam Smith và lợi thế so sánh của David Ricardo.
Theo Ađam Smith: lợi thế tuyệt đối là lợi thế có được trong điều kiện so sánh
chi phí sản xuất để sản xuất ra cùng một loại sản phẩm, khi một nước sản xuất
ra sản phẩm có chi phí cao hơn có thể nhập sản phẩm đó từ nước khác có chi
phí sản xuất thấp hơn. Còn lý thuyết lợi thế so sánh của David Ricardo: một
nước có thể thu được lợi từ thương mại bất kể nó tuyệt đối có hiệu quả hơn
hay tuyệt đối không hiệu quả bằng các nước khác trong việc sản xuất mọi
hàng hoá. Đó là cở sở lý thuyết cho sự lựa chọn thương mại quốc tế, mở rộng
quan hệ kinh tế quốc tế. Tuy nhiên, trước đây quan hệ kinh tế không thể phát
Đỗ Thị Nhài
11
Lớp: K34 GDCD - GDQP
hiện đại đang đưa loài người vào thời đại kinh tế tri thức
Thế kỷ XXI, cuộc cách mạng KHCN hiện đại phát triển theo chiều sâu,
Đỗ Thị Nhài
12
Lớp: K34 GDCD - GDQP
Khoa: Giáo dục chính trị
Khóa luận tốt nghiệp
tác động sâu rộng hơn nữa đến sự phát triển của nền kinh tế thế giới đặc biệt
là cách mạng về máy tính và cách mạng sinh học. Những thành tựu KHCN
mới đặc biệt là công nghệ gen, công nghệ sinh học, công nghệ nano, công
nghệ thông tin sẽ làm cho KHCN ngày càng trở thành lực lượng sản xuất
nòng cốt và trực tiếp của xã hội tạo nên động lực cho sự phát triển kinh tế thế
giới. CSVC kỹ thuật của các quốc gia, đặc biệt là các quốc gia công nghiệp
phát triển đã có những thay đổi lớn về chất, nền sản xuất đạt được năng suất
lao động cao chưa từng thấy, tạo ra một khối lượng của cải khổng lồ với hàm
lượng tri thức cao. KHCN đã góp phần tới 50 - 60% vào tăng trưởng kinh tế,
trong đó 3/5 là do tăng năng suất lao động trên cơ sở những thành tựu của
KHCN. Sự đóng góp này làm thay đổi cơ cấu kinh tế theo xu hướng tăng tỷ
trọng ngành dịch vụ, giảm dần tỷ trọng ngành nông nghiệp; tỷ trọng của các
ngành công nghệ cao - lấy công nghệ thông tin làm chính - trong các nền kinh
tế tăng lên nhanh chóng góp phần đưa nền kinh tế thế giới chuyển dần sang
nền kinh tế tri thức, làm thay đổi cơ cấu ngành nghề, cơ cấu việc làm và trí
thức hoá lực lượng lao động. Sự phát triển của KHCN và nền kinh tế tri thức
đã thúc đẩy nền sản xuất, thương mại thế giới phát triển. Trong Báo cáo
dịch nghiêm ngặt đã tiến hành cải cách kinh tế mở cửa với bên ngoài, tham
gia vào quá trình TCH. Nhờ đó, kinh tế các nước này liên tục tăng trưởng với
tốc độ cao. Trung Quốc và Ấn Độ đang nổi lên thành một trung tâm kinh tế
cùng với Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản, khu vực Đông Á và Đông Nam Á tiếp tục
phát triển năng động. TCH kinh tế được biểu hiện rõ nét ở chỗ:
- Một là, sự phân công lao động quốc tế và hợp tác quốc tế giữa các quốc
gia, giữa các khu vực phát triển ngày càng sâu rộng, bao quát nhiều lĩnh vực
với tốc độ nhanh. Ngày nay, nhiều sản phẩm do nhiều quốc gia cùng sản xuất.
Ví dụ, sản xuất máy bay Boing có tới 650 công ty trên thế giới đặt ở 30 quốc
gia tham gia, có nước chuyên về gia công, có nước chuyên về lắp ráp, mỗi
nước chỉ tham gia sản xuất một hay một vài chi tiết của nó.
- Hai là, sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế giữa các nước ngày càng tăng.
Sự chuyên môn hoá, hiệp tác hoá sản xuất làm cho các nước phụ thuộc nhau
về nhiều mặt: nguyên liệu, kỹ thuật, công nghệ, vốn, lao động, thị trường, v.v..
mỗi quốc gia đều cố gắng khai thác tốt những thế mạnh của mình.
- Ba là, hình thành kết cấu hạ tầng sản xuất quốc tế, chi phí sản xuất quốc
tế và giá cả quốc tế. Để mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại các quốc gia khi
xây dựng kết cấu hạ tầng sản xuất như đường giao thông, sân bay, bến cảng,
Đỗ Thị Nhài
14
Lớp: K34 GDCD - GDQP
Khoa: Giáo dục chính trị
Khóa luận tốt nghiệp
kho bãi, hệ thống TTLL, v.v.. đều dựa theo tiêu chuẩn quốc tế. TCH kinh tế
Lớp: K34 GDCD - GDQP
Khoa: Giáo dục chính trị
Khóa luận tốt nghiệp
bệnh tật hiểm nghèo, khủng bố, xung đột sắc tộc, tôn giáo, khủng hoảng kinh
tế - xã hội, v.v.. đòi hỏi các quốc gia phải hợp tác giải quyết nhằm xây dựng
một thế giới hoà bình, ổn định phát triển.
Từ sau Đại hội X, Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhận thức về xu hướng
của thế giới hiện nay đó là "tình hình thế giới và khu vực thay đổi nhanh
chóng, diễn biến phức tạp. Cách mạng KHCN và TCH diễn ra mạnh mẽ; hoà
bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn" [9, 163]. Do vậy, để phát triển
kinh tế đất nước chúng ta phải không ngừng mở rộng và nâng cao hiệu quả
kinh tế đối ngoại và tăng cường hội nhập vào nền kinh tế thế giới.
1.2.2. Những tiền đề, cơ sở cho Việt Nam mở rộng hoạt động kinh tế đối
ngoại
Đảng Cộng sản Việt Nam với bản chất cách mạng và tư duy chính trị nhạy
bén đã tiến hành công cuộc đổi mới một cách toàn diện, sâu sắc trên tất cả các
lĩnh vực: đổi mới cơ chế quản lý, đổi mới cơ cấu kinh tế, đổi mới quan hệ
kinh tế đối ngoại và cải cách nền hành chính quốc gia. Nước ta có rất nhiều
điều kiện thuận lợi cho việc phát triển kinh tế đối ngoại đó là:
- Thứ nhất, Việt Nam có vị trí địa lý vô cùng thuận lợi nằm trên bán đảo
Đông Dương, gần trung tâm Đông Nam Á, có một vùng biển rộng lớn giàu
tiềm năng, đường bờ biển dài 3260 km, có các cảng nước sâu như cảng Hải
Phòng, cảng Cái Lân, cảng Cam Ranh, cảng Sài gòn, v.v.. là điều kiện phát
triển du lịch biển, thuỷ hải sản, giao lưu buôn bán với quốc tế. Việt Nam nằm
trong đầu mối của tuyến giao thông quan trọng cả về đường bộ, đường biển,
đường không nối Đông Bắc Á với Đông Nam Á, nối Thái Bình Dương với
dạng. Đây là nguồn lực quan trọng để phát triển kinh tế đất nước đặc biệt là
tài nguyên đất (đất phù sa, đất phèn, đất feralit, v.v..) và khoáng sản (boxit, vật
liệu xây dựng, dầu khí, sắt, v.v..)
- Thứ ba, Việt Nam có nguồn nhân lực dồi dào tính đến tháng 12/2011
tổng số dân nước ta là 87,84 triệu người, tăng 1,04% so với năm 2010, số
người trong độ tuổi lao động tăng nhanh và chiếm một tỉ lệ cao khoảng 67%
dân số cả nước [22]. Lao động Việt Nam được đánh giá là khéo léo, thông
minh, sáng tạo, tiếp thu nhanh kỹ thuật và công nghệ hiện đại được chuyển
giao nhanh từ bên ngoài đó là những lợi thế để mở rộng và nâng cao hiệu quả
hoạt động kinh tế đối ngoại. Đặc biệt là khi Đảng và Nhà nước ta luôn quan
tâm đến chất lượng nguồn lao động, coi phát triển con người là nhiệm vụ
trung tâm, GD - ĐT là quốc sách hàng đầu.
Đỗ Thị Nhài
17
Lớp: K34 GDCD - GDQP
Khoa: Giáo dục chính trị
Khóa luận tốt nghiệp
- Thứ tư, Việt Nam có điều kiện chính trị - xã hội ổn định, được coi là một
trong những nơi đầu tư an toàn nhất do các tổ chức quốc tế công nhận bởi
nước ta có tổ chức Đảng vững mạnh, Nhà nước của dân, do dân, vì dân.
Trong khi một số nơi khác liên tục xảy ra những cuộc xung đột vũ trang như
Trung Đông, Tây Á, châu Phi tạo tâm lý lo ngại cho các nhà đầu tư thì sự ổn
định chính trị của nước ta là điểm sáng cho các nhà đầu tư quốc tế.
- Thứ năm, Việt Nam có lợi thế là nước đi sau nên chúng ta có thể tranh
thuận lợi đem lại lợi nhuận lớn, giảm chi phí sản xuất do sử dụng nguồn tài
nguyên và lao động rẻ ở các nước đang phát triển.
- Đối với các nước đang phát triển thì việc mở rộng quan hệ kinh tế đối
ngoại có vai trò quan trọng là có thể coi những cơ hội xuất hiện trên thế giới
như là cơ hội của chính mình, có thể tìm nguồn lực cho sự phát triển của mình
từ những cái đang có trong nền kinh tế thế giới. Các nước không phải vật lộn
với quá trình tự tìm ra các tri thức, công nghệ mà sử dụng ngay những công
nghệ tiên tiến của nhân loại để tiến hành CNH, HĐH đất nước, chuyển dịch
cơ cấu kinh tế theo hướng năng động, tăng trưởng với tốc độ cao. Hơn nữa thị
trường của các nước này quá chật hẹp không đủ đảm bảo cho phát triển nền
công nghiệp với quy mô sản xuất hàng loạt. Mở rộng kinh tế đối ngoại giúp
các nước đang phát triển lấy thị trường thế giới làm đối tượng để sản xuất và
trao đổi hàng hoá, thực hiện phân bổ nguồn lực, tham gia vào mạng lưới phân
công kinh tế toàn cầu. Việc mở rộng kinh tế đối ngoại còn nhằm khai thác
triệt để các thế mạnh của đất nước, nâng cao đời sống nhân dân, tạo điều kiện
củng cố hoà bình.
- Đối với Việt Nam, vai trò của kinh tế đối ngoại được thể hiện qua những
mặt sau:
+ Góp phần nối liền sản xuất và trao đổi trong nước với sản xuất và trao
đổi quốc tế, nối liền thị trường trong nước với thị trường khu vực và thế giới,
mở rộng thị trường ra bên ngoài đồng thời góp phần phát triển thị trường
trong nước. Thị trường hàng hoá được mở rộng sẽ tạo điều kiện cho các
ngành kinh tế trong nước phát triển.
+ Hoạt động kinh tế đối ngoại góp phần thu hút vốn đầu tư trực tiếp (FDI)
và vốn viện trợ chính thức từ các chính phủ và tổ chức tiền tệ quốc tế (ODA);
thu hút khoa học, kỹ thuật, công nghệ; khai thác và ứng dụng những kinh
nghiệm xây dựng và quản lý nền kinh tế hiện đại vào nước ta.
Đỗ Thị Nhài
khẩu chính là việc mua hàng hoá, dịch vụ của nước ngoài.
Đây là một trong những hình thức chủ yếu và có hiệu quả nhất trong các
hình thức của kinh tế đối ngoại. Ngoại thương góp phần làm tăng của cải,
tăng tích luỹ của mỗi nước nhờ sử dụng có hiệu quả lợi thế so sánh giữa các
quốc gia trong trao đổi quốc tế; là động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế; là
"công cụ điều tiết thừa thiếu" trong mỗi nước; nâng cao trình độ công nghệ và
Đỗ Thị Nhài
20
Lớp: K34 GDCD - GDQP
Khoa: Giáo dục chính trị
Khóa luận tốt nghiệp
cơ cấu ngành nghề trong nước; tạo công ăn việc làm và nâng cao đời sống của
người lao động nhất là trong các ngành xuất khẩu.
Ngoại thương bao gồm: xuất khẩu và nhập khẩu hàng hoá, thuê nước
ngoài gia công tái xuất khẩu. Đối với nước ta, xuất khẩu là hướng ưu tiên và
trọng điểm của hoạt động ngoại thương.
Trong những năm gần đây, dưới tác động của cách mạng KHCN và xu
hướng TCH, khu vực hoá, ngoại thương quốc tế có những đặc điểm mới:
- Tốc độ tăng trưởng của ngoại thương quốc tế tăng nhanh hơn tốc độ tăng
trưởng của tổng sản phẩm quốc dân.
- Cơ cấu mặt hàng có sự biến đổi quan trọng. Sản phẩm có hàm lượng
công nghệ cao chiếm tỷ trọng ngày càng lớn.
- Tính cạnh tranh ngày càng cao không chỉ về chất lượng sản phẩm mà về
cả dịch vụ bán hàng. Phạm vi thị trường ngày càng mở rộng không chỉ hàng
cường việc nhận gia công là một phương hướng đúng đắn, có ý nghĩa chiến
lược để mở rộng quan hệ kinh tế với nước ngoài, ổn định tình hình kinh tế
trong nước.
1.4.2.2. Xây dựng những xí nghiệp chung với sự hùn vốn và công nghệ từ
nước ngoài
Đây là kiểu tổ chức xí nghiệp, thương nghiệp, dịch vụ và tổ chức tín dụng,
v.v.. nó thường được tổ chức dưới hình thức công ty cổ phần với trách nhiệm
hữu hạn tương ứng với số vốn đóng góp của các thành viên. Các xí nghiệp
này thường được ưu tiên xây dựng ở những ngành kinh tế quốc dân hướng
vào XK hay thay thế hàng NK và trở thành nguồn thu ngoại tệ chuyển đổi hay
tạo điều kiện cho nhà nước tiết kiệm ngoại tệ.
1.4.2.3. Hợp tác sản xuất quốc tế trên cơ sở chuyên môn hoá
Do phân công lao động quốc tế tất yếu dẫn đến hợp tác sản xuất quốc tế,
nó có thể diễn ra một cách tự giác theo hiệp định hay hợp đồng giữa các bên
tham gia, hoặc một cách tự phát do kết quả cạnh tranh, do đầu tư và lập các
công ty xuyên quốc gia tại các nước.
Chuyên môn hoá bao gồm chuyên môn hoá những ngành khác nhau và
chuyên môn hoá cùng một ngành. Hình thức hợp tác này làm cho cơ cấu kinh
tế ngành của các nước tham gia đan kết vào nhau, phụ thuộc lẫn nhau,
1.4.3. Hợp tác khoa học - kĩ thuật
Hợp tác khoa học kỹ thuật được thực hiện dưới nhiều hình thức như trao
đổi tài liệu - kỹ thuật và thiết kế, mua bán giấy phép, trao đổi kinh nghiệm,
Đỗ Thị Nhài
22
Lớp: K34 GDCD - GDQP
Khoa: Giáo dục chính trị
Đỗ Thị Nhài
23
Lớp: K34 GDCD - GDQP
Khoa: Giáo dục chính trị
Khóa luận tốt nghiệp
+ Xí nghiệp 100% vốn nước ngoài.
+ Hợp đồng xây dựng - kinh doanh - chuyển giao. Hình thức này cần có
nguồn vốn đầu tư của bên ngoài và thường đầu tư cho các công trình kết cấu
hạ tầng.
- Đầu tư gián tiếp (FII - Foreign Indirect Investment) là hoại hình đầu tư
mà quyền sở hữu tách rời quyền sử dụng vốn đầu tư, tức là người có vốn
không trực tiếp tham gia vào việc tổ chức, điều hành dự án mà thu lợi dưới
hình thức lợi tức cho vay (nếu là vốn cho vay), hoặc lợi ích cổ phần (nếu là
vốn cổ phần), hoặc có thể không thu lợi trực tiếp (nếu cho vay ưu đãi)
Nguồn vốn đầu tư gián tiếp rất đa dạng về chủ thể và hình thức. Chủ thể
đầu tư gián tiếp có thể là chính phủ, các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức
quốc tế, v.v.. với các hình thức như: viện trợ có hoàn lại, viện trợ không hoàn
lại, cho vay ưu đãi hoặc không ưu đãi; mua cổ phiếu, chứng khoán. Trong các
nguồn vốn đầu tư gián tiếp, bộ phận quan trọng là viện trợ phát triển chính
thức (ODA), bao gồm các khoản hỗ trợ không hoàn lại, các khoản tín dụng ưu
đãi khác do các tổ chức trong hệ thống Liên hợp quốc, các chính phủ, các tổ
chức kinh tế quốc dân dành cho các nước chậm phát triển.
1.4.5. Các hình thức dịch vụ thu ngoại tệ khác như du lịch quốc tế, vận
tải quốc tế, xuất khẩu lao động ra nước ngoài và tại chỗ
Vận tải quốc tế là hình thức chuyên chở hàng hoá và hành khách giữa hai
hoặc nhiều nước, sử dụng các phương thức như: đường biển, đường sắt,
đường bộ, đường hàng không, v.v.. trong đó vận tải đường biển có ý nghĩa
quan trọng nhất. Việt Nam là quốc gia có đường bờ biển dài 3260 km không
kể các đảo, với các cảng nước sâu như Cửa Lò, Thị Vải - Vũng Tàu, Sài Gòn,
Hải Phòng, v.v.. nên có thể phát huy thế mạnh của mình thông qua việc đẩy
mạnh vận tải quốc tế.
1.4.5.3. Xuất khẩu lao động ra nước ngoài và tại chỗ
Việt Nam là một quốc gia đông dân, tính tới tháng 12/2011 tổng số dân là
87,84 triệu người, mỗi năm tăng thêm gần 1 triệu người, kinh tế chưa phát
triển, tình trạng thất nghiệp và thiếu việc làm cao, v.v.. Việc xuất khẩu lao
động mang lại nhiều lợi ích trước mắt và lâu dài như: thu được ngoại tệ cho
người trực tiếp lao động và cho ngân sách nhà nước; người lao động được rèn
luyện tay nghề và tác phong làm việc ở các nước phát triển sẽ vận dụng nó
khi họ trở về nước; quan trọng hơn là giải quyết được việc làm, giảm tỉ lệ thất
nghiệp. Vì vậy, đẩy mạnh xuất khẩu lao động thu ngoại tệ là một nhiệm vụ
Đỗ Thị Nhài
25
Lớp: K34 GDCD - GDQP