“Tuyển chọn xạ khuẩn streptomyces và nấm đối kháng trichoderma phòng trừ bệnh héo xanh vi khuẩn (ralstonia solanacearum smith) gây hại cà chua, ớt trong điều kiện in vitro và in vivo” - Pdf 50

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt khoảng thời gian thực hiện khóa luận này, ngoài sự nỗ lực của
bản thân, tôi còn nhận được sự quan tâm, giúp đỡ và tạo mọi điều kiện tốt nhất từ
phía các thầy cô để tôi hoàn thành đề tài.
Tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới cô giáo PGS. TS. Trần
Thị Thu Hà đã hướng dẫn, giúp đỡ tận tình trong suốt thời gian tôi thực hiện khóa
luận này.
Tôi xin cảm ơn tới các thầy, cô giáo và cán bộ, Bộ môn Bảo Vệ Thực Vật và
các thầy cô giáo trong Khoa Nông học, các thầy, cô giáo quản lý trại sản xuất thức
ăn chăn nuôi trường Đại Học Nông Lâm Huế đã quan tâm và tạo mọi điều kiện
cho tôi thực hiện khóa luận này.
Cảm ơn các bạn, các anh, các chị và người thân đã động viên, chia sẻ giúp
đỡ tôi vượt qua khó khăn để hoàn thành tốt bài khóa luận.
Xin chân thành cảm ơn!
Huế, ngày tháng Năm 2013
Sinh Viên

Trần Xuân Song

1


MỤC LỤC

2


DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1. Thành phần hoá học của 100g cà chua
Bảng 1.2. Thành phần hoá học của 100g ớt

Hình 4.4. Các chủng nấm Trichoderma ức chế HXVK

4


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
CKS

Chất kháng sinh

CFU

Colony Forming Unit (Số đơn vị khuẩn lạc)

CS

Cộng sự

FAO

Food and Agriculture Organization (Tổ chức
Liên Hợp Quốc về lương thực và nông nghiệp)

HTKS

Hoạt tính kháng sinh

HXVK

Héo xanh vi khuẩn


Sucrose– peptone– agar

TZC

Triphenyl tetrazolium chloride

VSV

Vi sinh vật

VK

Vi khuẩn

XK

Xạ khuẩn

5


Phần 1
MỞ ĐẦU, MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Mở đầu
Cà chua (Lycopersicon esculentum Mill) và Cây ớt cay (Capsicum annuum L)
là hai loài cây trồng có vai trò quan trọng trong họ cà Solanaceae, cây cà chua là
loại rau ăn quả được trồng ở hầu khắp các nước trên thế giới, có giá trị dinh dưỡng
cao chứa nhiều glucose, nhiều axit hữu cơ, các vitamin và khoáng chất.
Bảng 1.1. Thành phần hoá học của 100g cà chua

Carbohydrates

4,46 g

4,23 g

Chất xơ

1,10 g

0,40 g

223 mg

220 mg

Photpho

24 mg

19 mg

Magie

11 mg

11 mg

Canxi


Nguồn: USDA Nutrient Data Base.
Bên cạnh những giá trị dinh dưỡng to lớn giúp bổ sung nhiều dưỡng chất thiết
yếu cho cơ thể thì cà chua còn có ý nghĩa rất lớn về mặt y học. Cà chua có vị ngọt,
6


tính mát, có tác dụng tạo năng lượng, tăng sức sống, làm cân bằng tế bào, giải
nhiệt, chống hoại huyết, kháng khuẩn, chống độc, kiềm hoá máu có dư axit, hoà tan
urê, thải urê, điều hoà bào tiết, giúp tiêu hoá dễ dàng các loại bột và tinh bột. Dùng
ngoài để chữa bệnh trứng cá, mụn nhọt, viêm tấy và dùng lá để trị vết đốt của sâu
bọ. Chất tomatin chiết xuất từ lá cà chua khô có tác dụng kháng khuẩn, chống nấm,
diệt một số bệnh hại cây trồng. Diện tích trồng cà chua hằng năm của thế giới được
ước tính khoảng 4,6 triệu ha với sản lượng hơn 126 triệu tấn. Nhu cầu sử dụng
trong tiêu dùng và chế biến cà chua ngày càng gia tăng, cà chua có thể sử dụng ở
nhiều phương thức khác nhau, có thể dùng ở dạng sa lát, chế biến các món ăn, làm
quả tươi ở món tráng miệng, nước giải khát. Sản phẩm cà chua chế biến cũng rất đa
dạng như: cà chua cô đặc, cà chua đóng hộp nguyên quả, nước quả, nước sốt, tương
cà chua. Ở Việt Nam, cây cà chua được xếp vào các loại rau có giá trị kinh tế cao,
diện tích trồng cà chua lên đến chục ngàn ha, tập trung chủ yếu ở đồng bằng và
trung du phía Bắc. Hiện nay, có một số giống cà chua nhiệt đới lai tạo chọn lọc có
thể được trồng tại miền Trung, Tây Nguyên và Nam Bộ nên diện tích ngày càng
được mở rộng. Nhiều giống cà chua lai ghép có chất lượng tốt được phát triển
mạnh ở Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng. Ngoài ra một số giống cà chua chất lượng như
giống C95 đạt được tiêu chuẩn xuất khẩu ra thị trường thế giới...(Đào Xuân Thắng,
2003; Trương Quốc Ánh và cộng sự, 2012).
Cùng với cà chua, Cây ớt cay (Capsicum annuum L) là loại cây quan trọng thứ
hai sau cà chua trong họ cà. Ớt là một loại rau quả gia vị, rất cần thiết trong mỗi
bữa ăn của mỗi người, có lịch sử trồng trọt từ lâu đời ở nước ta và được ưa chuộng
nhất trong nhóm cây gia vị. Ớt chứa nhiều chất dinh dưỡng dễ tiêu hóa như đường,
đạm, caroten (tiền vitamin A), các sinh tố khác như vitamin C, B1, B2...(Lê Thị

Chất béo

0,6g

Na

6,5mg

Chất khoáng

1,0g

K

2,7mg

Cacbuahydrat

3,0g

S

34mg

Chất sơ

6,8g

Cu


phục được tính rủi ro của thị trường, giữ giá cả ổn định, đảm bảo được lợi ích của
người sản xuất. Ớt là loại cây dễ trồng không kén đất, thích ứng với nhiều vùng
sinh thái và tiềm năng phát triển ớt ở nước ta rất to lớn (Trương Thị Hồng Hải, năm
2002). Với những đặc điểm quan trọng về hai loài cây trồng cà chua và ớt cay trên
kết hợp với nước ta nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm quanh năm
nên thuận lợi cho việc gieo trồng các loại cây này, đồng thời điều kiện thời tiết khí
hậu của nước ta cũng rất thuận lợi cho các loài vi sinh vật xâm nhiễm gây hại đối
với cây trồng. Trong đó các loài nấm, vi khuẩn gây bệnh là nhóm tác nhân chính
gây bệnh trên hầu hết các loại cây trồng, đặc biệt là nhóm vi khuẩn gây bệnh héo
xanh (Nguyễn Tất Thắng, 2012). Một trong những loài vi khuẩn điển hình gây bệnh
héo xanh trên cà chua, ớt, cà, lạc, khoai tây, thuốc lá, là vi khuẩn Ralstonia
solanacearum Smith.
Vi khuẩn Ralstonia solanacearum Smith gây ra bệnh héo xanh. Bệnh này có
nguồn gốc trong đất, phổ biến và gây tổn thất nghiêm trọng trong sản xuất nông
nghiệp, làm giảm đáng kể đến năng suất và chất lượng của nông sản phẩm (Nguyễn
8


Tất Thắng và cộng sự, 2011). Vi khuẩn Ralstonia solanacearum có khả năng gây
hại trên 200 loài cây trồng, cây rừng thuộc hơn 35 họ thực vật khác nhau.
Trong thực tế sản xuất, phòng chống bệnh héo xanh vi khuẩn là vấn đề rất khó
khăn. Vi khuẩn gây bệnh Ralstonia solanacearum có nhiều chủng và nòi khác nhau
(theo Vũ Triệu Mân có 5 chủng), phân bố ký chủ rộng, tồn tại lâu trong tàn dư thực
vật và trong đất. Các bệnh này khó phòng trừ bằng thuốc hóa học nên càng dễ lạm
dụng gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người, đất, nước, môi trường sinh thái,
từ đó các chế phẩm sinh học được coi là biện pháp có triển vọng. Hiện nay ở nước
ta những nghiên cứu về chế phẩm sinh học để phòng trừ các tác nhân gây bệnh có
nguồn gốc trong đất hại cây trồng chưa được ứng dụng nhiều trong sản xuất
(Nguyễn Tất Thắng và cộng sự, 2010). Trên cơ sở của thực tế sản xuất để góp phần
ổn định năng suất, đảm bảo hiệu quả và thúc đẩy sản xuất nông nghiệp (Ngô Thị

2.1. Cơ sở lý luận và thực tiễn
2.1.1. Cơ sở lý luận
Để đáp ứng nhu cầu về lương thực, thực phẩm ngày càng tăng của con người,
quá trình sản xuất nông nghiệp ngày càng phát triển. Đồng thời cùng với quá trình
phát triển sản xuất, sự xuất hiện của dịch hại là nguyên nhân gây bất ổn đến chất
lượng và năng suất nông sản, gây thiệt hại tới 20- 30% sản lượng, đôi khi còn cao
hơn.
Để phòng chống dịch hại bảo vệ cây trồng con người đã sử dụng các biện pháp
khác nhau như biện pháp thủ công, biện pháp vật lý, biện pháp hóa học, biện pháp
sinh học... Trong thời gian qua biện pháp hóa học được coi là biện pháp tích cực
cho hiệu quả cao, nhanh, đơn giản, dễ sử dụng. Nhưng biện pháp này bộc lộ nhiều
tồn tại.
Mặt trái của thuốc hóa học thể hiện ở chổ nếu sử dụng thuốc không hợp lý,
không đúng, sử dụng lâu dài sẽ kéo theo hàng loạt vấn đề như ảnh hưởng tới sức
khỏe con người và động vật tăng khả năng hình thành tính kháng thuốc của bệnh
hại, tiêu diệt hệ thiên địch, phá vỡ cân bằng sinh học, gây ra nhiều vụ dịch hại mới,
gây hậu quả xấu tới môi trường, có thể giảm chất lượng của sản phẩm khi dư lượng
thuốc cao, chi phí phòng trừ bệnh cao.
Để góp phần khắc phục tồn tại này, phòng trừ bệnh hại bằng biện pháp sinh
học đã được nhiều nhà khoa học quan tâm và nghiên cứu. Hiện nay, hướng nghiên
cứu chính trong kiểm soát dịch hại là biện pháp quản lý dịch hại tổng hợp (IPM),
trong đó biện pháp sinh học là biện pháp quan trọng.
Nông nghiệp nói riêng và hoạt động của con người nói chung hiện đang đứng
trước bốn thách thức lớn lao: có đủ lương thực để nuôi sống người dân; nguồn dầu
khoáng cạn kiệt; sự suy giảm đa dạng sinh học do sự khai thác quá mức và ô nhiễm
môi trường do sử dụng nhiều hóa chất. Do đó, cần phải định hướng lại sản xuất
theo quan điểm hệ thống tổng hợp, trong đó các biện pháp quản lý dịch hại đều ảnh
hưởng tới hệ thống cây trồng trong hệ thống canh tác từ lúc gieo trồng đến lúc thu
hoạch. Chính vì vậy, nhiều nhà khoa học nhận thấy rằng quản lý dịch hại cần đóng
vai trò quan trọng hơn, như là hình mẫu thực hiện quan điểm tổng hợp trong mọi

loạt cây cà chua trên đồng ruộng, gây tổn thất lớn ở các vùng trồng cà chua trong
nước, nhất là ở vùng đồng bằng sông Hồng...
Do các tác nhân gây bệnh có nguồn gốc trong đất nên việc chẩn đoán và công
tác phòng trừ bệnh gặp rất nhiều khó khăn. Các bệnh này rất khó phòng trừ bằng
thuốc hóa học nên càng dễ bị lạm dụng, gây ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe con
người, đất, nước, môi trường sinh thái. Mặt khác, hiện nay ở nước ta những nghiên
12


cứu về chế phẩm sinh học để phòng trừ các tác nhân gây bệnh có nguồn gốc trong
đất hại cây trồng chưa được ứng dụng nhiều trong sản xuất.
Vì vậy, nghiên cứu đề xuất quy trình quản lý tổng hợp, trong đó chú trọng biện
pháp sinh học một cách tổng hợp để nâng cao hiệu quả phòng trừ bệnh héo xanh
trên một số cây trồng cạn là điều cấp thiết hiện nay (Nguyễn Tất Thắng, 2012).
Từ những cơ sở trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài này để góp phần
giúp bà con nông dân có một định hướng phòng trừ bệnh héo xanh do vi khuẩn
Ralstonia solanacearum có hiệu quả, giảm thiệt hại do bệnh gây ra, nâng cao hiệu
quả kinh tế và đảm bảo cân bằng sinh thái.
2.2. Tình hình phát triển cà chua và ớt trên thế giới
2.2.1. Tình hình phát triển cà chua trên thế giới
Cà chua là loại cây trồng tuy được chấp nhận như một loại thực phẩm và có
lịch sử phát triển tương đối muộn nhưng do nó có khả năng thích ứng rộng và hiệu
quả kinh tế cũng như giá trị sử dụng cao nên trên thế giới đã có nhiều giống mới
được ra đời nhằm đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của con người cả về số
lượng và chất lượng. Theo FAO (1999), trên thế giới đã có 158 nước trồng cà chua.
Diện tích, sản lượng, năng suất cà chua của các châu lục trên thế giới năm 2010 thể
hiện như sau:
Bảng 2.1. Diện tích, sản lượng, năng suất cà chua của các châu lục năm 2010
Tên châu lục


2.436.490

33,58

81.812.010

Châu Âu

553.400

39,32

21.760.150

Châu Úc

9.130

63,28

577.660

Nguồn : FAO Database Static 2011
Trong 10 năm (từ năm 2001 đến năm 2010) diện tích cà chua thế giới tăng 1,09 lần
(từ 3.990.300 ha lên 4.338.830 ha), sản lượng tăng 1,35 lần (từ 107.977.760 tấn lên
145.751.510 tấn), trong khi năng suất không có sự thay đổi đáng kể.
13


Theo bảng 2.1 thì năm 2010, Châu Á có diện tích trồng cà chua (2.436.490 ha) và


10.05.000

5

Ai Cập

8.544.990

6

Italia

6.024.800

7

Iran

5.256.110

8

Tây Ban Nha

4.312.700

9

Brazil


Giá trị
(1000 $)
1.431.590
14


2

Nga

673.894

628.923

3

Đức

654.966

1.293.840

4

Pháp

482.546

559.936


285.068

9

Irắc

112.129

61.441

10

A-rập

103.498

58.049

Nguồn: FAO Database Static 2009
Cà chua chế biến được sản xuất ở nhiều nước trên thế giới nhưng nhiều nhất là
ở Mỹ và Italia. Ở Mỹ, năm 2002 sản lượng nhiều nhất ước đạt 10,1 triệu tấn. Trong
đó các sản phẩm cà chua chế biến chủ yếu là cà chua cô đặc. Ở Italia, sản lượng cà
chua chế biến ước tính đạt được là 4,7 triệu tấn. Ở Châu Á, Đài Loan là một trong
những nước có nền công nghiệp chế biến cà chua sớm nhất. Ngay từ 1918, Đài
Loan đã phát triển cà chua đóng hộp. Năm 1967, họ mới chỉ có một công ty chế
biến cà chua. Đến năm 1976, họ đã có tới 50 nhà máy sản xuất cà chua đóng hộp
(Nguyễn Viết Khoa, năm 2012).
2.2.2. Tình hình phát triển ớt trên thế giới
Cây ớt có nguồn gốc rất cổ xưa. Các nhà khảo cổ học đã tìm thấy quả ớt khô

thống kê của FAO năm 2011 diện tích, sản lượng và năng suất trồng ớt và tiêu xanh
của thế giới như sau:

Bảng 2.4. Diện tích, sản lượng, năng suất ớt và tiêu xanh của thế giới
giai đoạn 2001- 2011
Năm

Diện tích
(ha)

Sản lượng
(tấn)

Năng suất
(tấn/ha)
16


2001

1.638.923 21.345.331

13,02

2002

1.704.206 22.395.814

13,14


2008

1.794.753 28.145.372

15,68

2009

1.875.056 28.954.226

15,44

2010

1.894.901 29.404.232

15,51

2011

1.897.946 29.939.029

15,77

Nguồn : FAOSTAT 2011
Các nước nhập khẩu và xuất khẩu ớt quan trọng nhất bao gồm: Trung Quốc,
Ấn Độ, Mêxicô, Pakistan, Thái Lan và Thổ Nhĩ Kỳ. Theo bảng 2.4 thì nhìn chung
diện tích, sản lượng cũng như năng suất trồng ớt và tiêu xanh của thế giới có tăng
qua các năm cụ thể là năm 2011 diện tích tăng 1,15 lần, sản lượng tăng 1,4 lần và
năng suất tăng 1,2 lần so với năm 2001 điều đó chứng tỏ rằng thế giới cũng đang


24.644

172

424.126

2005

23.566

198

466.124

2006

22.962

196

450.426

2007

23.283

197

458.214

(Nguyễn Viết Khoa, 2012).
2.3.2. Tình hình sản xuất và tiêu thụ ớt ở Việt Nam
Việt Nam nằm trong khu vực 8 0 - 230 vĩ Bắc, chịu ảnh hưởng của khí hậu
nhiệt đới gió mùa, thích hợp cho cây ớt phát triển quanh năm. Tuy nhiên, để bảo
đảm có năng suất cao, tăng hệ số sử dụng đất, cây ớt thường được gieo trồng vào 2
vụ chính là: Vụ đông xuân, gieo hạt từ tháng 10 đến tháng 2, trồng tháng 1 - 2 và
thu hoạch vào tháng 4 - 5, hay tháng 6 - 7. Vụ hè thu: Gieo hạt tháng 6 - 7, trồng
tháng 8 - 9, thu tháng 1 - 2. Ngoài ra có thể trồng ớt trong vụ xuân hè gieo hạt
tháng 2 - 3, trồng tháng 3 - 4, thu tháng 7 - 8.
Mặc dù cây ớt ở nước ta đã được trồng trọt từ lâu đời nhưng chủ yếu tập
trung ở các tỉnh miền Trung (Quảng Bình, Quảng Trị), vùng ven đô, khu vực đông
dân cư (Hà Nội, Thái Bình, Hải Hưng, Vĩnh Phúc, vv…). Vùng chuyên canh ớt đã
được hình thành ở Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế. Tuy nhiên, diện tích
trồng ớt có thể mở rộng ra ở đồng bằng Bắc Bộ, đồng bằng sông Cửu Long và miền
Tây Nam Bộ.
Trong giai đoạn trước năm 1990, nhiều vùng sản xuất ớt lớn được hình thành
để phục vụ cho xuất khẩu ớt. Chỉ tính riêng mấy tỉnh miền Trung, vùng sản xuất
hàng hoá có khoảng 3.000ha, có năm lên đến 5.700ha (1988), đảm bảo mỗi năm
xuất sang thị trường Liên Xô (cũ) 4.500 tấn ớt bột.
Ở Thanh Hoá, cây ớt được trồng tập trung ở một số huyện như Thiệu Yên,
Vĩnh Lộc, Triệu Sơn, Thọ Xuân. Năm 1983, toàn tỉnh mua được 50 tấn ớt khô, năm
1984 là 100 tấn.
Năm 1994 - 1995 Thừa Thiên Huế có diện tích trồng ớt là 600ha, năng suất
trung bình là 10,6 tấn/ha, xuất khẩu khoảng 400 - 500 tấn ớt, ngoài ra còn được
xuất theo con đường tiểu ngạch hàng trăm tấn.
Bảng 2.6. Diện tích, năng suất, sản lượng ớt và tiêu khô của Việt Nam
từ năm 2001-2011
Năm

Diện tích

90.492

1,32

2004

51.000

78.500

1,53

2005

55.508

85.879

1,54

2006

57.058

84.382

1,47

2007


2011

63.538

90.001

1,41
Ng
uồn : FAOSTAT 2011

Hiện nay diện tích trồng ớt của nước ta còn manh mún chưa được quy hoạch.
Do đó cần có chiến lược phát triển đối với ngành trồng ớt. Tình hình sản xuất cây
ớt và tiêu khô của nước ta những năm trở lại đây được thể hiện qua bảng cho thấy:
cả 3 yếu tố là diện tích, sản lượng và năng suất trong 10 năm từ 2001 đến 2011 có
sự biến động tăng giảm thất thường qua các năm. Với thời gian 10 năm nhưng nhìn
một cách tổng quát thì năm 2011 so với năm 2001 tăng khoảng 1,1 lần về các tiêu
chí diện tích, sản lượng và năng suất. Thấy rõ được tiềm năng của thị trường ớt
trong tương lai, phục vụ cho chế biến và xuất khẩu, cây ớt là một trong những cây
trồng được chú ý phát triển trong giai đoạn tới (Phạm Đình Quân).
2.4. Tổng quan về đối tượng nghiên cứu
2.4.1. Những đặc điểm và nghiên cứu về bệnh héo xanh vi khuẩn Ralstonia
solanacearum Smith
Vi khuẩn Ralstonia solanacearum là vi khuẩn gây hại mạch dẫn trên 200 loài
cây cỏ. Halted đã nghiên cứu bệnh này vào năm 1896; E.F.Smith nghiên cứu, mô
tả, định tên Pseudomonas solanacearum. Những năm sau đó bệnh héo rũ được
nhiều nhà trên thế giới đi sâu, nghiên cứu một cách toàn diện như Kelman 1953;
Hayward 1964; Cook and Backer 1983; Yabuuchi 1992; 1995 (Vũ Triệu Mân và Lê
Lương Tề, 1998).
20


thành quả non (Nguyễn Văn Viên và cộng sự, 2010).
Vi khuẩn gây bệnh héo xanh là loại vi khuẩn đất, ký sinh thực vật thuộc họ
Pseudomonadacea, thuộc bộ Pseudomonadales. Vi khuẩn hình gậy 0,5 × 1,5
µm, háo khí, chuyển động có lông roi (1- 3) ở đầu, nhuộm gram âm. Trên môi
21


trường Kelman (1954) khuẩn lạc màu trắng kem nhẵn bóng, nhờn (vi khuẩn có
tính độc gây bệnh). Nếu khuẩn lạc chuyển sang kiểu khuẩn lạc nâu, răn reo là
isolate vi khuẩn mất tính độc (nhược độc). Để phát hiện dòng vi khuẩn có tính
độc thường dùng môi trường chọn lọc TZC. Trên môi trường này isolate vi
khuẩn có tính độc sẽ có khuẩn lạc ở giữa màu hồng, rìa trắng.
Nói chung loài Pseudomonas solanacearum có khả năng phân giải làm lỏng
gelatin, có dòng có khả năng thuỷ phân tinh bột, esculin, có khả năng tạo ra axit
khi phân giải một số loại đường, hợp chất cacbon… Vi khuẩn phát triển thích
hợp ở pH 7- 7,2. Nhiệt độ thích hợp 25- 300C nhất là ở 300C, nhiệt độ tối thiểu là
100C, tối đa là 410C, nhiệt độ gây chết là 520C (Vũ Triệu Mân, 2007).
Bệnh héo xanh vi khuẩn là một trong các bệnh gây hại nghiêm trọng đến năng
suất và chất lượng cây lạc, các cây họ cà ở nhiều nước trên thế giới. Bệnh HXVK là
loại bệnh điển hình ở vùng nhiệt đới, cận nhiệt đới và những vùng có khí hậu ôn
đới trên thế giới. Bệnh gây nên những thiệt hại nghiêm trọng về kinh tế, làm giảm
năng suất trên nhiều cây trồng từ 15 đến 95%, thậm chí 100% trên cây cà chua,
70% trên cây khoai tây và 90% trên cây lạc.
Ở Brazil, tỷ lệ bệnh HXVK trung bình trên cà chua của 30 vùng điều tra là
13,1%, trong đó có 7 vùng tỷ lệ bệnh từ 20,1 đến 50% và 1 vùng tỷ lệ bệnh lớn hơn
90%.
Ở Trung Quốc, bệnh HXVK gây hại nghiêm trọng trên nhiều loại cây trồng và
phân bố rộng rãi không chỉ có trên cây họ cà như cà chua, cây cà, khoai tây, thuốc
lá, gừng mà còn gây hại phổ biến trên cây thân gỗ như ôliu (Olea europoeo), cây
dâu (Morus alba).

dạng AND các chủng vi khuẩn gây bệnh héo xanh hại lạc bằng kỹ thuật RADP, kết
quả nghiên cứu của tác giả cho thấy rằng: Khi phân tích tính đa hình của 6 chủng
khuẩn với 20 mồi ngẫu nhiên thì có 15/20 cho tính đa hình. Trong phạm vi vùng
phân tích có 126 phân đoạn ADN được nhân bản, số lượng phân đoạn ADN được
nhân bản của các mồi dao động từ 1 đến 13. Hệ số sai khác di truyền giữa 6 chủng
khuẩn nghiên cứu là từ 0,02% đến 29%. Chủng P4 có sự sai khác rõ rệt với các
chủng còn lại, hai chủng P3 và P5 có sự giống nhau đến 98%. Sự đa dạng của các
chủng còn thể hiện ngay trên cùng một vùng địa lý.
Lê Lương Tề (2002) đã đưa ra kết quả là giống cà tím EG203 có tính kháng
cao đối với các dòng vi khuẩn phân lập từ các vùng phía bắc, ghép cà chua VL2000
trên gốc ghép là cà tím EG203 kháng bệnh có khả năng phòng chống bệnh héo
xanh vi khuẩn. Cũng theo tác giả thì khi nghiên cứu bệnh héo xanh vi khuẩn ở vùng
đồng bằng sông Hồng, tác giả đã công bố kết quả các giống cà chua CLN-1462A và
P.T4719A đưa lại năng suất cao ở vùng này.
23


Hoàng Hoa Long (2002) cùng cộng sự cũng đã sử dụng phương pháp kỹ thuật
gen PCR (Polymerase Chain Reaction) để giám định vi khuẩn héo xanh, qua các
mẫu phân lập từ cà chua và khoai tây bị bệnh héo xanh điển hình, tác giả nhận định
tất cả 5 chủng vi khuẩn độc đều cho sản phẩm PCR là 281bp và các băng đều thể
hiện tính đặc hiệu cao do vậy tất cả 5 chủng đều thuộc loài vi khuẩn Ralstonia
solanacearum. Ứng dụng các kỹ thuật sinh học phân tử trong việc xác định loài vi
khuẩn thuộc chi Pseudomonas có khả năng kháng vi khuẩn Ralstonia
solanacearum cũng được viện công nghệ sinh học nghiên cứu, kết quả của các nhà
nghiên cứu cho thấy đã phân lập được 7 chủng Pseudomonas spp có khả năng
kháng mạnh vi khuẩn Ralstonia solanacearum gây bệnh héo xanh vi khuẩn với
đường kính vòng vô khuẩn 18-33 mm và bằng kỹ thuật sinh học phân tử hiện đại
(Kỹ thuật Western blot với kháng huyết thanh chuẩn) đã xác định được chủng
H

tính. Điều kiện phát triển tối ưu của nấm 25- 300C. Một vài loại phát triển tốt ở
350C. Một số ít phát triển tốt ở 400C. Khuẩn ty của vi nấm không màu, cuống sinh
bào tử phân nhánh nhiều, ở cuối nhánh phát triển thành một khối tròn mang các bào
tử trần không có vách ngăn, không màu, liên kết nhau thành chùm nhỏ ở đầu cành
nhờ chất nhầy. Bào tử hình cầu, hình elip hoặc hình thuôn. Khuẩn lạc nấm có màu
trắng hoặc từ lục trắng đến màu lục, vàng, xanh. Các chủng nấm Trichoderma phát
triển rất nhanh, chúng có thể đạt đường kính khuẩn lạc từ 2- 9 cm sau 4 ngày nuôi
cấy.
Nấm Trichoderma được ứng dụng để bảo vệ cây trồng chống các nấm và vi
khuẩn gây bệnh. Nấm Trichoderma đối kháng với nấm gây bệnh cây trồng thông
qua nhiều cơ chế bao gồm: chất kháng sinh và enzym phân hủy vách tế bào của
nấm bệnh (Nguyễn Văn Đĩnh và cộng sự, 2007).
Ý niệm đầu tiên sử dụng nấm Trichoderma cho cây trồng có từ đầu thập kỷ 30.
Weingding đã ghi nhận rằng bón nấm Trichoderma vào đất có thể bảo vệ được các
cây con mới mọc từ hạt không bị bệnh. Từ đó những nghiên cứu về nấm
Trichoderma được nghiên cứu và sử dụng chúng để trừ bệnh hại cây trồng đã được
tiến hành ở nhiều nước trên thế giới. Cho đến nay đã có khoảng 30 nước có những
nghiên cứu sử dụng nấm Trichoderma để trừ bệnh hại cây trồng như: Nga, Mỹ,
Anh, Pháp, Đức, Hungari, Ấn Độ, Thái Lan, Philippin, Malaysia... Thống kê cho
thấy có khoảng 150 loài vi sinh vật (chủ yếu là nấm) gây bệnh trên 40 loài cây
trồng đã được nghiên cứu trừ bằng nấm Trichoderma.
Một số nghiên cứu đã chứng minh hiệu lực phòng trừ của nấm Trichoderma
như: Năm 1932 Weingding mô tả chi tiết của những sợi nấm là tác nhân sinh học
trên sợi nấm Rhizoctonia solani bao gồm sự cuộn quanh nấm bệnh và xâm nhập,
phân giải tế bào chất của nấm bệnh. Hiện tượng này xảy ra bất kể việc cung cấp các
chất dinh dưỡng bên ngoài nấm bệnh.
25




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status