luận văn thạc sĩ nông nghiệp Phát triển một số loại cây ăn quả có múi trên địa bàn huyện CaoPhong – Hoà Bình - Pdf 50

1. MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Chúng ta đều biết rằng cây ăn quả là cây trồng đem lại hiệu quả kinh tế
cao đối với các hộ nông dân. Hiện nay nó được xem như là một trong những
loại cây chủ lực trong chiến lược chuyển đổi cơ cấu cây trồng và chuyển dịch
cơ cấu kinh tế nhằm khai thác tiềm năng, thế mạnh của mỗi địa phương, ngoài
ra trồng cây ăn quả còn góp phần phủ xanh đất trống đồi núi trọc, bảo vệ môi
trường sinh thái, nhất là ở các tỉnh Trung du miền núi. Những năm gần đây,
khi vấn đề an toàn lương thực đã cơ bản được giải quyết, cùng với nhu cầu
mọi mặt về đời sống của nhân dân ngày càng cao thì việc phát triển các loại
cây trồng có giá trị hàng hoá cao như cây ăn quả đã được các địa phương
trong cả nước rất chú trọng đầu tư. Do vậy việc phát triển cây ăn quả có ý
nghĩa quan trọng, góp phần tích cực vào chiến lược phát triển kinh tế xã hội,
nâng cao đời sống của nhân dân.
Điều kiện tự nhiên là yếu tố tối qua trọng trong việc định hướng phát
triển các vùng trồng cây chuyên canh, ví dụ như Hưng Yên nổi tiếng với
Nhãn Lồng, Bắc Giang gắn liền với Vải Thiều và nhắc đến Cao Phong người
ta sẽ nghĩ ngay tới Cam Xã Đoài. Với một ưu đãi hết sức thuận lợi của tự
nhiên, nhiệt độ không khí trung bình năm 23,5 0C, số giờ nắng trung bình năm
trong khoảng 1.300 - 1.500 giờ/năm, lượng mưa trung bình năm tương đối lớn
phổ biến từ 1.535 - 2.400 mm, độ ẩm không khí của huyện Cao Phong dao
động từ 83 - 88% thích hợp cho cây ăn quả đặc biệt với loại cây có múi như
cam Xã Đoài, cam Canh, cam Valen...
Tuy nhiên, sau một thời gia rơi vào khủng hoảng của bệnh Greening kết
hợp với kỹ thuật canh tác không phù hợp, diện tích, sản lượng quả có múi tại
khu vực Cao Phong đã giảm đi đáng kể. Những năm gần đây, được sự quan

1


tâm của các cấp chính quyền cũng như đội ngũ kỹ thuật tại Nông truờng và

Raaman Weitz cho rằng: “Phát triển là một quá trình thay đổi liên tục làm
tăng trưởng mức sống của con người và phân phối công bằng những thành
quả tăng trưởng trong xã hội” [36]. Ngân hàng thế giới đã đưa ra khái niệm
phát triển với ý nghĩa rộng hơn bao gồm cả những thuộc tính quan trọng có
liên quan đến hệ thống giá trị của con người, đó là: “sự bình đẳng hơn về cơ
hội, sự tự do về chính trị và các quyền tự do công dân để củng cố niềm tin
trong cuộc sống của con người trong các mối quan hệ với Nhà nước, với cộng
đồng…” [35] .
Tuy có nhiều quan niệm khác nhau về phát triển, nhưng các ý kiến đều
cho rằng đó là phạm trù vật chất, phạm trù tinh thần, phạm trù về hệ thống giá
trị trong cuộc sống con người. Mục tiêu chung của phát triển là nâng cao các
quyền lợi về kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội và quyền tự do công dân của
mọi người dân [32].
Vào nửa cuối thập kỷ 80 và đầu của thập kỷ 90 nhiều quốc gia đã đưa ra
khái niệm về phát triển bền vững đó là: “Phát triển đáp ứng các nhu cầu của hiện
tại mà không làm thương tổn đến hoạt động kinh tế, hoạt động xã hội nhu cầu
hiện tại mà không phương hại đến khả năng đáp ứng đến nhu cầu của tương lai”
[36]. Các thế hệ hiện tại khi sử dụng các nguồn tự nhiên cho sản xuất và của cải
vật chất không thể để cho thế hệ mai sau phải gánh chịu tình trạng ô nhiễm cạn
kiệt tự nhiên và nghèo đói. Cần phải để cho thế hệ tương lai được thừa hưởng

4


các thành quả lao động của thế hệ hiện tại dưới dạng giáo dục kỹ thuật, kiến thức
và các nguồn lực khác ngày càng được tăng cường [11].
2.1.1.2 Mối quan hệ giữa phát triển và tăng trưởng kinh tế
- Khái niệm về tăng trưởng và phát triển kinh tế
Tăng trưởng kinh tế là một trong những vấn đề cốt lõi nhất của lý luận
kinh tế. Các nhà kinh tế đều thống nhất cho rằng: tăng trưởng kinh tế là sự

kỳ nhất định.
Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) là tổng giá trị tính bằng tiền của toàn bộ
hàng hoá và dịch vụ mà một nước sản xuất ra trên lãnh thổ của nước đó (dù nó
thuộc về người trong nước hay người nước ngoài) trong một thời gian nhất định
tổng sản phẩm quốc dân được xác định theo phương trình kinh tế sau:
GNP = GDP + Thu nhập tài sản ròng
Thu nhập tài sản ròng = Tổng thu nhập nhân tố từ nước ngoài trừ đi
tổng chi về thu nhập nhân tố cho nước ngoài.
Chỉ số thu nhập bình quân đầu người: thông thường sử dụng chỉ số
GNP bình quân đầu người, GDP bình quân đầu người.
+ Các chỉ số về cơ cấu kinh tế xã hội gồm một số chỉ tiêu như chỉ số cơ
cấu ngành GDP; chỉ số về cơ cấu hoạt động ngoại thương; chỉ số về sự liên
kết kinh tế; chỉ số về mức tiết kiệm, đầu tư… [19].
Trong khuân khổ đề tài chúng tôi cho rằng “Phát triển cây ăn quả có
múi tại khu vực huyện Cao Phong – Hòa Bình là sự chuyển biến của nền kinh
tế từ một trạng thái thấp lên một trạng thái cao hơn được nhìn nhận và đánh
giá qua một số chỉ tiêu như : các chỉ tiêu thể hiện qui mô phát triển kinh tế,
trong đó quan trọng nhất là tổng thu nhập và thu nhập bình quân theo đầu

6


người; các chỉ tiêu thể hiện sự tiến bộ về cơ cấu kinh tế trong đó quan trọng
nhất là cơ cấu giữa nông nghiệp công nghiệp và dịch vụ, đối với nội bộ ngành
thì đó là cấu giữa các loại giống cây ăn quả có múi và giá trị mà nó đem lại.”.
2.1.2 Khái niệm về cây ăn quả có múi
2.1.2.1 Khái niệm về cây ăn quả có múi
Cây ăn quả có múi thường gọi tắt là cây có múi (tên khoa học là
Citrus) là tập đoàn những cây trồng thuộc họ rễ nấm có hoa thuộc họ cửu ly
hương.Có nguồn gốc từ khu vực nhiệt đới và cận nhiệt đới ở Đông Nam Á.

Trong khuân khổ của đề tài chúng tôi chỉ đề cập đến các loại cây có
múi có giá trị kinh tế cao, được trồng phổ biến trên nhiều Quốc gia và vùng
lãnh thổ. Cụ thể là một số chủng loại chủ yếu sau:
- Bưởi (Citrus paradisi, C. maxima,…): tại Việt Nam có rất nhiều giống
bưởi quý mà chất lượng được đánh giá là đứng đầu thế giới như: Bưởi Năm
roi, Bưởi da xanh, Bưởi Phúc Trạch, bưởi Diễn, Bưởi Đoan Hùng…
- Cam (Citrus sinensis, C. reticulata…): Cam Xã Đoài có phổ trồng rộng
rãi nhất, nó được trồng trên 50 quốc gia và vùng lãnh thổ, với đặc điểm của
loài, chất lượng quả chịu tác động nhiều bởi chế độ dinh dưỡng và đặc tính
thổ nhưỡng khí hậu nên tại mỗi vùng miền, lãnh thổ giống cam này thường
cho chất lượng khác nhau từ chua vừa đến ngọt đậm. Các giống cam trồng tại
Việt Nam thì ưu việt hơn hẳn về chất lượng phải kể đến cam Đường Canh hay
còn gọi là “cam bóc”.
- Chanh (C. limon, C. paradisi…): cây Chanh có đặc tính kháng chịu
sâu bệnh rất cao, rất rễ trồng và tiêu thụ. Hiện nay sản lượng Chanh tiêu thụ
trong nước vẫn đang còn thiếu rất nhiều. Các giống Chanh được trồng phổ
biến tại Việt Nam như Chanh Tứ Quý, Chanh bản địa, Chanh Ngón tay.
- Quýt là giống cùng chi với Cam trong họ cây có múi, điểm khác biệt
của Quýt với Cam là, Quýt có vỏ dễ bóc, nhân hạt có màu xanh. Tại Việt Nam
Quýt được trồng chủ yếu ở khu vực phía Nam với một số giống nhập nội. Còn
ở khu vực phía Bắc, các giống Quýt thường tồn tại từ lâu ở các vùng có tiểu

8


khí hậu thuận lợi, do người dân khu vực tự thuần hóa khi phát hiện chúng
trong tự nhiên. Một trong số chúng đang được nghiên cứu phục tráng và nhân
rộng ra đó là: Quýt Bắc Sơn – Lạng Sơn, Quýt Nam Sơn – Tân Lạc…
2.1.2.3 Các yêú tố ảnh hưởng đến phát triển sản xuất CAQ có múi.
Cây có múi thuộc họ cây rễ nấm, rất rễ sinh trưởng và phát triển trên

chất khác… có nhiều loại vitamin như A, B1, B2, B6, C. Đặc biệt vitamin C rất
cần cho cơ thể con người, vitamin A cần cho trẻ em [25]. Các chất hữu cơ, vi
lượng và vitamin này lại đặc biệt tồn tại hiều trong chủng loại cây ăn quả có
múi, đây là đặc trưng hết sức quan trọng để đánh gia nhu cầu thiết yếu của
con người đối với các loại hoa quả có múi. Theo nghiên cứu mới đây cho
thấy, toàn bộ các sản phẩm của cây ăn quả có múi đều có thể được sử dụng để
làm nguyên liệu cho đa ngành như dược phẩm, hóa mỹ phẩm, dinh
dưỡng,...Những nghiên cứu này ngày càng được bổ xung từ việc ứng dụng
thực tế trong quá trình sản xuất chế biến hiện nay.
Phát triển cây ăn quả có múi còn nhằm cung cấp nguyên liệu cho các nhà
máy chế biến, đặc biệt là ép nước quả nguyên chất có ý nghĩa về mặt dinh dưỡng
cũng như chữa bệnh. Công nghiệp chế biến quả đã góp phần giải quyết một vấn
đề căn bản cho đời sống là cung cấp quả nhanh, quanh năm cho nhân dân.
Phát triển cây ăn quả có múi mang ý nghĩa rất lớn trong việc bảo vệ
môi trường sinh thái, với chức năng làm sạch môi trường, giảm tiếng ồn, làm
rừng phòng hộ, làm đẹp cảnh quan. Đặc biệt là bảo vệ đất chống xói mòn
thông qua các mô hình kinh tế vườn nhà, vườn đồi, trang trại nông lâm kết
hợp tạo nên vùng sinh thái bền vững. Tăng độ che phủ đất, giữ và bảo vệ
nguồn nước, bảo vệ và sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên đất và nước. Ngoài
ra phát triển cây ăn quả có múi đã góp phần sử dụng hợp lý vùng đất dốc, kết
hợp với các mô hình sản xuất nông lâm kết hợp.
Việc phát triển cây ăn quả có múi đã góp phần tạo thêm việc làm, nâng
cao thu nhập cho người lao động, xoá đói giảm nghèo. Các cơ sở hạ tầng kinh

10


tế và dân sinh được hình thành khi sản xuất cây ăn quả có múi phát triển. Qua
đó góp phần làm thay đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất
hàng hoá.

tiến bộ khoa học và công nghệ vào sản xuất, xây dựng hợp lý cơ cấu sản xuất
nông nghiệp…” [10].
Ngày 16/7/2003 Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 15/2003 QH 11
về việc miễn giảm thuế đất nông nghiệp.
Về đầu tư tín dụng, ngày 24/6/2002, Thủ tướng chính phủ đã ban hành
Quyết định số 80/2002/QĐ-TTg về chính sách khuyến khích tiêu thụ nông sản
hàng hoá thông qua hợp đồng. Quyết định trên đã giúp các doanh nghiệp nhất
là các doanh nghiệp lớn của Nhà nước như Tổng công ty rau quả Việt Nam
chủ động ký kết hợp đồng tiêu thụ nông sản với người sản xuất. Doanh
nghiệp đã mua được sản phẩm với chất lượng tốt, nguồn cung cấp ổn định để
tiêu thụ chế biến và xuất khẩu, tận dụng có hiệu quả công suất máy móc thiết
bị. Các hộ nông dân tiêu thụ sản phẩm làm ra với giá cả hợp lý, thu nhập từng
bước được cải thiện.
Nhằm khắc phục một số tồn tại trong công tác quy hoạch vùng nguyên
liệu và cơ sở chế biến, công tác đầu tư dàn trải thiếu trọng tâm, trọng điểm,
nâng cao khả năng ứng dụng công nghệ mới và khả năng cạnh tranh sản phẩm
chế biến đáp ứng yêu cầu của thị trường trong nước và xuất khẩu góp phần
tiêu thụ sản phẩm cho nông dân, Thủ tướng chính phủ đã có chỉ thị số
24/2003/CT-Tg ngày 8/10/2003 về phát triển công nghiệp chế biến nông, lâm,
thuỷ sản. Theo đó các dự án phát triển vùng nguyên liệu và công nghiệp chế
biến nông lâm, thuỷ sản sẽ được hưởng một số ưu đãi về tài chính như được
vay vốn với lãi suất ưu đãi từ nguồn vốn tín dụng đầu tư của nước ngoài [2].
Mới đây, theo chiến lược năm 2015 và định hướng phát triển nông, lâm,
ngư nghiệp đến năm 2020 được Bộ Nông nghiệp thông qua ban hành kèm theo

12


Quyết định số 35 /QĐ-BNN-KHCN ngày 07 tháng 01 năm 2008 của Bộ
trưởng Bộ Nông nghiệp và PTNT chỉ rõ các cơ hội và thách thức của nền

Từ những vấn đề trên chúng tôi nhận thấy việc phân vùng qui hoạch
cây ăn quả phải dựa trên một số hệ thống các yếu tố ngoại cảnh và nội tại
được gọi là các yếu tố hình thành, trong đó giai đoạn phát triển kể từ lúc tiền
phân hoá hoa đến lúc quả chín phải được quan tâm đúng mức.
Sản xuất cây ăn quả là một bộ phận trong nền sản xuất nông nghiệp và
vì vậy công tác nghiên cứu qui hoạch vùng trồng các loại cây ăn quả phải dựa
vào nền tảng cơ bản hệ thống cây trồng.
Theo Hoàng Văn Đức (1984) mục đích của việc nghiên cứu và qui
hoạch sản xuất của một vùng là nhằm tăng hiệu quả sử dụng tài nguyên thiên
nhiên đất, bức xạ mặt trời, lượng mưa, nguồn nước tưới… với một mức đầu
tư tài nguyên kinh tế nhất định (vốn, vật tư, trang bị, lao động…) để tăng sản
phẩm nông nghiệp và đem lại lợi nhuận cao cho người sản xuất [12].
Đào Thế Tuấn (1984) chỉ rõ mục tiêu cuối cùng của việc phân vùng
và bố trí hệ cây trồng hợp lý là nhằm tận dụng hợp lý nhất các nguồn lợi tự
nhiên, kinh tế và xã hội trên một không gian và theo một thời gian nhất
định [27].
* Phát triển cây ăn quả theo hướng thị trường và đối tượng tiêu dùng
Ngày nay khi đời sống được nâng lên, thì nhu cầu về lượng quả tươi
trong các bữa ăn cũng được nâng lên. Thị trường quả phụ thuộc hoàn toàn vào
mức sống và tập quán sử dụng của con người. Để hướng tới thị trường tiêu
thụ sản phẩm quả trước hết người sản xuất phải nắm được các đối tượng tiêu
dùng sản phẩm như:
- Đối tượng tiêu dùng theo thu nhập thì với những nhóm thu nhập khác
nhau sẽ tiêu dùng sản phẩm khác nhau, nhóm thu nhập cao họ không quan
tâm đến giá cả sản phẩm mà chỉ quan tâm đến hình thức, chất lượng và độ an

14


toàn của sản phẩm. Với nhóm thu nhập trung bình họ quan tâm đến sản phẩm

chỉ cần 1 năm). Trong thời kỳ này nên trồng các cây ngắn ngày như cây họ
đậu, vừa có tác dụng che phủ mặt đất chống xói mòn vừa tăng độ phì nhiêu
cho đất lại có thu nhập để thực hiện phương châm lấy ngắn nuôi dài.
Trong những năm đầu, cây chỉ sinh trưởng mà chưa có sự ra hoa kết
quả, độ dài thời gian này phụ thuộc vào đặc tính sinh vật học của từng loài,
ảnh hưởng của điều kiện sinh thái và quá trình chăm sóc của con người. Nhìn
chung các loại cây ăn quả có múi đều phải trải qua các giai đoạn non trẻ, thời
kỳ gần thuần thục, thành thục và cuối cùng là cằn cỗi. Tương ứng với các giai
đoạn này là các thời kỳ vật hậu khác nhau của cây trồng: thời kỳ chưa ra hoa,
thời kỳ bắt đầu ra hoa kết quả và cuối cùng là thời kỳ mà cả quá trình sinh
trưởng lẫn ra hoa đậu quả cũng dần ngưng lại [23].
Đối với cây ăn quả có múi, loại cây bắt buộc phải trải qua hai quá trình
sinh trưởng sinh dưỡng và phát triển chính [28] đại bộ phận là cây thân gỗ
lâu năm vì vậy trong công tác phân vùng phải có những nét rất đặc thù.
Cây ăn quả có múi là loại cây trồng cạn có tính chịu hạn cao không kén
đất. Với đặc tính này việc bố trí sản xuất phân bố ở các vùng, khu vực trong
phạm vi lãnh thổ quốc gia. Chính vì thế có thể phát triển cây ăn quả có múi ở
những vùng đất mà phát triển cây lương thực không có hiệu quả trong lúc đó
cây ăn quả có múi đem lại hiệu quả kinh tế cao.
Cây ăn quả có múi có thể trồng phân tán tại vườn nhà hoặc
trồng tập trung ở các nông trường, các trang trại gia đình, cây ăn quả có
múi thường trồng một lần và thu hoạch nhiều lần, một năm có thể thu
hoạch một đến hai vụ quả, lao động sử dụng cho trồng và chăm sóc cây ăn
quả có múi rải đều quanh năm nên có thể sử dụng lao động gia đình. Chủng
loại cây ăn quả có múi ở nước ta rất phong phú, trong quá trình sản xuất

16


nếu bố trí canh tác hợp lý các giống cây ăn quả có múi sẽ có sản phẩm thu

Năm
1997 – 1999

2006

2007

2008

Cam

57.916

52.645

53.899

54.086

Quýt

15.898

17.868

19.752

21.171

Chanh

Ở vùng Đông Nam Á, quýt có vị trí khá quan trọng trong sản xuất cây
ăn quả có múi ở một số nước như Thái Lan (561.000 tấn, với diện tích 44.800
ha năm 1986-1987), Indonexia đạt (489.000 tấn/năm 1996), Philippin (39.796
tấn/năm 1987). Ở Ấn Độ sản lượng quýt chiếm 41% trong tổng số 2,41 triệu
tấn/năm 1988-1993. Riêng năm 1993 ở Pakistan sản lượng quýt chiếm 70%
trong tổng số 1.578 tấn quả có múi.
2.2.1.2 Bài học kinh nghiệm
Nhu cầu thực tế là một thách thức đối với các nước có diện tích trồng
cây có múi lớn. Loại quả này được người tiêu dùng hết sức quan tâm và ngày
càng có những tiêu chuẩn khắt khe hơn. Điều này đã ảnh hưởng rất lớn đến
tiêu chuẩn bảo tồn và phát triển danh mục giống cây trồng này.
Tại Thái Lan, cây có múi được quy hoạch trồng tập trung và có quy
trình thâm canh nghiêm ngặt. Quy trình phòng bệnh và canh tác nông nghiệp
sạch được đặt lên hàng đầu. Với 4 vùng trồng tập trung là các vùng có điều
kiện thổ nhưỡng, khí hậu phù hợp, không thể phát hiện các mô hình nhiễm
bệnh loét và chảy gôm cũng như vàng lá gân xanh trên các mô hình này.

18


Chính điều này cũng giúp cho chất lượng quả của loại cây trồng này ngày
một cao và luôn đáp ứng được với yêu cầu khắt khe của người tiêu dùng trên
thế giới. Mỗi năm Thái Lan xuất khẩu khoảng 20.000 tấn quả có múi các loại
và thỏa mãn mức tiêu dung khoảng 200.000 tấn trong nước. Để có được
những thành quả đó Thái Lan đã sử dụng công nghệ tưới tự động và chuẩn
mực đất trồng cũng như công nghệ cây giống sạch bệnh cho các mô hình.
Chúng ta sẽ luôn hi vọng rằng một ngày không xa, Việt Nam cũng sẽ có một
vùng canh tác như vậy.
Tại Trung Quốc, chủng loại cây có múi đa dạng và phong phú nhất trên
thế giới với khoảng hơn 200 loại được trồng rộng rãi trên cả nước. Chất lượng

2.2.2.1 Thực tiễn
Tại Việt Nam, cây ăn quả có múi được trồng dải rác ở khắp các vùng
miền. Có thể thấy sự hiện diện của nó ở hầu hết các hộ gia đình từ thành thị
đến nông thôn. Tuy nhiên, việc trồng cây có múi tập trung dưới hình thức sản
xuất hàng hóa và mang đậm đặc sản vùng thì được phân bố chủ yếu ở một số
vùng trọng điểm như: cam Xã Đoài (Nghệ An, Hòa Bình), Sông Con, Vân
Du, bưởi Đoan Hùng (Phú Thọ), cam Đường Canh, bưởi Diễn (Canh Diễn –
Hà Nội),… Trước đây đời sống của nhân dân còn nhiều khó khăn, lương thực,
thực phẩm thiếu nên việc trồng cây ăn quả có múi ít được chú trọng đầu tư
phát triển, do vậy năng suất thường đạt thấp, sản phẩm ít có giá trị hàng hoá.
Những năm gần đây, cây ăn quả có múi đóng vai trò quan trọng trong
việc nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống của nhân dân, đặc biệt là đồng bào
vùng Trung du miền núi phía Bắc, do hiệu quả kinh tế trồng cây ăn quả có
múi cao cộng với lợi thế khai thác về đất đai, khí hậu và lao động. Diện tích
cây ăn quả có múi toàn quốc trong những năm qua tăng khá nhanh, chủng loại
cây ăn quả có múi cũng được đánh giá và chọn lựa kỹ càng hơn, đa dạng hơn,
một số cây ăn quả có múi có giá trị kinh tế cao được trồng tập trung mang

20


tính đặc thù cho từng vùng sinh thái như: Bưởi Năm Roi được trồng chủ yếu
ở khu vực Đồng Bằng Sông Cửu Long, Cam Xã Đoài trồng phổ biến ở Nghệ
An, Hòa Bình, Quýt Bắc Sơn – Lạng Sơn...
Theo Vũ Tuyên Hoàng, phát triển cây ăn quả có múi trên cơ sở liên kết
nông - lâm - thuỷ sản - thuỷ lợi vùng Đồng bằng sông Cửu Long, Đông Nam
Bộ, một số vùng trung du miền núi phía Bắc vốn đã có diện tích khá rộng
trồng cây ăn quả cần phải được qui hoạch lại [15].
Khả năng phát triển cây ăn quả có múi ở nước ta rất to lớn. Thực trạng
phát triển cây ăn quả có múi nước ta mấy năm gần đây đã có nhiều cố gắng,

vùng nhất định và nhóm không đặc trưng có thể trồng trong một phổ thích
nghi rộng hơn [14].
Theo Vũ Mạnh Hải (2002) [32], vùng trồng cây ăn quả ở miền Bắc chủ
yếu tập trung vào các cây trồng chính như sau:
* Nhóm cây có múi: vùng trồng tập trung ở miền bắc thuộc khu vực
Trung du miền núi phía bắc và Bắc Trung bộ tâm điểm của vùng là các tỉnh
Hà Giang (các huyện vùng thấp) và Tuyên Quang chủ yếu là Hàm Yên. Các
khu vực bổ trợ khác như là Phú Thọ (huyện Đoan Hùng và Hạ Hoà) Lạng Sơn
(Chi Lăng, Cao Lộc), Hoà Bình (huyện Kim Bôi, khu vực Cao Phong), Thái
Nguyên (Bắc Sơn, Đồng Hỷ).
Vùng phía Bắc Trung bộ, tập trung chủ yếu là Nghệ An với hướng chủ
lực là các giống cam chanh, khu vực phụ cận phía Nam là (Hà Tĩnh, Thừa
Thiên Huế) chủ yếu phát triển các giống bưởi truyền thống và một số giống
cam quýt có chất lượng cao. Khu vực phụ cận phía bắc cây ăn quả tập trung là
tỉnh Thanh Hoá và hướng phát triển chủ yếu là các giống cam chanh.

22


Bảng 2.2 Diện tích Cam, Chanh, Quýt phân theo địa phương
Đơn vị: ha - Unit: ha
Số

Tỉnh/Thành phố

TT

Provinces/Cities
CẢ NƯỚC – WHOLE



28,290

27,749

29,800

6,000

5,800

5,325

5,621

5,900

200

200

105

108

100

1

Red River Delta

4

Hà Tây

400

600

424

450

600

5

Bắc Ninh

300

100

38

40

6

Hải Dương


500

495

500

500

9

Nam Định

700

700

435

431

400

10

Thái Bình

800

400


12,522

13,300

1

Hà Giang

4,400

4,500

4,510

4,399

4,700

2

Cao Bằng

300

300

292

288


5

Lạng Sơn

1,100

1,200

1,289

1,345

1,300

6

Tuyên Quang

2,000

2,700

2,784

2,835

3,100

7


1,300

700

527

527

500

10

Bắc Giang

400

300

328

282

500

11

Quảng Ninh

500



2

Điện Biên

100

200

185

38

300

3
4

Sơn La
Hoà Bình
Bắc Trung Bộ

100
700

300
500

256
588

North Central Coast
Thanh Hoá

2

Nghệ An

4,800

5,100

5,341

5,381

6,000

3

Hà Tĩnh

2,300

1,500

1,719

1,817

1,900


Thừa Thiên - Huế
Miền Nam – South
Duyên Hải Nam Trung Bộ

300
44,600

300
44,300

270
50,359

304
53,941

300
57,300

1,200

1,400

795

815

1,000


160

200

4

Bình Định

200

200

251

255

300

5

Phú Yên

100

72

77

100



202

200

VI
1

Highlands
Kon Tum

2

Gia Lai

100

100

78

93

100

3

Đắk Lắk

200


500

225

225

200

100

21

29

1

South Central Coast
TP Hồ Chí Minh

2

Ninh Thuận

3

Bình Phước

300


407

407

400

6

Đồng Nai

900

1,100

2,948

3,525

4,200

7

Bình Thuận

900

900

940



37,800

43,017

45,970

48,400

100

200

164

109

100

2

Đồng Tháp

3,500

2,600

2,689

2,142


6,600

7,000

6,674

6,959

7,600

6

Bến Tre

7,200

6,600

9,244

10,002

10,600

7

Kiên Giang

20


2,713

2,803

3,100

11

Sóc Trăng

1,900

1,900

2,121

2,509

3,000

13,600

12,100

Nguồn: Tổng cục thống

2.2.2.2 Bài học kinh nghiệm
Cây trồng có múi được trồng dải rác khắp các vùng miền tổ quốc ta,
chủng loại vô cùng phong phú và chất lượng cũng hết sức đa dạng. 15 năm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status