Biện pháp phát triển phong trào tập luyện môn Bơi lội tại Phường Thành Công - Quận Ba Đình - Hà Nội - Pdf 43

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ VĂN HOÁ, THỂ THAO VÀ DU LỊCH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỂ DỤC THỂ THAO BẮC NINH

NGUYỄN NGỌC THANH

NGHIÊN CỨU BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN PHONG TRÀO
TẬP LUYỆN MÔN BƠI LỘI TẠI PHƯỜNG THÀNH CÔNG
QUẬN BA ĐÌNH - HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

HÀ NỘI – 2016


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ VĂN HOÁ, THỂ THAO VÀ DU LỊCH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỂ DỤC THỂ THAO BẮC NINH

NGUYỄN NGỌC THANH

NGHIÊN CỨU BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN PHONG TRÀO
TẬP LUYỆN MÔN BƠI LỘI TẠI PHƯỜNG THÀNH CÔNG
QUẬN BA ĐÌNH - HÀ NỘI

Chuyên ngành:
Mã số:


-

Đối chứng

HCB

-

Huy chương bạc

HCĐ

-

Huy chương đồng

HCV

-

Huy chương vàng

TDTT

-

TDTT

TN

Hệ thống các nội dung và cự ly thi đấu Bơi
19
Thực trạng đội ngũ cán bộ chuyên môn Bơi lội Phường
38
Thành Công - Quận Ba Đình - Hà Nội.
Thực trạng cơ sở vật chất dành cho hoạt động TDTT của
40
Phường Thành Công - Quận Ba Đình - Hà Nội.
Kết quả phỏng vấn xác định các tiêu chí đánh giá phong
trào tập luyện môn Bơi lội Phường Thành Công - Quận Ba
Đình - Hà Nội.
Đánh giá phong trào tập luyện môn Bơi lội Phường Thành
Công - Quận Ba Đình - Hà Nội từ năm 2011 – 2014
Số người tập luyện Bơi lội phân bổ theo các nhóm tuổi
Phường Thành Công - Quận Ba Đình - Hà Nội.
Kết quả phỏng vấn những nhân tố ảnh hưởng đến phong
trào tập luyện môn Bơi lội Phường Thành Công - Quận Ba

42
43
45
47

Đình - Hà Nội.
Kết quả phỏng vấn lựa chọn biện pháp phát triển phong trào
Bảng 3.7
Bảng 3.8

tập luyện môn Bơi lội Phường Thành Công - Quận Ba Đình
- Hà Nội.

69


MỤC LỤC
Phần mở đầu
Mục đích nghiên cứu
Nhiệm vụ nghiên cứu
Chương 1: Tổng quan các vấn đề nghiên cứu
1.1. Những quan điểm của Đảng và Nhà nước về công tác phát
triển Thể dục thể thao
1.2. Vị trí, vai trò của TDTT trong phát triển kinh tế, chính trị, văn
hóa – xã hội
1.3. Những giải pháp phát triển Thể dục thể thao
1.4. Khái quát chung về môn Bơi lội
1.5. Vai trò, vị trí, tác dụng của môn Bơi lội trong việc phát triển
con người
1.6. Các yếu tố chi phối sự phát triển môn Bơi lội
1.7. Đặc điểm kinh tế xã hội Phường Thành Công - Quận Ba Đình
- Hà Nội
Chương 2. Phương pháp và tổ chức nghiên cứu
2.1. Phương pháp nghiên cứu
2.1.1. Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu tham khảo
2.1.2. Phương pháp phỏng vấn, toạ đàm
2.1.3. Phương pháp điều tra xã hội học
2.1.4. Phương pháp quan sát sư phạm
2.1.5. Phương pháp thực nghiệm sư phạm
2.1.6. Phương pháp toán học thông kê
2.2. Tổ chức nghiên cứu
2.2.1. Đối tượng nghiên cứu
2.2.2. Phạm vi nghiên cứu

35
35
35
36
37
37
37
39
41
46


3.2. Nghiên cứu đề xuất và kiểm nghiệm các biện pháp phát triển
phong trào tập luyện môn Bơi lội tại Phường Thành Công - Quận Ba

51

Đình - Hà Nội
3.2.1. Xác định nguyên tắc để xây dựng các biện pháp phát triển
phong trào tập luyện môn Bơi lội Phường Thành Công - Quận Ba Đình Hà Nội
3.2.2. Lựa chọn và đề xuất các biện pháp phát triển phong trào tập
luyện môn Bơi lội Phường Thành Công - Quận Ba Đình - Hà Nội
3.2.3. Ứng dụng và đánh giá hiệu quả các biện pháp phát triển

51
54

phong trào Bơi lội trên địa bàn Phường Thành Công - Quận Ba Đình - Hà

62

khắp cả về số lượng và chất lượng với đầy đủ các thành phần đối tượng, địa bàn,
giới tính… Hơn nữa, nền thể thao nước nhà đã từng bước đạt được một số thành
tích trong các môn thể thao cơ bản trên đấu trường khu vực và tại các Đại hội
thể thao quốc tế lớn. Đặc biệt VĐV Bơi lội Nguyễn Thị Ánh Viên đạt Huy
chương vàng tại Đại hội Olympic Trẻ năm 2014; HCĐ 200m hỗn hợp, HCB
400m hỗn hợp tại FINA World Cup 2015; Tại Sea Games 28: Giành 10
HC (trong đó có tới 8 HCV cá nhân). VĐV Lâm Quang Nhật giành HCV nội
dung bơi tự do 1.500m. Quang Nhật phá sâu kỷ lục SEA Games 28 và trở thành
người đầu tiên bảo vệ thành công HCV ở 2 kỳ SEA Games liên tiếp tại nội dung
này...


2
Có được thành tích thể thao đó không thể không nói đến vai trò của thể
thao phong trào. Điều đáng nói và quan tâm ở những thành tích thể thao nước ta
trên đấu trường thể thao quốc tế là các vận động viên thường không được tập
luyện bài bản ở các lớp, các trường TDTT, các trung tâm đào tạo vận động viên
từ nhỏ mà lại đi lên từ các giải thể thao phong trào. Chính vì vậy mà ngành thể
thao luôn quan tâm chỉ đạo sát sao đối với các hoạt động thể thao quần chúng,
đặcbiệt là tổ chức các giải thể thao quần chúng nhằm khích lệ phong trào tập
luyện thể thao của người dân.
Nhận thức được vai trò và tầm quan trọng của công tác TDTT, ngay từ
ngày cách mạng tháng Tám thành công đến nay, Đảng và Nhà nước ta đã luôn
quan tâm đến việc phát triển phong trào TDTT, rèn luyện thân thể nâng cao sức
khỏe và thể chất con người, đáp ứng được những yêu cầu nhiệm vụ chính trị - xã
hội và hội nhập quốc tế trong thời đại công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Hoạt động TDTT bao gồm rất nhiều môn thể thể thao khác nhau, nhưng
chúng đều có chung bản chất là tác động đến sự phát triển nhân cách và thể chất
con người.
Bơi lội là một trong những môn thể thao có ý nghĩa thực dụng rất lớn cần

Đến nay đã có một số tác giả nghiên cứu về phong trào TDTT như: Lê
Văn Lỡi (1999), Lê Xuân Bình (1999), Thoonngsuvânnlath Bôunpne (2004),
Nguyễn Văn Hải (2006), Nguyễn Thị Việt Hằng (2006), Cao Tiến Long (2009),
Bùi Đức Tuy (2012)… Những công trình trên đã có ý nghĩa to lớn trong việc
nâng cao chất lượng tập luyện cũng như thi đấu môn Bơi lội. Tuy nhiên, nghiên
cứu về môn Bơi lội ở Phường Thành Công - Quận Ba Đình - Hà Nội lại chưa có
tác giả nào quan tâm nghiên cứu.
Xuất phát từ những lý do trên, với mong muốn đóng góp một phần vào sự
nghiệp phát triển môn Bơi lội tại địa phương, chúng tôi mạnh dạn tiến hành
nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu biện pháp phát triển phong trào tập luyện
môn Bơi lội tại Phường Thành Công - Quận Ba Đình - Hà Nội”.
Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng phong trào tập luyện môn Bơi
lội trên địa bàn Phường Thành Công - Quận Ba Đình - Hà Nội, đề tài tiến hành
nghiên cứu và đề xuất các biện pháp phát triển phong trào tập luyện môn Bơi lội


4
tại phường Phường Thành Công - Quận Ba Đình - Hà Nội, nhằm góp phần phát
triển phong trào Bơi lội của phường, cũng như góp phần phát triển phong trào
Bơi lội của quận trong tình hình mới hiện nay.
Nhiệm vụ nghiên cứu:
Để đạt được mục đích nghiên cứu, đề tài xác định các nhiệm vụ cụ thể sau:
Nhiệm vụ 1: Nghiên cứu thực trạng phong trào tập luyện môn Bơi lội trên
địa bàn Phường Thành Công - Quận Ba Đình - Hà Nội.
Nhiệm vụ 2: Nghiên cứu đề xuất và kiểm nghiệm các biện pháp phát triển
phong trào tập luyện môn Bơi lội Phường Thành Công - Quận Ba Đình - Hà Nội.


5


6
nước. Một yêu cầu đổi mới trong quản lý và điều hành TDTT rất cơ bản được
Chính phủ đặt ra cho ngành TDTT là “Đổi mới tổ chức và cơ chế quản lý các
hoạt động TDTT, theo đó các cơ quan Nhà nước về TDTT tập trung sức thực
hiện các chức năng quản lý Nhà nước, chuyển dần việc tổ chức các hoạt động
TDTT quần chúng, trước hết là cuộc thi đấu thể thao cho các Hội, các Liên đoàn
thể thao đảm nhiệm. Đổi mới theo tinh thần của Chỉ thị đối với hoạt động của tổ
chức xã hội là “nguyên tắc tự quản”, có sự giám sát và giúp đỡ của cơ quan quản
lý Nhà nước về TDTT, tự chịu trách nhiệm về hoạt động của mình trước phát
luật và tự đảm bảo về tài chính.
Thực hiện sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước phong trào TDTT quần chúng
đã có nhiều tiến bộ bước đầu, đánh dấu sự khởi sắc đó là Đại hội TDTT toàn
quốc lần thứ II (1990) và vai trò các Hội, Liên đoàn bước đầu chuyển biến trong
việc phối hợp với các cơ quan Nhà nước chọn lựa vận động viên tham gia thi
đấu các giải thể thao quốc tế khởi đầu bằng việc thể thao Việt Nam trở lại đấu
trường SEA Games, năm 1989.
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII (1991) tiếp tục đề ra nhiệm vụ “Bảo
vệ sức khỏe, nâng cao thể lực của nhân dân phải trở thành hoạt động tự giác của
mỗi người, với sự quan tâm, đầu tư của Nhà nước và toàn xã hội”[1]. Nhiệm vụ
đó đã được Chính phủ cụ thể hóa trong “chiến lược ổn định và phát triển kinh tế
- xã hội đến năm 2000” báo cáo tại Đại hội Đảng VII là “Bảo vệ, nâng cao sức
khỏe về thể chất nhân dân, chống suy dinh dưỡng trẻ em, tăng chiều cao, cân
nặng của thế hệ trẻ, tăng tuổi thọ trung bình của người Việt Nam, xây dựng
phong trào toàn dân rèn luyện thân thể, hoạt động TDTT, nhất là trong thanh
niên, kết hợp phổ cập với nâng cao, phát triển các câu lạc bộ TDTT hoạt động
theo nguyên tắc tự quản và tự bù đắp chi phí, có sự quản lý và tài trợ một phần
của Nhà nước”[1].
Đại hội Đảng giữa nhiệm kỳ khóa VII (1993) tiếp tục xác định: “Phát
triển phong trào TDTT nhân dân trong cả nước, trước hết là trong thanh niên,

sự quản lý thống nhất của Nhà nước.
- Mở rộng giao lưu và hợp tác quốc tế về TDTT phục vụ cho sự phát triển
TDTT đất nước, tăng cường tình hữu nghị, sự hiểu biết lẫn nhau giữa nhân dân
ta và nhân dân các nước.


8
Mục tiêu cơ bản, lâu dài của công tác TDTT là hình thành nền TDTT phát
triển và tiến bộ, góp phần nâng cao sức khỏe, thể lực, đáp ứng nhu cầu văn hóa,
tinh thần của nhân dân và phấn đấu đạt được vị trí xứng đáng trong các hoạt
động TDTT quốc tế, trước hết là khu vực Đông Nam Á.
Thể chế hóa về mặt Nhà nước đối với sự nghiệp TDTT trong thời kì đổi
mới đã được Quốc hội thông qua Hiến pháp năm 1992 quy định “Nhà nước và
xã hội phát triển nền TDTT dân tộc, khoa học và nhân dân. Nhà nước thống nhất
quản lý sự nghiệp phát triển TDTT...”. Chính phủ ban hành Chỉ thị về việc xây
dựng quy hoạch phát triển ngành TDTT số 133 - TTg ngày 7/3/1995. Chủ
trương đó được Ủy ban nhân dân của các tỉnh, thành phố cả nước triển khai một
cách mạnh mẽ. Chính phủ chỉ đạo sâu sát cuộc vận động tổ chức Đại hội TDTT
các cấp, Đại hội TDTT toàn quốc lần thứ III và nhiều hoạt động TDTT khác để
thiết thực chào mừng kỷ niệm 50 năm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh
(2/9/1945-2/9/1995).
1.1.2 Giai đoạn 1996 đến nay
Sau 10 năm thực hiện đường lối đổi mới thắng lợi (1986-1995) Đại hội
Đảng toàn quốc lần thứ VIII (1996) đã quyết định đưa đất nước vào giai đoạn
đẩy mạnh công nghiệp hóa hiên đại hóa, xây dựng quy hoạch chiến lược phát
triển kinh tế - xã hội đến năm 2015. Đại hội VIII của Đảng xác định: “Sự cường
tráng về thể chất là nhu cầu của bản thân con người, đồng thời là vốn quý để tạo
ra tài sản trí tuệ và vật chất cho xã hội. Chăm lo cho con người về thể chất là
trách nhiệm của toàn xã hội của tất cả các cấp, các ngành, các đoàn thể” [3].
Quan điểm của Đại hội về chăm sóc sức khỏe, nâng cao thể chất nhân dân chính

các hoạt động giáo dục, y tế, văn hoá (1997) về chính sách khuyến khích xã hội
hóa các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa và TDTT. Năm 2000 Ủy Ban thường
vụ Quốc hội (khóa X) ban hành Pháp lệnh thể dục, thể thao nhằm thể chế mọi
hoạt động của Nhà nước, các đoàn thể chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội, các
thành phần kinh tế cho đến mọi người dân có quyền lợi và nghĩa vụ tham gia
phát triển sự nghiệp TDTT của đất nước. Như vậy, trong 5 năm cuối của thế kỷ
20 (1996-2000) sự nghiệp TDTT Việt Nam đã phát triển mạnh mẽ và toàn diện
các lĩnh vực TDTT: phong trào tập luyện TDTT của quần chúng, thể thao thành
tích cao; bước đầu hội nhập TDTT quốc tế. Tổ chức bộ máy và cán bộ, cơ sở vật
chất - kỹ thuật TDTT, các công trình TDTT, năng lực quản lý tổ chức các sự


10
kiện thể thao tầm cơ quốc gia và quốc tế từng bước được nâng cao; xã hội hóa
TDTT có sự tham gia của các thành phần xã hội góp phần phát triển sự nghiệp
TDTT đã tạo được một hệ thống các tiền đề quan trọng cho sự nghiệp TDTT
tiến nhanh ngay từ những năm đầu của thế kỷ 21.
Bước vào thiên niên kỷ mới, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX (4-2001)
là Đại hội của trí tuệ, quyết định đường lối chính trị của Đảng và Nhà nước đối
với đất nước nhằm mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ,
văn minh”. Đối với lĩnh vực công tác TDTT văn kiện Đại hội đã chỉ rõ “phát
động phong trào toàn dân tập luyện TDTT, nâng cao sức khỏe và tầm vóc người
Việt Nam...”[18]. Đại hội Đảng đã thông qua “Chiến lược phát triển kinh tế - xã
hội 2001-2010 do Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII trình bày tại Đại
hội, trong đó một lần nữa đặt ra yêu cầu “Đẩy mạnh hoạt động TDTT nâng cao
thể trạng và tầm vóc người Việt Nam. Phát triển phong trào TDTT quần chúng
với mạng lưới cơ sở rộng khắp” đồng thời nhấn mạnh “Đẩy mạnh xã hội hóa,
khuyến khích nhân dân và các tổ chức tham gia thiết thực, có hiệu quả các hoạt
động văn hóa, thể thao. Khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư và bảo trợ các
hoạt động văn hóa, thể thao”[18].

phát hiện, bồi dưỡng và phát triển tài năng, đưa thể thao nước ta đạt vị trí cao
của khu vực, từng bước tiếp cận với châu lục và thế giới”.
Về phương hướng, nhiệm vụ phát triển TDTT 5 năm 2006-2010, Nghị
quyết Đại hội Đảng X tiếp tục khẳng định: “Đẩy mạnh các hoạt động TDTT cả
về quy mô và chất lượng. Khuyến khích và tạo điều kiện để toàn xã hội tham gia
hoạt động và phát triển sự nghiệp TDTT. Phát triển mạnh thể thao quần chúng,
thể thao nghiệp dư, trước hết là trong thanh niên, thiếu niên. Làm tốt công tác
giáo dục thể chất trong trường học. Mở rộng quá trình chuyên nghiệp hóa thể
thao thành tích cao. Đổi mới và tăng cường hệ thống đào tạo vận động viên trẻ.
Từng bước chuyển các đơn vị sự nghiệp TDTT công lập sang áp dụng chế độ tự
chủ tài chính, tiến tới tự chủ, tự chịu trách nhiệm toàn diện như các tổ chức dịch
vụ công cộng khác. Khuyến khích các doanh nghiệp ngoài công lập đầu tư và
kinh doanh cơ sở tập luyện, thi đấu thể thao. Phân định rõ trách nhiệm giữa cơ
quan quản lý hành chính nhà nước và các tổ chức, liện đoàn, hiệp hội thể thao.


12
Chuyển giao hoạt động tác nghiệp về thể thao cho các tổ chức xã hội và các cơ
sở ngoài công lập thực hiện”.
Trên cơ sở đó ngành TDTT đã kiến nghị Chính phủ Ban hành Quyết định
100/2005/QĐ-TTg ngày 10/5/2005 phê duyệt Chương trình phát triển TDTT ở
xã, phường thị trấn đến năm 2010 nhằm “làm cho mỗi người dân ở xã, phường
và thị trấn được hưởng thụ và tham gia các hoạt động văn hóa TDTT nhằm tăng
cường sức khỏe, góp phần xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện về
trí tuệ và thể chất, phục vụ lao động sản xuất, công tác, học tập, góp phần ổn
định, giữ gìn an ninh chính trị và đẩy lùi các tệ nạn xã hội”[34]. Những chủ
trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước thể hiện rõ sự luôn quan tâm của
đảng đối với công tác TDTT đồng thời cũng khẳng định vị trí và tầm quan trọng
của TDTT đối với sự nghiệp Cách mạng nước ta.
Đảng ta cũng khẳng định rõ vị trí quan trọng của TDTT nhằm bồi dưỡng

giao lưu văn hoá, mở rộng quan hệ của nước ta với các nước. Các hoạt TDTT
quần chúng cũng như các hoạt động thi đấu, biểu diễn thể thao trình độ cao đang
ngày càng trở thành nhu cầu của quần chúng. Các hoạt động đó không những là
hình thức nghỉ ngơi, giải trí, nâng cao sức khoẻ, mà còn có thể đem lại niềm tự
hào, nhu cầu hưởng thụ và sự cổ vũ to lớn cho nhân dân.
Trong mối quan hệ với đời sống kinh tế - xã hội, phát triển TDTT là một
yêu cầu khách quan, một mặt quan trọng của chính sách xã hội nhằm chăm lo
cho con người, phục vụ đắc lực cho những nhiệm vụ phát triển đất nước về mọi
mặt: kinh tế, xã hội, văn hoá, quốc phòng. TDTT là phương tiện có hiệu quả và
có khả năng thực thi để ngăn chặn tình trạng sa sút về sức khoẻ của nhân dân,
đặc biệt là của thế hệ trẻ, từng bước nâng cao thể lực của con người Việt Nam,
đáp ứng yêu cầu lao động trong những điều kiện mới và sẵn sàng bảo vệ tổ
quốc. Với ý nghĩa đó, phát triển TDTT được coi là nội dung quan trọng của
chính sách xã hội. Cương lĩnh của Đảng đã khẳng định: “Chính sách xã hội
đúng đắn vì hạnh phúc con người là động lực to lớn phát huy mọi tiềm năng
sáng tạo của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội”, đồng thời
nêu rõ một trong những nội dung quan trọng của chính sách xã hội là “bảo đảm
và không ngừng nâng cao đời sống vật chất của mọi thành viên trong xã hội về
ăn, ở, đi lại, học tập, nghỉ ngơi, chữa bệnh và nâng cao thể chất”.


14
TDTT có vai trò quan trọng trong việc nâng cao sức khoẻ, xây dựng con
người mới, làm phong phú đời sống văn hoá tinh thần của nhân dân, góp phần
mở rộng giao lưu quốc tế, phục vụ tích cực những nhiệm vụ kinh tế - xã hội, an
ninh, quốc phòng của đất nước [27].
Cần khắc phục những quan niệm cho rằng TDTT chỉ là việc vui chơi giải
trí đơn thuần, có hay không cũng được, hoặc cho rằng phải chờ khi nào kinh tế
khá lên thì mới cần đến TDTT, còn trong điều kiện kinh tế khó khăn, thì cần
phải tập trung lo cho đời sống vật chất, chưa cần đến các hoạt động TDTT. Tất

nhiều phương pháp khác nhau. Như vậy giữa phương pháp và giải pháp có sự
tương đồng nhưng không đồng nghĩa với nhau. Một nhóm giải pháp cụ thể tổng
hợp thành phương pháp quản lý.
1.3.2. Phân loại các giải pháp phát triển TDTT
Theo cách tiếp cận phân loại các giải pháp quản lý xã hội của các tác giả
Nguyễn Tuấn Dũng, Đỗ Minh Hợp và K.A. Vôrônôva, việc phân loại các nhóm
giải pháp quản lý xã hội như sau:
- Trong phương pháp quản lý hành chính có nhóm giải pháp hành chính.
Đó là nhóm giải pháp mang tính bắt buộc, cưỡng chế, mệnh lệnh dựa trên cơ sở
pháp lý được luật pháp thừa nhận. Đây là nguyên lý cấp dưới phục tùng cấp
trên, người dân sống và làm việc theo pháp luật. Nhóm giải pháp này bao gồm
các giải pháp cụ thể sau:
+ Giải pháp tổ chức (hình thức các loại hình thức tổ chức trong xã hội).
+ Các văn bản pháp luật, dưới luật, chỉ thị, nghị quyết, nghị định, thông
tư, kế hoạch.
+ Thanh tra, kiểm tra, kiểm soát.
- Trong phương pháp quản lý kinh tế có nhóm giải pháp kinh tế (vận dụng
phương pháp quản lý kinh tế). Đây là nhóm giải pháp vận dụng các quy luật
kinh tế để áp dụng vào quản lý xã hội.
Quy luật kinh tế cơ bản nhất gồm có:
+ Lợi nhuận và lợi ích kinh tế, các hoạt động xã hội đều lấy lợi ích, lợi
nhuận kinh tế làm thước đo, đánh giá hiệu quả và mục đích hoạt động.
+ Quy luật về phân phối lợi ích sản phẩm xã hội.
+ Quy luật cung cầu, quy luật giá trị.
+ Quy luật kinh tế thị trường....


16
Trên cơ sở đố nhóm giải pháp kinh tế bao gồm:
+ Hệ thống chế độ, chính sách và khen thưởng vật chất.

+ Hệ thống chế độ sử dụng nguồn lực con người trong xã hội, chế độ
tuyển dụng, chế độ lao động, công tác....
+ Tuyên truyền, vận động, giáo dục truyền thông cho mọi người về chính
trị, tư tưởng, tư cách đạo đức.
Ngoài cách phân loại các giải pháp theo phương pháp quản lý nói trên, khi
vận dụng các nhóm phương pháp vào thực tiễn quản lý còn phải sử dụng các
loại giải pháp hỗ trợ khác.
1.4. Khái quát chung về môn Bơi lội
1.4.1. Tìm hiểu sơ lược về môn Bơi lội
Bơi lội là một môn thể thao dưới nước, do tác động của sự vận động toàn
thân, đặc biệt là đạp chân, quạt tay trong nước mà con người có thể chuyển động
vượt được quãng đường dưới nước với tốc độ khác nhau. Bơi lội được ra đời
trong quá trình lao động sản xuất và chống lại thiên tai, địch hoạ của loài người.
Nó luôn có mối quan hệ chặt chẽ với sự sinh tồn, sản xuất và sinh hoạt của loài
người, phát triển và đổi mới cùng với sự hình thành và phát triển của xã hội loài
người. Môn Bơi lội có nội dung rất rộng. Hiện nay Bơi lội trong các cuộc thi đấu
ở Đại hội Olympic và giải vô địch Bơi lội thế giới bao gồm bốn phần: Bơi thể
thao, nhảy cầu, bóng nước và bơi nghệ thuật. Bốn phần này trên thực tế đã sớm
trở thành bốn môn thi đấu độc lập. Hình thức bơi trong môn Bơi lội rất đa dạng,
phong phú. Các hình thức Bơi lội lưu truyền trong dân gian có: bơi tô tô, bơi
chải, bơi đứng, bơi nghiêng và một số cách bơi không có luật lệ khác. Do kĩ
thuật của các kiểu bơi trên không hợp lí, tạo ra tốc độ chậm lại tốn sức nên trong
thi đấu bơi dần dần đã bị thải loại [28], [29].
Hiện nay các loại hình hoạt động Bơi lội đang được phát triển rộng rãi,
gồm các loại sau:
1.4.1.1. Bơi thể thao
Bơi thể thao chính là các kiểu bơi hiện đại được sử dụng trong thi đấu bơi
ở các Đại hội TDTT trong nước và quốc tế. Trong số các kiểu bơi thể thao có
kiểu do bắt chước cách bơi của một động vật nào đó mà được đặt theo tên của
động vật đó. Ví dụ như bơi ếch, bơi bướm, bơi đen - phin. Có kiểu bơi lại được

200m,
200m,
400m
400m
800m,
800m,
500m
500m
100m,
200m

100m,
200m

100m,
200m
100m,
200m
200m,
400m

100m,
200m
100m,
200m
200m,
400m

4 x 100m,
4 x 200m,




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status