ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
ĐÀO VĂN ANH
Mã số sinh viên: DTS145D140206002
ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN PHONG TRÀO
TẬP LUYỆN MÔN BƠI CHO HỌC SINH TIỂU HỌC
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
NGÀNH: THỂ DỤC THỂ THAO
Thái Nguyên, năm 2018
1
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
ĐÀO VĂN ANH
Mã số sinh viên: DTS145D140206002
ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN PHONG TRÀO
TẬP LUYỆN MÔN BƠI CHO HỌC SINH TIỂU HỌC
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
NGÀNH: THỂ DỤC THỂ THAO
luận tốt nghiệp này.
Để được kết quả tốt như hôm nay, em xin gửi lời tri ân sâu sắc đến TS. Võ
Xuân Thủy đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập và hoàn
thành khóa luận tốt nghiệp.
Cuối cùng em xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến gia đình và cảm ơn bạn bè đã ủng hộ
và chia sẻ những khó khăn để em có thể hoàn thành tốt khóa luận này. Em xin chúc
Quý thầy cô, gia đình và bạn bè lời chúc sức khỏe và thành công.
Em xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên
Đào Văn Anh
iii
MỤC LỤC
Trang bìa phụ..................................................................................................................i
Lời cam đoan................................................................................................................. ii
Lời cảm ơn...................................................................................................................iii
Mục lục......................................................................................................................... iv
Danh mục chữ viết tắt....................................................................................................v
Danh mục bảng biểu........................................................................................................
MỞ ĐẦU....................................................................................................................... 1
Chương 1. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU........................................3
1.1. Vai trò, vị trí của TDTT trong sự nghiệp phát triển đất nước..................................3
1.2. Quan điểm của Đảng và nhà nước về công tác TDTT và TDTT quần chúng..........3
1.3. Vai trò, vị trí, tác dụng của môn Bơi trong việc phát triển con người......................5
1.4. Đặc điểm tâm, sinh lý lứa tuổi học sinh tiểu học 6 -10 tuổi....................................6
1.4.1. Đặc điểm tâm lý của HS tiểu học.........................................................................6
1.4.2. Đặc điểm sinh lý vận động của HS tiểu học.........................................................8
địa bàn huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.....................................................................22
3.2.1. Cơ sở để lựa chọn các giải pháp.........................................................................22
3.2.2. Đề xuất một số giải pháp phát triển phong trào môn Bơi cho lứa tuổi HSTH trên
địa bàn huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.....................................................................23
3.3. Kiểm tra tính hiệu quả của các giải pháp..............................................................25
3.3.1. Khảo sát tính hiệu quả của các giải pháp...........................................................25
3.3.2. Tổ chức thực nghiệm, đánh giá hiệu quả các giải pháp.....................................26
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ...................................................................................30
TÀI LIỆU THAM KHẢO.........................................................................................32
PHỤ LỤC
v
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CLB
: Câu lạc bộ
GD&ĐT
: Giáo dục và Đào tạo
HLV
: Huấn luyện viên
HSTH
: Học sinh tiểu học
Giáo dục thể chất trong nhà trường là môn học bắt buộc, thuộc chương trình
giáo dục của các cấp học và trình độ đào tạo; nhằm trang bị cho trẻ em, học sinh, sinh
viên các kiến thức, kỹ năng vận động cơ bản, hình thành thói quen luyện tập thể dục,
thể thao để nâng cao sức khỏe, phát triển thể lực, tầm vóc, góp phần thực hiện mục
tiêu giáo dục toàn diện
Đại hội toàn quốc lần thứ VI của Đảng (1986) đã mở đầu sự nghiệp đổi mới ở
Việt Nam. Theo đó “nhân tố con người” được xác định là quan trọng bậc nhất trong
toàn bộ sự nghiệp đổi mới, có tính quyết định đến sự phát triển kinh tế xã hội. Xác
định con người là nguồn lực to lớn, quý báu nhất, đặt con người vào vị trí trung tâm
của chiến lược phát triển đất nước. Trong chiến lược con người, Đảng và Nhà nước
xác định học sinh, sinh viên luôn là đối tượng trung tâm.
Hiến pháp Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 tại điều 41
quy định: Nhà nước thống nhất quản lý sự nghiệp phát triển Thể dục thể thao (TDTT),
quy định chế độ giáo dục thể chất bắt buộc trong trường học, khuyến khích và giúp đỡ
phát triển các hình thức tổ chức TDTT tự nguyện của nhân dân tạo điều kiện cần thiết
để không ngừng mở rộng các hoạt động TDTT quần chúng, chú trọng hoạt động thể
thao chuyên nghiệp, bồi dưỡng các tài năng thể thao.
Chỉ thị 36 CT/CW ngày 24/03/1994 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khoá
VII) giao trách nhiệm cho Bộ Giáo dục - Đào tạo và Tổng cục TDTT (nay là Uỷ ban
TDTT) thường xuyên phối hợp chỉ đạo tổng kết công tác giáo dục thể chất, cải tiến
chương trình giảng dạy, tiêu chuẩn rèn luyện thân thể, đào tạo giáo viên TDTT cho
trường học các cấp, tạo những điều kiện về cơ sở vật chất để thực hiện chế độ giáo dục
thể chất bắt buộc ở tất cả các trường học, làm cho việc tập luyện TDTT trở thành nếp
sống hàng ngày của hầu hết học sinh, sinh viên, qua đó phát hiện và tuyển chọn được
nhiều tài năng thể thao cho quốc gia.
Thể dục thể thao là một bộ phận của nền văn hóa chung, là sự tổng hợp thành
tựu xã hội trong sự nghiệp sáng tạo và vận dụng những biện pháp chuyên môn, để
điều khiển sự phát triển thể chất của con người một cách có chủ đích nhằm nâng cao
sức khỏe và kéo dài tuổi thọ. Bơi là một môn thể thao mang tính thực dụng rất lớn và
được xác định là một trong những môn thể thao trọng điểm thuộc nhóm I của thể thao
Xuất phát từ thực tế trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đề xuất giải
pháp phát triển phong trào tập luyện môn Bơi cho học sinh tiểu học trên địa
bàn huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên”.
2
Chương 1
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Vai trò, vị trí của TDTT trong sự nghiệp phát triển đất nước
TDTT là một bộ phận trong nền văn hoá của mỗi dân tộc, của nền văn
minh của nhân loại. Ngày nay, hoạt động TDTT quần chúng cũng như thể thao
thành tích cao ngày càng trở thành nhu cầu không thể thiếu của đông đảo quần chúng
nhân dân. Không chỉ là những hình thức giải trí, nghỉ ngơi, nâng cao sức khoẻ, mà còn
là niềm tự hào cho mỗi dân tộc, làm tăng thêm tình hữu nghị, mối giao lưu giữa các
quốc gia, khu vực trên thế giới. Do đó TDTT đã trở thành hoạt động sôi nổi, một nhu
cầu thiết yếu của hầu hết các quốc gia, khu vực trên thế giới.
TDTT không những góp phần củng cố môi trường hoà bình mà còn tạo
điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế – xã hội, công nghiệp hoá hiện đại hoá
đất nước; phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc, góp phần vào việc đấu
tranh chung của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến
bộ xã hội (Báo cáo chính trị của đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII).
Phát triển TDTT là một bộ phận quan trọng không thể thiếu được trong
chính sách phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước ta nhằm bồi dưỡng
và phát huy nhân tố con người;trước hết là nâng cao sức khoẻ, thể lực, giáo dục
nhân cách, đạo đức, lối sống lành mạnh. TDTT làm phong phú đời sống của
nhân dân, nâng cao năng suất lao động và củng cố quốc phòng.
1.2. Quan điểm của Đảng và nhà nước về công tác TDTT và TDTT quần chúng
Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước ta nhằm hướng tới những mục
hoá toàn quốc. Tại đây, quan điểm và định hướng chung về xã hội hoá thuộc lĩnh vực
TDTT đã nêu rõ. Xã hội hoá TDTT là một quá trình tạo ra các cơ chế, chính sách và
các điều kiện cần thiết để phát huy các tiềm năng trí và vật chất trong nhân dân, huy
động toàn xã hội, chăm lo phát triển sự nghiệp TDTT. Đồng thời tạo điều kiện cho
toàn xã hội được hưởng thụ các thành quả TDTT ở mức độ ngày càng cao. Là quá
trình chuyển đổi phương thức quản lý với cơ chế thị trường theo định hướng xã hội
chủ nghĩa, đa dạng hoá các chủ thể tham gia hoạt động TDTT nhằm huy động tiềm
năng nguồn lực và sử dụng hiệu quả các nguồn lực trong xã hội. Việc hình thành và
phát triển được các điều kiện để đảm bảo cho TDTT như hệ thống tổ chức quản lý
TDTT các cấp, các hệ thống đào tạo cán bộ và VĐV, hệ thống cơ sở vật chất khoa học
kỹ thuật của TDTT ở Trung ương và tỉnh, thành, ngành là tạo ra được các cơ sở pháp
lý để đảm bảo cho TDTT phát triển. Đó là cơ sở pháp lý để các ngành, các cấp phát
triển phong trào TDTT nói chung và tập luyện môn Bơi nói riêng.
4
1.3. Vai trò, vị trí, tác dụng của môn Bơi trong việc phát triển con người
Bơi là một môn thể thao hoạt động trong môi trường nước. Tập luyện
bơi thường xuyên có thể nâng cao năng lực điều hoà thân nhiệt để thích ứng
với sự biến đổi nhiệt độ ở môi trường bên ngoài. Vận động trong môi trường nước có
ảnh hưởng tốt tới việc nâng cao chức năng một số bộ phận của cơ thể như: hệ tim
mạch, hệ hô hấp; Tăng quá trình trao đổi chất. Khi bơi trong nước cơ thể ở vị trí nằm
ngang, dưới tác động sức ép của nước, máu lưu thông dễ dàng hơn. Nước lại có áp
xuất lớn vào bề mặt cơ thể, mặt khác khi bơi con người phải chịu một lực cản rất lớn
của nước. Do vậy trong tập luyện môn Bơi con người sẽ thích ứng dần, làm cho các
chức năng vận động cơ thể được hoàn thiện nâng cao. Tập luyện bơi còn làm tăng
hồng cầu, từ đó làm tăng khả năng hấp thụ oxy, giúp cho cơ thể hoạt động bền bỉ, dẻo
dai hơn. Tập luyện môn Bơi thường xuyên giúp cho các tố chất thể lực, như sức
nhanh, sức mạnh, mềm dẻo,.... của cơ thể được tăng cường. Đặc biệt đối với lứa tuổi
những biến đổi quan trọng trong cuộc sống, lao động, học tập, do đó các đặc điểm tâm
lý thể hiện qua các hoạt động về nhận thức, tình cảm, cảm xúc,...có những thay đổi cơ
bản.
So với lứa tuổi mẫu giáo, mối quan hệ giao tiếp, quan hệ xã hội của HS tiểu học
có những thay đổi và biểu hiện rõ trên các nội dung và hình thức giáo dục khác nhau.
Đối với lứa tuổi HSTH, học tập đã trở thành một hoạt động chủ đạo. Sự say mê
học tập chưa thể hiện đó là nhận thức trách nhiệm đối với xã hội, mà chủ yếu là từ các
động cơ mang ý nghĩa tình cảm như: được thầy cô, ông bà, bố mẹ, anh chị khen ngợi
và động viên. Do đó các em cố gắng học tập vì tình yêu thương, chăm lo của ông bà, bố
mẹ, anh chị... học tốt để được khen ngợi và trở thành " Cháu ngoan Bác Hồ".
HSTH ở các lớp đầu cấp, có khuynh hướng ghi nhớ một cách máy móc, chưa có
khảnăng phân tích tự giác.
Học sinh các lớp 3, 4 bước đầu đã biết tìm các dấu hiệu đặc trưng cho sự vật,
biết phân biệt các đặc điểm của các chi tiết, các phần kỹ thuật động tác, song còn giản
đơn. Khả năng phân tích các hiện tượng trong tập luyện, lao động, sinh hoạt còn kém,
nên dễ bị động khi được nhắc nhở, sai bảo, dẫn đến biểu hiện kém tự tin, kém khả
năng kiềm chế hành vi, thái độ.
Để hình thành các hiểu biết, kiến thức các em thường học thuộc lòng từng câu,
từng chữ. Để hình thành kỹ năng vận động các em thường bắt chước, cố gắng làm theo
các động tác, điệu bộ, hành vi của giáo viên.
Ở các lớp cuối cấp (lớp 4,5), việc ghi nhớ được hình thành và phát triển, do đó
khi lên lớp giảng dạy lý thuyết cũng như thực hành giáo viên cần chú ý sử dụng linh
hoạt các phương pháp, biện pháp giảng dạy nhằm kích thích sự suy nghĩ, tính sáng tạo,
ý thức tự giác - tích cực tập luyện của học sinh.
Trong giảng dạy thể dục, do tư duy của các em vẫn còn mang tính chất hình ảnh
cụ thể. Các em sẽ tiếp thu dễ dàng và nhanh chóng hơn đối với các khái niệm có kèm
theo minh hoạ (hình ảnh trực quan). Do vậy, khi giảng dạy các bài tập thể thao thì
6
- Tích cực vận dụng phương pháp trò chơi, thi đấu trong tập luyện.
7
Bên cạnh đó, giáo viên phải luôn luôn là tấm gương tốt về phẩm chất, hành
động, lời nói, việc làm để các em theo đó học tập và củng cố lòng tin đối vời thầy, cô
giáo; với bạn bè, gia đình và xã hội.
1.4.2. Đặc điểm sinh lý vận động của HSTH
1.4.2.1. Đặc điểm hệ cơ xương
A. Hệ cơ
Ở lứa tuổi HSTH, cơ của các em có chứa nhiều nước, tỉ lệ các chất đạm, mỡ còn
ít, nên khi hoạt động chóng mệt mỏi.
Sức mạnh cơ ở lứa tuổi này còn rất hạn chế, giới hạn sinh lý về khả năng chịu
đựng mà các em có thể mang vác được tính theo lứa tuổi:
+ 5 tuổi là 2,1 kg
+ 8 tuổi là 3,5 kg
+ 7 tuổi là 2,9 kg
+ 12 tuổi là 5,2 kg
Các nhóm cơ to phát triển sớm hơn các nhóm cơ nhỏ, do đó khả năng phối hợp
vận động ở HSTH nói chung còn rất kém. Để phát triển khả năng vận động có sự phối
hợp nhịp nhàng và khéo léo cho các em cần hướng dẫn cho các em các thao tác kỹ
thuật nhỏ, yêu cầu tính khéo léo, như: múa, vẽ, viết, làm thủ công, các hoạt động bơi
lội, vận động.
Lực cơ của HSTH được tăng dần theo lứa tuổi. Với các học sinh nam 7 tuổi thì
lực cơ trung bình là: 4 - 7 kg; 12 tuổi là 11,3 - 13,9 kg. Ở lứa tuổi này cơ phát triển còn
tăng dần:
- Ở lứa tuổi 7-8, lưu lượng tâm thu là 23 ml
- Ở lứa tuổi 13-14, lưu lượng tâm thu là 35- 38 ml
- Ở người trưởng thành, lưu lượng tâm thu là 65- 70 ml.
Ở lứa tuổi HSTH , nếu các em phải chịu đựng hoạt động lao động, học tập,
tập luyện hoặc vui chơi quá sức và kéo dài, dẫn đến tim phải làm việc quá tải sẽ phát
sinh bệnh tim - mạch hoặc các bệnh khác.
Trong quá trình tập luyện thể thao, nếu các em được hướng dẫn theo những nội
dung, chương trình phù hợp, sẽ tạo điều kiện phát triển và rèn luyện nâng dần sức chịu
đựng, khả năng làm việc của hệ tuần hoàn.
1.4.2.3. Đặc điểm hệ hô hấp
Ở lứa tuổi HSTH, hệ hô hấp đang ở thời kỳ hoàn thiện, các em đang dần dần
tạo nên thói quen chuyển từ thở kiểu bụng sang thở kiểu ngực, lồng ngực phát triển
chưa hoàn thiện.
Độ giãn nở của các phế nang (túi phổi) còn thấp, nên nhịp thở còn nông. Số
lượng phế nang tham gia mỗi lần hô hấp còn ít, nên lượng ôxy được đưa vào máu
không cao.
Lượng không khí chứa đựng trong phổi còn thấp (ở trẻ 8 tuổi là 1,699 lít, ở
người trưởng thành là 4 lít).
Do vậy, phổi của các em phải thường xuyên làm việc khẩn trương mới cung
cấp đủ ôxy cho cơ thể .
9
Về lượng thông khí phổi (thể tích khí mỗi lần hít vào hoặc thở ra bình thường),
dung tích sống (thể tích khí thở ra cố gắng, sau khi hít vào hết sức) được tăng dần theo
sự phát triển lứa tuổi của tần số hô hấp (số lần thở ra - hít vào trong một phút) của
HSTH tương đối cao. Do đó, khi hoạt động vận động (đặc biệt là bơi lội) với lượng
vận động vừa phải thì nhịp thở đã tăng lên cao, các em dễ mệt mỏi sớm chuyển sang
thở gấp, đòi hỏi phải có bài tập và thời gian nghỉ ngơi phù hợp với lứa tuổi các em.
Chủ nghĩa Mác-Lênin rất coi trọng vấn đề nhận thức của con người và cho
rằng “chỉ có giác ngộ cách mạng mới có hành động cách mạng”, còn các nhà tâm
lý học thì cho rằng “nhận thức đúng thì mới tạo ra được động cơ hoạt động đúng
đắn”. Vì vậy, muốn có phong trào TDTT nói chung và môn Bơi nói riêng hoạt
động sâu rộng và đạt hiệu quả thì điều quan trọng là phải nâng cao nhận thức về vị
trí, vai trò tác dụng cũng như giá trị đích thực của TDTT nói chung và môn Bơi nói
riêng, từ đó tạo ra động cơ đúng đắn để tập luyện. Trong những năm gần đây, Đảng và
Nhà nước ta đã phát triển mạnh mẽ sự nghiệp văn hoá giáo dục TDTT thông qua hoạt
động tuyên truyền. Nhờ đó, nhận thức của người dân đối với TDTT nói chung và đối
với môn Bơi nói riêng đã nâng cao lên một bước. Song trong đông đảo quần chúng
nhân dân ta hiện nay với đời sống còn nghèo và tập chung lo cái ăn, cái mặc hàng ngày
nên sự nhận thức về vai trò, ý nghĩa của TDTT còn nhiều mặt hạn chế. Ngay cả một số
lãnh đạo cũng chưa thực sự có nhận thức đầy đủ về giá trị, vai trò và tác dụng của
TDTT đối với sức khoẻ, sản xuất và quốc phòng. Vì vậy, nâng cao nhận thức cho mọi
người dân trong cả nước về TDTT nói chung và môn Bơi nói riêng đang là một vấn đề
hết sức cấp thiết đối với cán bộ và những người làm công tác TDTT của Việt Nam.
1.5.2. Trình độ phát triển kinh tế ảnh hưởng tới sự phát triển TDTT nói chung và môn
Bơi nói riêng
Yếu tố kinh tế – xã hội có một tầm quan trọng để tạo ra cơ sở vật chất,
phương tiện và các điều kiện khác như: Thời gian, chế độ dinh dưỡng và đảm bảo
cho tập luyện TDTT như chúng ta đã biết, nếu như tập luyện bơi mà không có
bể bơi, dụng cụ bổ trợ; đời sống kinh tế còn thấp, không có thời gian rảnh rỗi, thì
khó có thể phát triển phong trào bơi lội rộng khắp được. Vì vậy, nền kinh tế kém
phát triển sẽ kìm hãm rất lớn tới sự phát triển văn hoá, giáo dục và TDTT; Ngược
lại, khi nền kinh tế tăng trưởng tốt thì tạo cơ sở cho nền giáo dục và TDTT phát
triển. Trong những năm gần đây nhờ đường lối lãnh đạo đúng đắn của Đảng và
Nhà nước ta nên trình độ kinh tế xã hội nước ta có những bước phát triển lớn lao.
Bình quân thu nhập đầu người ngày càng tăng (Theo số liệu của Tổng cục Thống kê ,
quy mô nền kinh tế năm 2017 theo giá hiện hành đạt 5.007,9 nghìn tỷ đồng; GDP bình
quân đầu người ước tính đạt 53,5 triệu đồng, tương đương 2.385 USD, tăng 170 USD
không còn chế độ người bóc lột người, sức lao động được giải phóng. Từ đó tạo
cơ hội cho mọi người đều được tham gia mọi hoạt động xã hội, trong đó có hoạt động
TDTT. Đặc biệt ở nước ta, Đảng Cộng Sản và Chính phủ rất coi trọng công tác TDTT
nên đã có nhiều chủ trương đúng đắn để phát triển TDTT, đồng thời đã thông qua quy
hoạch phát triển TDTT đến năm 2020. Tất cả môi trường chính trị đã tạo điều kiện cho
thể thao Việt Nam phát triển thuận lợi.
Tóm lại: Phong trào TDTT nói chung và môn Bơi nói riêng luôn được Đảng và
Nhà nước ta hết sức coi trọng và đã có những chủ trương chính sách đúng đắn để từng
bước đưa nền thể thao Việt Nam phát triển, hoà nhập với các nước trong khu vực, châu
lục và thế giới. Tuy nhiên, để phong trào TDTT phát triển mạnh mẽ hơn nữa, đặc biệt
là môn Bơi, phong trào TDTT đòi hỏi phải khắc phục các trở ngại khó khăn và những
hạn chế ảnh hưởng không tốt đến sự phát triển phong trào tập luyện bơi của quần
chúng nhân dân.
1.6. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Trong góc độ nghiên cứu các biện pháp phát triển phong trào môn Bơi đã có
nhiều tác giả thực hiện, như: Tác giả Nguyễn Văn Nhân với đề tài “Nghiên cứu một số
biện pháp phát triển phong trào môn Bơi Lội ở huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định”. Tác
giả Nguyễn Minh Đức với công trình “Nghiên Cứu các biện pháp phát triển phong trào
môn Bơi Lội trên địa bàn huyện Tiên Lữ - tỉnh Hưng Yên”; tác giả Lê Trọng Hải thực
hiện đề tài “Nghiên cứu hiện trạng và các giải pháp phát triển phong trào môn Bơi Lội ở
thành phố Hải Phòng”; tác giả Nguyễn Văn Nguyện với “Nghiên cứu các biện pháp
phát triển phong trào môn Bơi Lội tại huyện Cẩm Giàng – tỉnh Hải Dương”,.... tất cả
những nghiên cứu trên đều có những khảo sát, đánh giá rất chi tiết về thực trạng phong
trào tập luyện môn Bơi, cũng như đề ra những giải pháp phát triển về phong trào tập luyện
tại địa điểm nghiên cứu của đề tài.
Tuy nhiên, đối với lứa tuổi tiểu học luôn có những đặc điểm khác biệt lớn về
tâm, sinh lý so với những lứa tuổi khác, do vậy rất cần một nghiên cứu chi tiết, cụ thể
về lứa tuổi này. Hiện nay chưa có công trình nào nghiên cứu về phát triển TDTT ở
huyện Đại Từ, đặc biệt là về phát triển phong trào tập luyện môn Bơi cho học sinh lứa
Sau khi đọc, tham khảo sách báo và các tài liệu liên quan, chúng tôi tiến hành
phân tích tổng hợp các nội dung trong lĩnh vực nghiên cứu để từ đó tiến hành xây
dựng cơ sở lý luận, và đi sâu nghiên cứu, lựa chọn các biện pháp tối ưu nhằm phát
triển phong trào tập luyện môn Bơi cho HSTH Huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.
Phương pháp này được sử dụng với mục đích tổng hợp các tài liệu, hệ thống
những kiến thức có liên quan tới đề tài nghiên cứu. Tài liệu tham khảo gồm có các
công văn, nghị quyết, chỉ thị…về quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà
nước về TDTT và giáo dục thể chất; những tài liệu, sách giáo khoa, giáo trình về
TDTT như: Sinh lý TDTT, lý luận và phương pháp TDTT, tâm lý học TDTT...cũng
như những tài liệu về môn Bơi để làm căn cứ cho việc xây dựng cơ sở lý luận nhằm
nghiên cứu và lựa chọn ra các biện pháp để phát triển phong trào tập luyện môn Bơi
cho HSTH trên địa bàn Huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.
2.3.2. Phương pháp phỏng vấn, toạ đàm
Đây là một trong những phương pháp được sử dụng rất rộng rãi trong các công
trình nghiên cứu khoa học để thu thập và xử lý thông tin từ ý kiến của những người
khác. Bằng phương pháp này chúng tôi có thể xác định được thực trạng vấn đề nghiên
cứu.
15
Đề tài tiến hành phỏng vấn và tọa đàm với các nhà quản lý, cán bộ công tác
trong lĩnh vực TDTT; các giáo viên, huấn luyện viên về tình hình phát triển và phong
trào tập luyện môn Bơi tại Huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên. Hình thức phỏng vấn
được tiến hành theo hai phương pháp là phỏng vấn trực tiếp và phỏng vấn gián tiếp
(thông qua phiếu hỏi).
Nội dung phỏng vấn tập trung vào các vấn đề như: Cơ sở vật chất, đội ngũ
cán bộ chuyên môn, sự phát triển phong trào TDTT,....Trên cơ sở đó để thu thập
được các số liệu phục vụ việc giải quyết các nhiệm vụ của đề tài.
2.3.3. Phương pháp quan sát sư phạm
Là phương pháp thu thập thông tin qua các tri giác như nhìn, nghe… chúng tôi sử dụng
trên địa bàn huyện Đại Từ.
+ Thời gian nghiên cứu: Đề tài được thực hiện từ tháng 9/2017 đến tháng 4/2018
và được chia thành các giai đoạn sau:
Giai
Nhiệm vụ
đoạn
Thời gian
+ Đọc tài liệu tham khảo
1
+ Lựa chọn đề tài
15/9 - 15/10/2017
+ Xây dựng và bảo vệ đề cương
16/10 - 15/12/2017
+ Giải quyết mục tiêu 1: Tìm hiểu thực trạng
phong trào tập luyện bơi lội của HSTH trên địa
2
3
bàn huyện Đại Từ.
+ Giải quyết Mục tiêu 2: Đề xuất giải pháp phát
triển phong trào tập luyện bơi lội cho HSTH trên