Nông thôn Việt Nam qua tiểu thuyết Thời xa vắng của Lê Lựu - Pdf 50

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

PHAN THỊ QUYÊN

NÔNG THÔN VIỆT NAM QUA TIỂU THUYẾT
THỜI XA VẮNG CỦA LÊ LỰU
Ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 8.22.01.21

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ,
VĂN HỌC VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

Người hướng dẫn khoa học: GS PHONG LÊ

THÁI NGUYÊN- 2018

i


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số
liệu nêu trong luận văn là trung thực. Những kết luận khoa học của luận văn
chưa từng được ai công bố trong bất kì công trình nào khác.
Tác giả luận văn

Phan Thị Quyên

Xác nhận của người hướng dẫn

Xác nhận của khoa chuyên môn

1. Lí do chọn đề tài ....................................................................................... 1
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu ........................................................................ 2
2.1. Những ý kiến chung về Lê Lựu và các sáng tác của ông ........................ 2
2.2. Những ý kiến bàn riêng về tiểu thuyết Thời xa vắng .............................. 3
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu............................................................. 6
4. Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu ......................................... 6
4.1. Mục đích nghiên cứu ............................................................................. 6
4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu ............................................................................. 6
5. Phương pháp nghiên cứu .......................................................................... 7
7. Cấu trúc của luận văn ............................................................................... 7
CHƯƠNG 1: THỜI XA VẮNG TRONG BỐI CẢNH CHUNG CỦA
TIỂU THUYẾT THỜI KỲ ĐỔI MỚI....................................................... 8
1.1. Tiểu thuyết Việt Nam thời kì đổi mới .................................................... 8
1.1.1. Cơ sở thực tiễn của công cuộc đổi mới văn học nghệ thuật ................. 8
1.1.2. Tiểu thuyết nông thôn trong bức tranh chung của tiểu thuyết thời kì
đổi mới ....................................................................................................... 10
1.2. Quan điểm nghệ thuật, con đường sáng tạo của Lê Lựu và vị trí của tiểu
thuyết Thời xa vắng .................................................................................... 20
1.2.1. Quan niệm nghệ thuật ....................................................................... 20
1.2.2. Con đường sáng tạo của Lê Lựu ....................................................... 21
1.2.3. Vị trí của tiểu thuyết Thời xa vắng ................................................... 23
Tiểu kết chương 1 ...................................................................................... 25
CHƯƠNG 2: NÔNG THÔN TRONG THỜI XA VẮNG- NHÌN TỪ
PHƯƠNG DIỆN NỘI DUNG ................................................................... 26
iv


2.1. Bức tranh hiện thực cuộc sống nông thôn ............................................ 26
2.1.1. Vùng quê nghèo khó ......................................................................... 27
2.1.2. Vùng quê “Đất lề quê thói” .............................................................. 30

1.1. Việt Nam từ sau Cách mạng tháng 8 cho đến thời kỳ Đổi mới- thập
niên 1980, cơ bản vẫn là một nước thuần nông nghiệp, nông dân vẫn là lực
lượng cơ bản trong cấu trúc dân cư. Bởi vậy trong văn học, đề tài nông thôn
bao giờ cũng là một đề tài lớn, luôn có nhiều khoảng trống hứa hẹn và thu hút
sự quan tâm của nhiều thế hệ cầm bút. Với sự phản ánh hiện thực nông thôn, từ
lâu các nhà văn đã thể hiện được phần quan trọng cuộc sống, con người Việt
Nam qua các chặng đường phát triển của dân tộc. Tuy nhiên ở mỗi thời kì cũng
có những đặc trưng và ràng buộc lịch sử nhất định. Lịch sử đã ghi danh nhiều
tác giả, tác phẩm tiêu biểu về mảng đề tài này. Vấn đề nông thôn và cuộc sống
của người nông dân cũng luôn được Đảng và Chính phủ quan tâm đặt lên hàng
đầu, đã và đang là vấn đề thuộc định hướng An sinh xã hội.
1.2. Đại hội lần thứ VI của Đảng (1986) đáp ứng nhu cầu đổi mới toàn
diện đất nước. Tinh thần đổi mới của Đại hội như một luồng gió mới thổi vào
đời sống văn học nghệ thuật, mở ra thời kì Đổi mới của văn học Việt Nam trên
tinh thần đổi mới tư duy, nhìn thẳng vào sự thật. Văn xuôi nói chung và tiểu
thuyết nói riêng viết về nông thôn vì thế cũng có những bước chuyển biến quan
trọng trong việc đổi mới tư duy và nghệ thuật biểu hiện. Đào sâu vào vấn đề
nhận thức và đánh giá lại lịch sử dân tộc, với cái nhìn thế sự, vấn đề nông thôn
và cuộc sống của người nông dân đã xuất hiện trên trang văn với những cung
bậc tình cảm, tâm trạng khác nhau. Nhà văn, nhà biên kịch Phạm Ngọc Tiến là
người có nhiều say mê, tâm huyết ở mảng đề tài này, cho rằng: “Đất nước ta là
nông thôn. Chất dân dã của người nông dân tạo nên diện mạo cho nhân vật có
những tính chất riêng biệt, điển hình, sinh sắc. Hình thái sinh hoạt nông thôn dễ
đưa vào tác phẩm. Đề tài nông thôn chứa đựng nhiều vấn đề về nhân sinh, đổi
đời, băng hoại đạo đức...” [73]. Cùng với đó là cuộc sống riêng tư, số phận con
người được quan tâm- chú ý trong nhiều chiều đã tạo ra ấn tượng tốt, được độc
giả tích cực đón nhận với thái độ trân trọng và chia sẻ.

1




Nhận xét về tiểu thuyết Lê Lựu, tác giả Lê Hồng Lâm cho thấy: Sở dĩ tác
phẩm của Lê Lựu như Thời xa vắng, Sóng ở đáy sông, Hai nhà… gây được dư
luận và có chỗ đứng riêng trên văn đàn là “bởi ông luôn viết hết mình như ông
sống, yêu ghét rạch ròi và đặc biệt là đi đến tận cùng tính cách nhân vật (…). Ở
mức độ nào đó, nhà văn đã tạo ra những nhân vật điển hình trong những hoàn
cảnh điển hình” [56, tr.703].
Trần Bảo Hưng cho rằng “Thô mộc hồn nhiên và đầy ắp chất sống - ngay
cả khi nghĩ ngợi triết lí cũng rất hồn nhiên, cũng là triết lí bật lên trực tiếp từ
đời sống”. Ông đánh giá “Tất cả dường như đã trở thành phong cách, thành cá
tính của Lê Lựu” [28].
Ngô Thảo trong một bài viết Về truyện ngắn Lê Lựu đã nhận định: “Lê
Lựu là một người đang tìm tòi. Truyện nào của anh cũng tìm được những nét
tính cách mới, những hướng khai thác vấn đề mới” [61, 227].
Đinh Quang Tốn đưa ra nhận định về vị trí của nhà văn Lê Lựu “Nếu
trong tổng số sáu trăm hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, cứ mười người
chọn lấy một người tiêu biểu, thì Lê Lựu là một trong số sáu mươi nhà văn
ấy" [56, tr. 663].
Những ý kiến trên đều thống nhất đề cao tâm huyết của Lê Lựu trong
sáng tạo nghệ thuật, khẳng định được vị trí, phong cách trong những sáng tác
của ông, góp phần tạo nên diện mạo của văn học Việt Nam thời kì đổi mới.
2.2. Những ý kiến bàn riêng về tiểu thuyết Thời xa vắng
Năm 1986, cuốn tiểu thuyết Thời xa vắng “trình làng” đã thu hút được
sự chú ý trong dư luận và được đánh giá là một “cọc tiêu tiền trạm” của công
cuộc đổi mới văn học. Tác phẩm này nhanh chóng thu nhận nhiều ý kiến
đánh giá của các nhà nghiên cứu, phê bình. Cuốn Lê Lựu Tạp ăn (2002) là
một công trình tổng hợp những bài viết, những bài phê bình văn học của Lê
Lựu đối với các nhà văn, nghề văn. Đặc biệt ở phần 4 cuốn sách đã tập hợp
khá nhiều bài viết của các nhà nghiên cứu, phê bình liên quan đến tiểu thuyết

câu chuyện trên, Hoàng Ngọc Hiến đặt ra những vấn đề bức xúc của xã hội:
“Lê Lựu chỉ đụng đến đề tài “người nhà quê và đô thị” một cách ngẫu nhiên:
chỉ là câu chuyện thương tâm một “anh nhà quê” chơi trèo với thành phố bị
hại. Trên đất nước ta sau khi thống nhất, không phải cán bộ tiếp quản nào
4


cũng trở thành chủ của thành phố, không ít “người nhà quê” khi tiếp xúc với
đô thị đã bị hại hoàn toàn, sống dỡ chết dở, điêu đứng bi thảm, sự thất bại
của họ mang ý nghĩa xã hội sâu sắc [26, tr. 119].
Đề tài hậu phương nông thôn miền Bắc trong chiến tranh chống Mỹ có
nhiều người viết, nhưng theo đánh giá của Đinh Quang Tốn thì “Lê Lựu là
người viết thành công nhất” [74, tr. 22]. “Thời xa vắng viết về hậu phương
chống Mỹ cứu nước với cả cái vui và cái buồn, cái nông nhiệt và sự non nớt,
những quầng sáng và bóng mờ, có cả nụ cười và nước mắt” [74, tr.18].
Tìm hiểu tiểu thuyết Thời xa vắng, Thiếu Mai khẳng định tài năng xây dựng
nhân vật của Lê Lựu: “Lê Lựu tỏ ra hiểu nhân vật của mình đến chân tơ, kẽ tóc,
đến tận những ngọn ngành, sâu thẳm nhất của tình cảm, suy nghĩ” [49, tr. 577].
Vương Trí Nhàn trong bài viết Một đóng góp vào việc nhận dạng con
người Việt Nam hôm nay cho rằng: “Lê Lựu chỉ nói riêng về con người,
những mối quan hệ giữa người với người. Một vấn đề muôn thủa mà cũng là
vấn đề chúng ta nói đi nói lại rất nhiều (…) làm thế nào để giúp con người
nhận thức về chính mình đầy đủ hơn từ đó tìm được cách sống hợp lí hơn,
đấy là nhiệm vụ thiêng liêng mà mọi nền văn học chân chính xưa nay muốn
đảm nhận” [53].
Bên cạnh các nhận định khẳng định thành công về mặt nội dung cũng như
nghệ thuật của Thời xa vắng, một số ý kiến khác chỉ ra nhược điểm của Lê
Lựu về kết cấu yếu, câu chữ rối, rậm… Theo Thiếu Mai “Thời xa vắng tuy vẫn
còn những nhược điểm, còn thiếu một sự chặt chẽ, nhất quán cần thiết, nhưng
với ưu điểm rất trội của nó, nó là một thành công, nó đóng góp vào nền văn học

Việt Nam thời kì tiền đổi mới, nhất là từ những năm đầu thập niên 1980 và
những đóng góp của nhà văn cho tiểu thuyết thời kì này.
Cảm thụ toàn diện hơn về hiện thực cuộc sống nông thôn Việt Nam thời kì
đổi mới, đồng thời chỉ ra những nét đặc sắc trong phương thức nghệ thuật thể
hiện hình ảnh nông thôn của tiểu thuyết Thời xa vắng so với những cuốn tiểu
thuyết trước và sau đó.
4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận giải những vấn đề lý luận, thực tiễn liên quan đến luận văn.
Làm rõ những giá trị của tác phẩm trên phương diện nội dung và nghệ thuật.
Đánh giá, đối sánh với một số tác phẩm trước và sau thời kì đổi mới cùng
viết về nông thôn Việt Nam.

6


5. Phương pháp nghiên cứu
Thực hiện luận văn, người viết kết hợp vận dụng một số phương pháp
nghiên cứu cơ bản như sau:
Phương pháp thống kê: Thao tác thống kê mang lại rất nhiều tác phẩm viết
về đề tài nông thông qua các giai đoạn, làm cơ sở cho bước so sánh trong quá
trình triển khai nội dung. Thao tác phân loại rất quan trọng để lựa chọn ra một
nhóm tác phẩm phù hợp với đối tượng và mục đích của đề tài.
Phương pháp phân tích tổng hợp: Nắm vững đặc trưng, phương pháp luận
loại hình thể loại tiểu thuyết để khái quát bức tranh nông thôn, tìm ra và phân
tích những vấn đề chung, những biến đổi của xã hội, của con người và những bi
kịch mà con người phải chịu đựng sau luỹ tre làng.
Phương pháp so sánh: Việc sử dụng phương pháp so sánh giúp chúng tôi
có điều kiện so sánh sự chuyển hướng nghệ thuật của Lê Lựu trong thời kỳ đổi
mới cũng như những điểm nổi trội đặc sắc của tiểu thuyết Lê Lựu so với tiểu
thuyết của các tác giả cùng thời.

tiếp nhận văn học, nghệ thuật.
Trước những biến chuyển đó của thời đại, văn học tự bản thân cũng
xuất hiện những nhu cầu đổi mới. Được cổ vũ bởi tinh thần dân chủ của Đại
hội Đảng VI, các cây bút sau 1975 đã có nhiều nỗ lực trong lao động nghệ
thuật, tạo được những hướng đi mới táo bạo, độc đáo nhằm đáp ứng nhu cầu,
thị hiếu của văn học và độc giả hiện thời. Có thể nói “chưa bao giờ văn xuôi
phát triển mạnh mẽ như bây giờ và cũng chưa bao giờ nhà văn được thành
thật như bây giờ”. Sự đổi mới của văn học được thể hiện trên nhiều phương
diện và trong nhiều thể loại.
Văn xuôi nói chung, tiểu thuyết nói riêng từ sau Đổi mới đã có những
thay đổi đáng kể, với định hướng của Đảng “nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá
đúng sự thật, nói rõ sự thật”, văn chương nói chung không còn e ngại hướng về
phản ánh và biểu hiện mặt “suồng sã, thô thám, xô lệch của hiện thực”. Bức
tranh đời sống với mọi góc khuất sâu kín được đưa vào trong văn học đầy trăn
trở, phức tạp. Những sáng tạo văn học trở về với qui luật vĩnh hằng của đời
sống, coi tính chân thật là phẩm chất quan trọng của văn chương nghệ thuật.
Mỗi trang văn không chỉ có không khí hào hùng của những cuộc đấu tranh, với
8


những chiến sĩ anh dũng hi sinh hoặc chiến thắng vẻ vang; mà có cả những ngõ
cùng xóm nhỏ, những làng quê nghèo khó với những cuộc vật lộn sinh tồn,
ghen ghét đố kị, những con người rất bình thường với suy nghĩ, những khao
khát đời thường... Có những điều nhỏ bé tưởng chừng chẳng có gì để nói,
chẳng có gì đáng nói lại được những ngòi bút tài năng tái hiện trên những trang
viết đầy sinh động và ám ảnh.
Các nhà văn đón nhận nhu cầu này như một thách thức trong quá trình
sáng tạo. Không ít nhà văn trăn trở, tìm cách đổi mới tư duy nghệ thuật trong
việc phản ánh hiện thực để đáp ứng nhu cầu đổi mới văn học. Nguyễn Minh
Châu được coi là nhà văn tiên phong, người mở đầu tinh anh trong công cuộc

trí đáng kể trong tư duy nghệ thuật” [67]. Một số nhà văn đã trình làng một
số sáng tác ngay sau chiến tranh như: Trong cơn lốc (Khuất Quang Thụy),
Đất trắng (Nguyễn Trọng Oánh), Miền cháy (Nguyễn Minh Châu), Nắng
đồng bằng (Chu Lai), Mở rừng (Lê Lựu)...Tuy nhiên, những tác phẩm trên
cơ bản vẫn chưa thoát ra được âm hưởng, dấu ấn quen thuộc của văn học
thời kỳ trước. Đến đầu những năm 1980 mới xuất hiện một vài tiểu thuyết
với những dấu hiệu đổi mới khá rõ rệt trong cách nhìn nhận và miêu tả hiện
thực như: Mùa lá rụng trong vườn (Ma Văn Kháng), Gặp gỡ cuối năm
(Nguyễn Khải)... Nhưng phải từ năm 1986, dưới sự tác động của bối cảnh xã
hội mới và trên cơ sở kế thừa, phát huy những giá trị truyền thống, tiểu
thuyết Việt Nam mới có những đổi mới thực sự trong quan niệm nghệ thuật
về hiện thực, về con người và những cách tân trong kỹ thuật tiểu thuyết.
Hiện thực cuộc sống những năm đổi mới với tất cả tính đa dạng, phức
tạp của nó đều là chất liệu cho sự sáng tạo của tiểu thuyết. Nửa sau thập niên
1980, thập niên 1990 của thế kỷ XX, đời sống văn học xuất hiện một loạt
tiểu thuyết “làm cho văn đàn sôi động và sóng gió”. Và một trong những
điểm nhấn lớn nhất của tiểu thuyết thời kỳ đổi mới vẫn là đề tài chiến tranh
và người lính. Khi chiến tranh đã lùi xa, con người bắt đầu làm quen với
cuộc sống đời thường, thì một số nhà văn vẫn hồi ức về chiến tranh, về

10


những năm tháng ác liệt đã qua. Quả thực, trong chiến tranh “tất cả để chiến
thắng” song không phải “tất cả là chiến thắng”, đằng sau “tấm huy chương”
còn là bi kịch, là thảm kịch; còn là máu, là nước mắt mà “máu thấm vào lòng
đất đã sâu, sao trang giấy lòng anh suy nghĩ cạn?” (Chế Lan Viên).
Một loạt tác phẩm như Thân phận tình yêu của Bảo Ninh, Chim én bay
của Nguyễn Trí Huân, Nước mắt đỏ của Trần Huy Quang, Ăn mày dĩ vãng của
Chu Lai, Không phải trò đùa của Khuất Quang Thụy, Bến không chồng của

sử”. Chẳng hạn, Hồ Quý Ly (Nguyễn Xuân Khánh) tái hiện khoảnh khắc lịch sử
đầy biến động, phức tạp cuối đời Trần. An lạc dưới trời (Nguyễn Xuân Hưng)
cũng đặt lại những vấn đề xã hội trong các thời đoạn phức tạp nhất của lịch sử.
Sau năm 1986, đất nước đổi mới toàn diện đã từng bước đem lại những
biến chuyển lớn trong đời sống vật chất và trong nếp nghĩ, hành động của mỗi
người nông dân. Nhà văn từ đó cũng có điều kiện thuận lợi để thể hiện những trăn
trở, suy tư về những vấn đề cốt lõi của nông thôn và nông dân một cách trực diện,
thấu đáo. Viết về nông thôn, các nhà văn vốn đã có thành tựu trước đó, nay có cơ
hội thể nghiệm nghệ thuật mới.
Điểm qua các chặng đường phát triển của văn học viết về nông thôn có
thế thấy, ngay ở giai đoạn 1930-1945, một số sáng tác của nhóm Tự lực văn
đoàn đã quan tâm đến đời sống nông thôn như tập truyện Gió lạnh đầu mùa của
Thạch Lam, phóng sự Bùn lầy nước đọng của Hoàng Đạo... Tuy nhiên, tác
phẩm của họ mới chỉ dừng lại ở sự cảm thông với cảnh sống nghèo khổ, tối
tăm, do những thói quen, hoặc do trình độ thấp kém.
Đến văn học hiện thực phê phán, đề tài nông thôn được khai thác có
chiều sâu và gặt hái nhiều thành tựu. Các nhà văn hiện thực phê phán như
Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Nam Cao… đã tái hiện bức tranh hiện thực
nông thôn hiện lên với sự khắc nghiệt của sưu cao thuế nặng, của những thủ
đoạn bóc lột tàn nhẫn, trắng trợn (Tắt đèn, Bước đường cùng). Đó là nông
thôn của những hủ tục nhiêu khê, rườm rà; của những mâu thuẫn, chèn ép
giữa các phe cánh tranh nhau quyền lợi, địa vị (Việc làng). Đó là nông thôn
của những người cùng khổ bị dồn tới chân tường, của những cảnh lầm than,

12


cơ cực (chị Dậu, anh Pha), của những kiếp sống đau đớn quằn quại (Lão Hạc),
hoặc liều lĩnh biến chất (Chí Phèo)… Ở những tác phẩm này, ngoài giá trị
hiện thực còn chứa đựng giá trị nhân đạo hết sức sâu sắc. Đó là những đòi hỏi

… Các tác phẩm này đã bao quát được một khung cảnh hiện thực rộng lớn với
những sự kiện và con người của một thời đáng nhớ, phản ánh được hiện thực
một nông thôn sống động dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Giai đoạn từ 1975 đến 1985 là giai đoạn xã hội có sự chuyển động lớn lao.
Bản thân các nhà văn lúc này đã có sự trăn trở, suy nghĩ để cho ra được những tác
phẩm thực sự có chất lượng, đáp ứng được yêu cầu của xã hội và thời đại. Văn
xuôi viết về nông thôn đã có sự chuyển mình. Các tác phẩm là lời tuyên cáo đối
với cung cách làm ăn và quản lý nông thôn kiểu cũ, đồng thời đề cập đến lối làm
ăn và quản lý nông thôn kiểu mới.
Từ sau năm 1986, đề tài nông thôn thời kỳ Đổi mới có sự chuyển mình, đổi
mới trong không khí chung của đất nước. Tiểu thuyết có sự đổi mới cả về nội
dung và phương thức biểu hiện. Đề tài nông thôn một lần nữa được khắc họa rõ
nét, chân thực ở tất cả các phương diện, trong sự đa dạng, phức tạp, xấu tốt lẫn
lộn, đan xen. Đề tài nông thôn hấp dẫn đối với nhiều cây bút và thu được nhiều
thành tựu: Lê Lựu với Thời xa vắng (1986), Chuyện làng Cuội (1991), Sóng ở
đáy sông (1994), Nguyễn Khắc Trường với Mảnh đất lắm người nhiều ma
(1990), Dương Hướng với Bến không chồng (1990), Ngô Ngọc Bội với Ác
mộng (1990), Tạ Duy Anh với Lão Khổ (1992), Hoàng Minh Tường với Thủy
hỏa đạo tặc,... Đáng chú ý là Thời xa vắng của Lê Lựu. Tác phẩm ra đời
trúng thời điểm Đổi mới. Vừa ra mắt bạn đọc, tác phẩm nhanh chóng phổ
biến rộng rãi, chỉ trong mấy tháng đầu đã tái bản 4 lần với số lượng lên đến
80 nghìn bản. Thời xa vắng trở thành sự kiện nổi bật trong đời sống văn học
lúc bấy giờ. Nó đã tạo đà, khởi hứng và phát triển mạnh mẽ cho một khuynh
hướng nhận thức lại lịch sử nông thôn với cảm hứng phê phán. Tác phẩm đã
xoáy sâu vào những vấn đề có tính thời sự, nhạy cảm; điều chỉnh lại những
quan điểm, cách nhìn không còn phù hợp với thời cuộc... Qua sự sàng lọc
của thời gian, những vấn đề đặt ra trong tác phẩm được coi là bước đột phá

14


15


bị gác lại. Nếu như trước đây văn xuôi và tiểu thuyết viết về nông thôn chỉ đi
vào phản ánh những mặt tốt đẹp của đời sống xã hội nông thôn và nông dân,
thì nay, những mặt trái của quá khứ nông thôn như cải cách ruộng đất, hợp tác
hóa nông nghiệp đã được nhìn nhận, đánh giá lại. Vấn đề dòng họ, bè phái,
phe giáp trong nội bộ, sự ấu trĩ trong việc ngăn cấm làm giàu cá nhân cũng
được phanh phui, mổ xẻ...
Nhìn chung, văn xuôi và tiểu thuyết viết về nông thôn ở chặng này đã thể
hiện được sự mẫm cảm, tinh nhạy trước công cuộc đổi mới của nông thôn. Tiểu
thuyết nông thôn bước đầu đánh dấu một mốc son trong hành trình tìm về nông
thôn và nông dân, góp phần tạo đà cho sự phát triển mạnh mẽ ở chặng sau.
Đến những năm đầu của thế kỷ XXI, đời sống nông thôn trên con đường
đổi mới vẫn được các nhà văn “thám hiểm” và đạt được những thành tựu đáng
ghi nhận. Mốt số cây bút thực sự bứt phá và đi vào hội nhập cùng với dòng
chảy của văn học đương đại. Ở chặng này, quy tụ nhiều thế hệ sáng tạo. Với
một đội ngũ hùng hậu (trải qua bốn thế hệ) nhà văn, kể cả những cây bút lão
thành thuộc thời chống Pháp, Mỹ như Tô Hoài, Lê Lựu, Ngô Ngọc Bội, Vũ
Huy Anh, Cao Năm, Trịnh Thanh Phong, Trần Quang Vinh, Dương Hướng,
Nguyễn Hữu Nhàn... vẫn dẻo dai, sắc bén trên từng trang viết. Tiểu thuyết viết
về nông thôn giai đoạn này đã gặt hái được nhiều thành tựu. Nhiều tác phẩm
được nhận giải thưởng từ các cuộc thi hoặc giải thường niên của Hội nhà văn,
có một số tác phẩm không đạt giải nhưng lại được dư luận quan tâm, gây tiếng
vang lớn đối với bạn đọc và giới nghiên cứu, phê bình văn học, tạo nên sự sống
động, tươi mới như Cuồng phong (Nguyễn Phan Hách), Thời của thánh thần
(Hoàng Minh Tường), Thần thánh và bươm bướm (Đỗ Minh Tuấn), Ba người
khác (Tô Hoài), Ma làng (Trịnh Thanh Phong)...
Ba cuộc thi tiểu thuyết do Hội nhà văn tổ chức bốn năm một lần (từ
năm 1998 – 2010) đã ghi nhận giá trị của mảng tiểu thuyết nông thôn trước và

sự bất ổn, đặc biệt là quá trình biển đổi sâu sắc trong sự tiếp diễn văn hóa,
trong đó khả năng và năng lực hành động của người nông dân trước sự đổi
thay của nông thôn trên con đường hiện đại hóa (Dòng chảy đất đai- Nguyễn

17


Uyển, Dưới chín tầng trời- Dương Hướng, Dòng sông chở kiếp- Nguyễn
Quốc Hùng). Khoảng cách giữa hai thế hệ là một vấn đề đang ngày càng trở
nên nhức nhối trong xã hội nông thôn cũng được các nhà văn phản ánh (Lão
Khổ- Tạ Duy Anh, Dòng sông Mía- Đào Thắng, Giời cao đất dày- Bùi Thanh
Minh). Chủ đề ngợi ca những nông dân điển hình, những cán bộ xã, thôn tâm
huyết, có tầm nhìn xa, có ý thức tự lực, có lòng tự trọng, khát khao dân chủ và
nhân văn và có sự đột phá trong quản lí, trong kinh tế đã góp phần mang lại
cho nông thôn một bình diện mới như Lại Tiến Thịnh, Nguyễn Mạnh Quang
trong Dòng chảy đất đai, Thương Huyền trong Dưới chín tầng trời.
Những chủ đề đã được quan tâm trước đó như nông thôn thời chiến
tranh, cải cách ruộng đất, hợp tác hóa nông nghiệp cũng đã quay trở lại. Nông
thôn với những cảnh tượng kinh hoàng, long trời lở đất, với những năm đầu
cách mạng và những năm chiến tranh chống Mỹ đầy gian khổ, đẫm máu và cả
sự hi sinh cao cả của những người nông dân chân lấm tay bùn được hiện ra
chân thực. Nhà văn đề cao sức sống, bản lĩnh và tình đoàn kết, sự tương thân
tương ái của người nông dân trong việc bảo vệ làng xóm và trong cuộc sống
đời thường (Chuyện làng Cuội- Lê Lựu, Nước mắt một thời- Nguyễn Khoa
Đăng, Ba người khác- Tô Hoài, Thời của thánh thần- Hoàng Minh Tường,
Giời cao đất dày- Bùi Thanh Minh). Ngoài ra, với sự xuất hiện hai chủ đề về
số phận con người và hạnh phúc cá nhân, đặc biệt là số phận của những người
phụ nữ yếu duối, bất hạnh trong cuộc sống hôn nhân gia đình đã đưa tiểu thuyết
nông thôn ở chặng đường này lên ngôi ở chiều sâu và chiều rộng trong phản
ánh hiện thực (Chuyện làng Cuội- Lê Lựu, Dòng sông Mía- Đào Thắng).

thời kỳ đổi mới. Nổi bật là mô thức trần thuật ở ngôi thứ nhất và sự đan xen
giữa các ngôi, là độc thoại, độc thoại nội tâm, hay kỹ thuật phân tích tâm lý.
Trong bức tranh toàn cảnh tiểu thuyết thời kì đổi mới, tiểu thuyết nông
thôn đã hòa vào dòng chảy chung để phán ánh trọn vẹn bức tranh nông thôn
đương đại với nhiều cung bậc cảm xúc, đường nét độc đáo hơn. Khi khai thác về
một đối tượng không mới trong truyền thống văn học, các nhà văn vẫn khẳng
định được tài năng sáng tạo của mình bằng việc đổi mới tư duy nghệ thuật thông

19


qua việc lựa chọn đề tài, xây dựng cốt truyện, nhân vật và cá thể hóa ngôn ngữ
nhân vật. Nông thôn Việt Nam vừa truyền thống vừa hiện đại, vừa cũ vừa mới,
vừa bình yên vừa phức tạp hiện lên sinh động, hấp dẫn trong từng trang viết. Sự
đóng góp đó đã mang lại sức sống mới, chiều sâu mới cho nền tiểu thuyết Việt
Nam bằng những trang văn rất riêng, Nó khẳng định tiếng nói, tâm hồn, bản lĩnh
của dân tộc mà các nhà văn đã và đang miệt mài sáng tạo.
1.2. Quan điểm nghệ thuật, con đường sáng tạo của Lê Lựu và vị trí của
tiểu thuyết Thời xa vắng
1.2.1. Quan niệm nghệ thuật
Quan niệm nghệ thuật chính là một phương tiện thiết yếu của sáng tạo
nghệ thuật. Do vậy, tìm hiểu quan niệm nghệ thuật chính là bước đi thiết thực
để đến với chiều sâu của các tác phẩm, của giá trị văn học. Nhà văn Lê Lựu
bộc lộ quan điểm nghệ thuật thông qua những trang viết và chính lời nói của
mình. Ông nói: “Tôi là người ít học, ít đọc vì lười nghĩ ngợi. Toàn bộ những
trang viết của tôi chỉ theo đuổi một nguyên tắc là sự thật. Tôi không thể viết
được nếu không bám vào sự thật. Tôi chỉ là người kể chuyện, có gì viết nấy”
[56, tr.501]. Trong một lần “Hỏi chuyện tác giả, tìm hiểu tác phẩm”, ông tiếp
tục khẳng định với bạn đọc: “Tôi nghĩ, văn chương phải đối thoại được với
cuộc sống, viết thật lòng không nói dối- nhờ cái thật mà đối thoại được với


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status