Sở giáo dục và đào tạo Hải Dương
Trường THCS Phạm Trấn
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
BÁO CÁO THU HOẠCH
Người báo cáo: PHẠM VĂN PHƯƠNG
Thời gian tham gia khoá học: Từ 12/07/2018 đến 10/08/2018
Địa điểm bồi dường: Trung tâm GDTX - cơ sở 2; xã Gia Tân; huyện Gia Lộc; Tỉnh Hải
Dương.
Tên khoá học: Bồi dưỡng chức danh chuẩn nghề nghiệp giáo viên THCS hạng II
A. TÓM TẮT NỘI DUNG CHÍNH ĐÃ THU HOẠCH QUA KHOÁ BỒI DƯỠNG
Qua thời gian học tập, được bồi dưỡng kiến thức thuộc lớp bồi dưỡng tiêu chuẩn chức danh
nghề nghiệp giáo viên THCS hạng II được Quý thầy, cô của trường Đại học sư phạm Hà Nội II
truyền đạt những kiến thức và kỹ năng gồm những nội dung:
Chuyên đề 1. Lý luận về nhà nước và hành chính nhà nước.
Chuyên đề 2. Chiến lược và chính sách phát triển giáo dục và đào tạo.
Chuyên đề 3. Quản lý giáo dục và chính sách phát triển giáo dục trong cơ chế thị trường
định hướng XHCN.
Chuyên đề 4. Giáo viên với công tác tư vấn học sinh trong trường THCS.
Chuyên đề 5. Tổ chức hoạt động dạy học, xây dựng và phát triển kế hoạch giáo dục ở trường
THCS.
Chuyên đề 6. Phát triển năng lực nghề nghiệp giáo viên THCS hạng II.
Chuyên đề 7. Dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh ở trường THCS.
Chuyên đề 8. Thanh tra kiểm tra và một số hoạt động đảm bảo chất lượng trường THCS.
Chuyên đề 9. Sinh hoạt tổ chuyên môn và công tác bồi dưỡng giáo viên trong trường THCS.
Chuyên đề 10. Xây dựng mối quan hệ trong và ngoài nhà trường để nâng cao chất lượng
giáo dục và phát triển trường THCS.
Đây là những nội dung hết sức bổ ích và cần thiết cho người quản lí, giáo viên giảng dạy
trong việc thực thi nhiệm vụ tại đơn vị đang công tác. Với 10 chuyên đề đã giúp cho học viên nhận
nước (như công an, nhà tù, tòa án,...) để thực hiện quyết định.
Thứ tư là nguyên tắc hiệu quả: hiệu lực của hoạt động hành chính nhà nước thể hiện ở mức
độ hoàn thành các nhiệm vụ của bộ máy hành chính nhà nước trong quá trình quản lý xã hội, còn
hiệu quả của hoạt động hành chính nhà nước phản ánh mối tương quan giữa kết quả của hoạt động
so với chi phí bỏ ra để đạt kết quả đó.
Ngoài ra nhà nước còn quản lí theo nguyên tắc hoạt động hành chính nhà nước phải chịu sự
giám sát chặt chẽ của công dân và xã hội và nguyên tắc tập trung dân chủ. Từ thực tiễn công tác và nội
dung đã học, bản thân tôi nhận thấy việc quản lí cơ quan đơn vị phải thực hiện theo các nguyên tắc cụ
thể để đảm bảo sự thống nhất trong các hoạt động và tạo sự hiệu quả cao trong công việc, cụ thể:
Một là nâng cao vai trò của Đảng trong đơn vị công tác qua một số nội dung:
Lãnh đạo xây dựng và thực hiện có hiệu quả các chủ trương, nhiệm vụ, công tác chuyên môn của
đơn vị theo đúng đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, hoàn thành nghĩa vụ của
đơn vị đối với Nhà nước, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của cán bộ, đảng viên và quần
chúng.
Lãnh đạo cán bộ, đảng viên và quần chúng giám sát mọi hoạt động của đơn vị theo đúng đường lối,
chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; đề cao tinh thần trách nhiệm, phát huy tính chủ động
sáng tạo, không ngừng cải tiến lề lối, phương pháp làm việc, nâng cao hiệu quả công tác, hoàn
thành tốt các nhiệm vụ được giao.
Lãnh đạo xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở ở đơn vị, phát huy quyền làm chủ
của cán bộ, đảng viên và quần chúng, đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, trù dập, ức
hiếp quần chúng và các hiện tượng tiêu cực khác, nhất là những tiêu cực trong tuyển sinh, cấp văn
bằng, chứng chỉ....
Lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ quốc phòng toàn dân, giữ vững an ninh chính trị và trật tự an
toàn xã hội trong đơn vị. Đoàn kết nội bộ, giữ gìn bí mật quốc gia, bảo vệ chính trị nội bộ, bảo vệ
tài sản của đơn vị.
Hai là nguyên tắc tập trung dân chủ thể hiện: các kế hoạch, định hướng phát triển cơ quan
do hiệu trưởng xây dựng trên cơ sở thông qua lấy ý kiến thống nhất của cán bộ giáo viên nhân viên
trong đơn vị, hiệu trưởng là người đưa ra những quyết sách thực hiện các công việc trong đơn
vị.Trong các hoạt động của nhà trường luôn công khai minh bạch, giáo viên và các tổ chức trong
nhà trường có quyền giám sát kiểm tra thông qua hoạt động của ban thanh tra nhân dân trong đơn
Thứ hai giáo dục quan tâm đúng mức đến dạy chữ, dạy người và định hướng nghề nghiệp cho từng
đối tượng học sinh, quán triệt quan điểm tích hợp cao ở cấp tiểu học và thấp dần ở trung học và phân hoá sâu
dần từ tiểu học lên trung học gắn bó chặt chẽ với định hướng nghề nghiệp trong tương lai.
Thứ ba xu thế đổi mới phương pháp dạy học theo yêu cầu tích cực hóa hoạt động học tập và
phát triển năng lực người học đã tạo ra sự chuyển biến thực sự trong cách dạy và cách học.
Thứ tư xu thế đổi mới phương pháp và hình thức đánh giá kết quả học tập phù hợp yêu cầu
phát triển năng lực người học, cho phép xác định/giám sát được việc đạt được năng lực dựa vào hệ
thống tiêu chí của chuẩn đánh giá.
Thứ năm Quan niệm đa dạng hóa theo hướng mở về nguồn tài liệu dạy học cung cấp thông tin cho
việc dạy của giáo viên và học của học sinh.
Đảng và Nhà nước luôn khẳng định phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu, đầu tư cho
giáo dục là đầu tư cho phát triển; giáo dục vừa là mục tiêu vừa là động lực để phát triển kinh tế - xã
hội.
Trong Văn kiện Nghị quyết 29NQ/TƯ ngày 04 tháng 11 năm 2013 của Ban chấp hành Trung ương về
đổi mới căn bản toàn diện giáo dục đào tạo đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế với các điểm cụ thể sau:
Một là giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của
toàn dân. Đầu tư cho giáo là đầu tư phát triển, được ưu tiên đi trước trong các chương trình, kế
hoạch phát triển kinh tế - xã hội.
Hai là đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo là đổi mới những vấn đề lớn, cốt lõi,
cấp thiết, từ quan điểm, tư tưởng chỉ đạo đến mục tiêu, nội dung, phương pháp, cơ chế, chính sách,
điều kiện bảo đảm thực hiện; đổi mới từ sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đến hoạt
động quản trị của các cơ sở giáo dục-đào tạo và việc tham gia của gia đình, cộng đồng, xã hội và
bản thân người học; đổi mới ở tất cả các bậc học, ngành học.
Trong quá trình đổi mới, cần kế thừa, phát huy những thành tựu, phát triển những nhân tố
mới, tiếp thu có chọn lọc những kinh nghiệm của thế giới; kiên quyết chấn chỉnh những nhận thức,
việc làm lệch lạc. Đổi mới phải bảo đảm tính hệ thống, tầm nhìn dài hạn, phù hợp với từng loại đối
tượng và cấp học; các giải pháp phải đồng bộ, khả thi, có trọng tâm, trọng điểm, lộ trình, bước đi
phù hợp.
Ba là phát triển giáo dục và đào tạo là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân
Quản trị cơ sở giáo dục và đào tạo là hoạt động của người đứng đầu cơ sở giáo dục và đào
tạo nhằm tác động có đích hướng đến các hoạt động giáo dục và đào tạo; sử dụng hiệu quả các
nguồn lực (con người, tài chính, vật chất…) của cơ sở giáo dục và đào tạo để đạt mục tiêu của cơ sở
giáo dục và đào tạo và yêu cầu QLNN đặt ra.
Căn cứ quy định về công tác quản lý của nhà nước về giáo dục và đào tạo, hiệu trưởng nhà
trường (nhà quản trị) phải quản trị hiệu quả các nguồn lực con người (đội ngũ giảng viên, nhân
viên…), cơ sở vật chất, trang thiết bị trường học, thời gian, thời lượng đào tạo, sử dụng nguồn tài
chính,… để hoạt động giáo dục, đào tạo của trường đạt kết quả thông qua chất lượng đào tạo, chi
phí bỏ ra và kết quả thu được. Quản trị cơ sở giáo dục và đào tạo là quản trị nhà trường vì mục tiêu
của nhà trường.
Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục là đổi mới những vấn đề lớn, cốt lõi, cấp thiết, từ tư
duy, quan điểm đến mục tiêu, hệ thống, chương trình giáo dục (nội dung, phương pháp, thi, kiểm
tra, đánh giá), các chính sách, cơ chế và các điều kiện bảo đảm chất lượng giáo dục; đổi mới ở tất cả
các cấp học và trình độ đào tạo.
Giáo dục và đào tạo bao giờ cũng bao gồm các hoạt động cơ bản học; day học và giáo dục;
huy động nguồn lực đảm bảo, xây dựng môi trường GD, QLGD và bao trùm xuyên suốt là tư duy
nhận thức về giáo dục và đào tạo. Bởi vậy, đổi mới căn bản và toàn diện chính là :
- Đổi mới về tư duy, nhận thức về hoạt động giáo dục
- Đổi mới về mục tiêu nội dung và phương pháp giáo dục (chương trình, giáo trình, sách
giáo khoa ...).
- Đổi mới về công tác đào tạo, sử dụng, đãi ngộ đội ngũ nhà giáo.
- Đổi mới về huy động nguồn lực để phát triển giáo dục.
- Xây dựng môi trường giáo dục đồng thuận, lành mạnh và an toàn.
- Đổi mới về công tác quản lý giáo dục (QLGD) và hoàn thiện cơ cấu về cơ cấu HTGD.
Mục tiêu cơ bản của giáo dục: "Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến
thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học"(Nghị quyết số 29-NQ/TW Khóa
XI)
- Chuyển từ cách giáo dục theo truyền thống sang tạo dựng cách học, thói quen học suốt
đời và xây dựng học tập.
Chương trình giáo dục phổ thông được chia làm hai giai đoạn :
định đời sống tâm hồn, tình cảm và giúp học sinh thực hiện được nguyện vọng của mình.
Tư vấn học đường tạo ra môi trường thuận lợi, tích cực, thân thiện cho sự phát triển nhân cách của
trẻ đúng theo định hướng, mục tiêu mà xã hội muốn
Giáo viên chủ nhiệm là cầu nối giữa Ban giám hiệu, giữa các tổ chức trong trường, giữa các
giáo viên bộ môn với tập thể học sinh lớp chủ nhiệm. Nói một cách khác, giáo viên chủ nhiệm là
người đại diện hai phía, một mặt đại diện cho các lực lượng giáo dục của nhà trường, mặt khác đại
diện cho tập thể học sinh. Với tư cách là sư phạm (đại diện cho tập thể các nhà sư phạm), giáo viên
chủ nhiệm có trách nhiệm truyền đạt tới học sinh của lớp chủ nhiệm tất cả yêu cầu, kế hoạch giáo
dục của nhà trường tới tập thể và từng học sinh của lớp chủ nhiệm không phải bằng mệnh lệnh mà
bằng sự thuyết phục, cảm hoá, bằng sự gương mẫu của người giáo viên chủ nhiệm, để mục tiêu giáo
dục được học sinh chấp nhận một cách tự giác, tự nguyện. Với kinh nghiệm sư phạm và uy tín của
mình, giáo viên chủ nhiệm có khả năng biến những chủ trương, kế hoạch đào tạo của nhà trường
thành chương trình hành động của tập thể lớp và của mỗi học sinh.
Vận dụng các nội dung tư vấn học đường trong công tác chủ nhiệm đã giúp cho giáo viên
chủ nhiệm xây dựng được tập thể lớp đoàn kết, tương thân, tương ái. Củng cố được mối quan hệ tốt
đẹp giữa học sinh với học sinh, học sinh với giáo viên bộ môn, học sinh với gia đình. Giúp học sinh
giải quyết được những vấn đề khó khăn của bản thân trong quá trình học tập.
Vận dụng các nội dung tư vấn học đường đã giúp cho người giáo viên chủ nhiệm gần gũi
hơn với tập thể lớp, từ đó nắm bắt được những vấn đề phát sinh trong lứa tuổi học sinh để có những
định hướng giáo dục phù hợp đối với các em. Mang lại hiệu quả cao cho công tác chủ nhiệm lớp.
Chuyên đề 5 “Tổ chức hoạt động dạy học, xây dựng và phát triển kế hoạch giáo dục ở trường
THCS” nội dung cơ bản của chuyên đề là:
Quá trình dạy học là một hệ toàn vẹn gồm hoạt động dạy và hoạt động học luôn luôn tương
tác với nhau, thâm nhập vào nhau, sinh thành ra nhau. Sự tương tác giữa dạy và học mang tính
chất cộng tác, trong đó dạy giữ vai trò chủ đạo.
Hoạt động dạy và hoạt động học có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, thể hiện ở mối quan hệ
tương tác giữa các thành tố: mục tiêu, nội dung, phương pháp của hoạt động dạy và hoạt động học.
Phân tích mối quan hệ giữa hoạt động dạy và hoạt động học, chúng ta có thể đi đến kết luận:
Hoạt động học, trong đó có hoạt động nhận thức của học sinh có vai trò quyết định kết quả dạy học.
Để hoạt động học có kết quả thì trước tiên chúng ta phải coi trọng vai trò người giáo viên, giáo viên
Tổ chức, điều khiển học sinh hình thành cơ sở thế giới quan khoa học, những phẩm chất đạo
đức nói riêng và phát triển nhân cách nói chung.
Trong trường học THCS thì hiệu trưởng là người có quyền lực cao nhất, quán xuyến chỉ đạo
mọi công việc như:
- Xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch dạy học và giáo dục trong trường THCS;
- Xây dựng và quản lý hồ sơ dạy học, giáo dục trong trường THCS;
- Triển khai thực hiện đổi mới phương pháp dạy học;
- Sử dụng thiết bị dạy học và ứng dụng CNTT trong dạy học ở cấp THCS;
- Hoạt động đánh giá kết quả học tập của học sinh cấp THCS;
- Hoạt động của tổ chuyên môn trong trường THCS;
- Quản lý hoạt động học của học sinh.
Hiệu trưởng phải chủ động họp bàn với hiệu phó trong công tác phân công chuyên môn:
hiệu trưởng sẽ phải căn cứ vào tình hình thực tế đội ngũ giáo viên hiện có mà đưa ra phương án
phân công chuyên môn cho phù hợp. Phân công các chức danh tổ trưởng, tổ phó cho các tổ, phân
công giáo viên chủ nhiệm các lớp... Yêu cầu các tổ và mỗi cá nhân trong các tổ tìm hiểu chuyên
môn của mình được giao lên kế hoạch cá nhân và kế hoạch bộ môn, đăng ký dạy học theo các chủ
đề, xây dựng các chuyên đề của nhóm tổ, thực hiện giảng dạy theo nghiên cứu bài học ... Tăng
cường sử dụng các công nghệ thông tin phục vụ cho giảng dạy, sử dụng triệt để các đồ dùng hiện
có, có sự sáng tạo trong việc làm và chế tạo đồ dùng mới. Làm tốt công tác chủ nhiệm lớp, quản lý
tốt học sinh trong các giờ học trên lớp. Thực hiện nghiêm túc và đúng quy chế đánh giá xếp loại học
sinh.
Bên cạnh đó hiệu trưởng nhà trường phải chủ động kết hợp với công đoàn, đoàn thanh niên,
chính quyền địa phương (UBND xã), vận động ban phụ huynh học sinh ... làm tốt các hoạt động
dạy và học khiến cho các hoạt động của nhà trường được nhịp nhàng hơn.
Mục đích của việc xây dựng kế hoạch là nhằm nâng cao năng lực tự chủ, tự chịu trách
nhiệm của các trường trong xây dựng, thực hiện kế hoạch giáo dục nhà trường; bồi dưỡng năng lực
phát triển chương trình giáo dục cho CBQL, giáo viên.
Khắc phục hạn chế của chương trình, sách giáo khoa hiện hành; xây dựng kế hoạch giáo dục
nhà trường theo hướng tinh giảm, gắn với đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức dạy học, kiểm
tra, đánh giá và thi theo định hướng chương trình giáo dục phổ thông mới.
đổi nhanh, phức tạp đòi hỏi người giáo viên phải được trang bị những kiến thức chuyên môn và
năng lực sư phạm, khả năng đáp ứng linh hoạt và hiệu quả trước những yêu cầu mới.
“Theo đó, việc đào tạo giáo viên cần dựa trên phát triển năng lực nghề nghiệp và nhấn mạnh
đến những kiến thức chuyên ngành, năng lực sư phạm mà người giáo viên cần phải được đào tạo,
bồi dưỡng, để có thể thực hiện các hoạt động giáo dục một cách hiệu quả nhất trong môi trường
công tác thực tế, nâng cao chất lượng dạy và học”
Xuất phát từ đặc trưng của nhà trường hiện đại, yêu cầu về phẩm chất và năng lực của người
giáo viên, là chuyển mục tiêu và nội dung đào tạo từ chủ yếu cung cấp tri thức sang đào tạo năng
lực, chuyển phương thức tổ chức đào tạo theo định hướng tức là hình thành và phát triển kiến thức,
kỹ năng và năng lực sư phạm, phẩm chất, nhân cách nghề của người giáo viên theo nguyên lý hoạt
động, thông qua việc nghiên cứu và giải quyết các tình huống sư phạm, phát triển năng lực nghề
nghiệp của giáo viên theo chu trình: đào tạo - bồi dưỡng thường xuyên.
Quan điểm về bồi dưỡng, nâng cao năng lực sư phạm cho giáo viên: Cần bồi dưỡng những
kiến thức, kỹ năng nền tảng để nâng cao năng lực nghề nghiệp theo chuẩn nghề nghiệp, đặc biệt bổ
khuyết những năng lực mà giáo viên đang còn yếu, còn thiếu do chưa được đào tạo hoặc bồi dưỡng
kịp thời.
Bồi dưỡng theo yêu cầu của chương trình giáo dục phổ thông mới. Tùy theo từng ngành cần
cập nhật bồi dưỡng kiến thức mới; bồi dưỡng thực hành các phương pháp, cách thức xây dựng kế
hoạch tổ chức dạy học mới; ứng dụng khoa học - công nghệ vào dạy học…
“Các chương trình tài liệu đào tạo, bồi dưỡng được phát triển theo hướng đa dạng hóa, có
bảo bản in, bản điện tử, video clip, đĩa CD, cẩm nang hỏi đáp… trong đó chú trọng việc “số hóa”,
đưa lên mạng Internet tất cả các thông tin để tạo điều kiện cho giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục
có thể tự học tập ở mọi nơi, mọi lúc. Hình thức bồi dưỡng, đa dạng hóa học tập bồi dưỡng. Bồi
dưỡng tập trung, bồi dưỡng theo cụm, bồi dưỡng tại trường, bồi dưỡng ngắn hạn, bồi dưỡng từ xa…
Linh hoạt trong cách tổ chức, tùy vào điều kiện cụ thể”
Mặt khác cần bồi dưỡng phương pháp giảng dạy cho giáo viên bằng những việc làm thiết
thực, cụ thể. Theo đó, bồi dưỡng thực hành các phương pháp mới phát huy được năng lực học sinh.
Bồi dưỡng phương pháp giảng dạy tích hợp, phân hóa, phương pháp kiểm tra đánh giá kết quả học
tập với nhiều hình thức đa dạng, hạn chế việc cung cấp lý thuyết, coi trọng thực hành. Bồi dưỡng
phương pháp tiếp cận thông tin, khai thác thông tin, xử lý thông tin, ứng dụng thông tin vào thực tế
Chuyên đề 7 “Dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh ở trường THCS” nội
dung cơ bản của chuyên đề là:
1. Khái niệm năng lực:
Trong chương trình dạy học định hướng phát triển năng lực, khái niệm năng lực được sử
dụng như sau:
1.Năng lực liên quan đến bình diện mục tiêu của dạy học: mục tiêu dạy học được mô tả
thông qua các năng lực cần hình thành
2. Trong chương trình, những nội dung học tập và hoạt động cơ bản được liên kết với nhau
nhằm hình thành các năng lực
3. Năng lực là sự kết nối tri thức, hiểu biết, khả năng, mong muốn.
4. Mục tiêu hình thành năng lực định hướng cho việc lựa chọn, đánh giá mức độ quan trọng
và cấu trúc hóa các nội dung và hoạt động và hành động dạy học về mặt phương pháp
5. Năng lực mô tả việc giải quyết những đòi hỏi về nội dung trong các tình huống..
6. Các năng lực chung cùng với các năng lực chuyên biệt tạo thành nền tảng chung cho công
việc giáo dục và dạy
7. Mức độ phát triển năng lực có thể được xác định trong các tiêu chuẩn nghề; Đến một thời
điểm nhất định nào đó, HS có thể / phải đạt được những gì?
Năng lực được quan niệm là sự kết hợp một cách linh hoạt và có tổ chức kiến thức, kỹ năng
với thái độ, tình cảm, giá trị, động cơ cá nhân… nhằm đáp ứng hiệu quả một yêu cầu phức hợp của
hoạt động trong bối cảnh nhất định. Năng lực thể hiện sự vận dụng tổng hợp nhiều yếu tố (phẩm
chất của người lao động, kiến thức và kỹ năng) được thể hiện thông qua các hoạt động của cá nhân
nhằm thực hiện một loại công việc nào đó.
Năng lực của người học là khả năng làm chủ hệ thống tri thức, kĩ năng, thái độ... và vận
hành (kết nối) chúng một cách hợp lý vào thực hiện thành công nhiệm vụ học tập, giải quyết hiệu
quả những vấn đề đặt ra cho họ trong cuộc sống.
2. Dạy học theo tiếp cận trang bị kiến thức và dạy học theo định hướng phát triển năng
lực.
Dạy học định hướng phát triển năng lực nhằm đảm bảo chất lượng đầu ra của việc dạy học,
thực hiện mục tiêu phát triển toàn diện các phẩm chất nhân cách, chú trọng năng lực vận dụng tri
thức trong những tình huống thực tiễn nhằm chuẩn bị cho con người năng lực giải quyết các tình
Dạy học phân hóa, đó là: Tiến trình dạy học gồm đa dạng các phương tiện, thiết bị và
phương pháp giảng dạy, học tập nhằm cho phép học sinh có các năng lực, kĩ năng, kiến thức, lứa
tuổi, hành vi, thái độ khác nhau đều đạt đến mục tiêu chung của học tập, giáo dục nhưng bằng các
con đường khác nhau.
Sự huy động đa dạng và phong phú các phương pháp, hình thức dạy học sao cho sự học của
học sinh được kích thích, được đa dạng để học sinh có thể làm việc, hoạt động, học tập theo lộ trình
và phương pháp riêng đặc trưng cho bản thân nhưng vẫn đảm bảo mục tiêu kiến thức, kĩ năng yêu
cầu.
Phá vỡ hình thức dạy học trực diện, giáo dục với giáo viên là chủ đạo, cả lớp chỉ học một
cách, cùng một bài học cho tất cả học sinh.
Tổ chức học tập, hoạt động, làm việc sao cho mỗi học sinh đều có tình huống học tập tối ưu.
Dạy học tích hợp: Tập trung trên việc học của học sinh; Quan tâm đến sự khác biệt của các
học sinh; Tích hợp kiểm tra, đánh giá việc dạy và học; Điều chỉnh nội dung, quá trình và sản phẩm
học tập theo định hướng tăng hiệu quả học tập cho học sinh và phát huy được ưu điểm và phong
cách học tập của từng cá nhân; Xây dựng không khí học tập mà ở đó học sinh làm việc cởi mở và
tôn trọng mọi người. Hợp tác với học sinh để tối đa hóa hiệu suất học tập. Hướng đến tối ưu hóa sự
tiến bộ và thành công của cá nhân học sinh trong học tập; Luôn mềm dẻo, động viên tích cực với
học sinh.
Phương pháp bàn tay nặn bột: Dạy học khoa học dựa trên tìm tòi nghiên cứu
Những nguyên tắc cơ bản của dạy học dựa trên cơ sở tìm tòi - nghiên cứu: Học sinh cần phải hiểu
rõ câu hỏi đặt ra hay vấn đề trọng tâm của bài học; Tự làm thí nghiệm là cốt lõi của việc tiếp thu
kiến thức khoa học; Tìm tòi nghiên cứu khoa học đòi hỏi học sinh nhiều kĩ năng. Một trong các kĩ
năng cơ bản đó là thực hiện một quan sát có chủ đích; Học khoa học không chỉ là hành động với các
đồ vật, dụng cụ thí nghiệm mà học sinh còn cần phải biết lập luận, trao đổi với các học sinh khác,
biết viết cho mình và cho người khác hiểu; Dùng tài liệu khoa học để kết thúc quá trình tìm tòi nghiên cứu; Khoa học là một công việc cần sự hợp tác.
Dạy học theo trạm: là cách thức tổ chức dạy học đặt dấu nhấn vào việc tổ chức nội dung dạy
học thành từng nhiệm vụ nhận thức độc lập của các nhóm HS khác nhau. HS có thể thực hiện nhiệm
vụ theo cặp, theo nhóm hoặc hoạt động cá nhân theo một thứ tự linh hoạt
Bước 1: Lựa chọn nội dung hệ thống trạm học tập
Bước 2: Xây dựng nội dung các trạm
các phương pháp dạy học tích cực để phát huy năng lực học sinh còn gặp phải nhiều khó khăn:
+ Về phía giáo viên: Việc vận dụng các phương pháp và kỹ thuật dạy học tích cực còn chưa
mang lại hiệu quả cao. Phương pháp thảo luận nhóm được tổ chức nhưng chủ yếu vẫn dựa vào một
vài cá nhân học sinh tích cực tham gia, các thành viên còn lại còn dựa dẫm, ỉ lại chưa thực sự chủ
động. Mục đích của thảo luận nhóm chưa đạt được tính dân chủ, mọi cá nhân được tự do bày tỏ
quan điểm, thói quen bình đẳng, biết đón nhận quan điểm bất đồng để hình thành quan điểm cá
nhân.Việc đổi mới phương pháp dạy học cũng không được thực hiện một cách triệt để, vẫn còn
nặng về phương pháp truyền thống truyền thụ một chiều. Để thực hiện phương pháp dạy học này
người giáo viên cần mất nhiều thời gian hơn để chuẩn bị cho một tiết học nên việc dạy học theo
định hướng phát triển năng lực học sinh cũng gặp khó khăn.
+ Về phía học sinh: Học sinh chủ yếu là học sinh vùng nông thôn nên việc tiếp cận và tìm
tòi những thông tin thời sự phục vụ cho bài học còn hạn chế. Một số học sinh chưa có phương pháp
học tập phù hợp, chưa tích cực trong việc tìm tòi nghiên cứu bài học. Do đặc thù học sinh ở trường
đa phần là học sinh người dân tộc Mông, Thái, Khơ Mú nên việc giao tiếp và khả năng nhận thức
còn hạn chế, giao tiếp các em còn e dè, chưa tự tin, khả năng sử dụng vốn từ còn ít nên khi thảo
luận nhóm các em còn chưa mạnh dạn… Một số học sinh chưa chăm học, thời gian dành cho việc
học còn ít. Một số phụ huynh cũng chưa thực sự quan tâm đến việc học của con cái. Họ còn có suy
nghĩ phó mặc cho nhà trường, “tất cả nhờ thầy”.
Nhiều nơi trong huyện chưa có mạng, máy tính nên việc học sinh khai thác nguồn thông tin
trên mạng để phục vụ cho bài học còn hạn chế.
- Cơ sở vật chất phục vụ cho hoạt động dạy học chưa đáp ứng tốt cho nhu cầu đổi mới
phương pháp dạy học.
Chuyên đề 8 “Thanh tra kiểm tra và một số hoạt động đảm bảo chất lượng trường THCS” nội
dung cơ bản của chuyên đề là:
“Thanh tra là kiểm tra, xem xét tại chỗ việc làm của địa phương, cơ quan, xí nghiệp”. Trong
cuốn sách “thuật ngữ pháp lý phổ thông” do Nhà xuất bản Pháp lý in năm 1986, định nghĩa thanh
tra được xem là một biện pháp (phương pháp) của kiểm tra. Nhiệm vụ thanh tra được uỷ quyền cho
các cơ quan nhà nước có trách nhiệm. Thanh tra gắn liền với chức năng quản lý nhà nước. Để làm
được nhiệm vụ, Thanh tra có thể dựa vào bộ máy chuyên môn của mình và quần chúng. Cơ quan
Thanh tra có trách nhiệm xem xét các đơn thư khiếu nại, tố cáo để tìm kiếm những biện pháp giải
Nội dung thanh tra chuyên ngành bao gồm:
- Thanh tra chuyên ngành đối với sở giáo dục và đào tạo
- Thanh tra chuyên ngành đối với phòng giáo dục và đào tạo
- Thanh tra chuyên ngành đối với cơ sở giáo dục đại học và trường trung cấp chuyên nghiệp
- Thanh tra chuyên ngành đối với cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông và giáo dục
thường xuyên
- Thanh tra chuyên ngành đối với hoạt động hợp tác đầu tư có yếu tố nước ngoài trong lĩnh
vực giáo dục
- Thanh tra chuyên ngành đối với các tổ chức, cá nhân khác tham gia hoạt động giáo dục
Kiểm tra nội bộ trường học:
KT là một chức năng đích thực của quản lý trường học.
- KT là một công cụ sắc bén góp phần tăng cường hiệu lực quản lý trường học.
- Với đối tượng kiểm tra thì kiểm tra có tác động tới ý thức, hành vi và hoạt động của con
người
- Kiểm tra, đánh giá tốt sẽ dẫn tới tự kiểm tra, đánh giá tốt của đối tượng.
Tạo lập kênh thông tin phản hồi vững chắc, cung cấp thông tin đã được xử lý chính xác để
hiệu trưởng hoạt động quản lý có hiệu quả.
Kiểm soát, phát hiện và phòng ngừa.
Chức năng, động viên, phê phán, uốn nắn, điều chỉnh, giúp đỡ.
Đánh giá và xử lý cần thiết.
- Kiểm tra nhằm giúp cho nhà trường nâng cao hiệu lực và hiệu quả QL và nâng cao chất
lượng GD.
- Kiểm tra nhằm xác nhận thực tiễn, phát huy nhân tố tích cực, phòng ngừa, ngăn chặn các
sai phạm, giúp đỡ đối tượng hoàn thành tốt nhiệm vụ, đồng thời giúp cho nhà QL điều chỉnh hoạt
động QL đúng mục đích.
Nguyên tắc kiểm tra nội bộ trường học
- Hoạt động kiểm tra nội bộ trường học phức tạp, đa dạng: CBQL không thể tiến hành tuỳ
tiện mà cần tuân theo các nguyên tắc chỉ đạo hoạt động kiểm tra nội bộ trường học sau:
+ Nguyên tắc tính pháp chế.
+ Nguyên tắc tính kế hoạch.
+ Khả năng thích ứng với thị trường lao động;
+ Năng lực nghiên cứu và tiềm năng phát triển nghề nghiệp.
Như vậy, quan điểm về chất lượng đào tạo thì có nhiều, nhưng tựu chung lại, chất lượng đào
tạo đều hướng tới mục tiêu đào tạo phấn đấu đạt được của các cơ sở đào tạo.
Căn cứ vào mức độ phát triển quản lý chất lượng, quản lý chất lượng được chia làm ba cấp
độ từ thấp đến cao là:
- Kiểm soát chất lượng (Quality Control),
- Đảm bảo chất lượng (Quality Assurance)
- Quản lý chất lượng tổng thể (Total Quality Management, viết tắt là TQM).
* Kiểm soát chất lượng:
Là hình thức quản lý chất lượng đã được sử dụng lâu đời nhất, được thực hiện ở khâu cuối
cùng trong quá trình sản xuất/đào tạo nhằm phát hiện và loại bỏ toàn bộ hay từng phần sản phẩm
cuối cùng không đạt các chuẩn mực chất lượng
Đảm bảo chất lượng
Đảm bảo chất lượng là cấp độ quản lý chất lượng tiến bộ hơn kiểm soát chất lượng, được
thực hiện trước và trong quá trình sản xuất/đào tạo. Đảm bảo chất lượng nhằm phòng ngừa sự xuất
hiện những sản phẩm có chất lượng thấp.
Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 5814 xác định: Đảm bảo chất lượng là toàn bộ hoạt động có kế
hoạch và hệ thống được tiến hành trong một hệ chất lượng và được chứng minh là đủ sức cần thiết
để tạo sự tin tưởng thoả đáng rằng thực thể (đối tượng) sẽ thoả mãn đầy đủ các yêu cầu chất lượng.
Chuyên đề 9 “Sinh hoạt tổ chuyên môn và công tác bồi dưỡng giáo viên trong trường THCS”
nội dung cơ bản của chuyên đề là:
1. Hoạt động tổ chuyên môn
Tổ chuyên môn là một bộ phận của nhà trường, gồm một nhóm giáo viên (từ 3 người trở
lên) cùng giảng dạy về một môn học hay một nhóm môn học hay một nhóm viên chức làm công tác
thư viện, thiết bị giáo dục, tư vấn học đường... được tổ chức lại để cùng nhau thực hiện các nhiệm
vụ theo mục tiêu, chiến lược của tổ, của nhà trường đề ra.
12
biện pháp thực hiện tốt các công tác giảng dạy, công tác chủ nhiệm trong trường THCS.
Sinh hoạt chuyên môn là hoạt động hết sức quan trọng và là việc làm thường xuyên của mỗi
nhà trường phổ thông, là một trong những hình thức bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho giáo
viên, giúp giáo viên nâng cao năng lực chuyên môn và phương pháp giảng dạy.
Thông qua sinh hoạt chuyên môn sẽ giúp bồi dưỡng phát triển chuyên môn: qua sinh hoạt
chuyên đề, dạy học theo các chủ đề, dạy học theo nghiên cứu bài học, đổi mới phương pháp giảng
dạy bằng việc sử dụng các phương tiện hiện đại ... sẽ giúp người giáo viên nâng cao được tay nghề,
nâng cao được phương pháp giảng dạy. Qua đó giúp người giáo viên củng cố bổ sung thêm các kinh
nghiệm trong giảng dạy.
Cũng thông qua sinh hoạt chuyên môn bằng việc giáo viên tham dự các tiết dạy của chủ đề,
tiết dạy minh hoạ các chuyên đề, nghiên cứu bài học, sinh hoạt các nhóm thảo luận cách ra đề kiểm
tra, tích hợp liên môn trong giảng dạy hay việc kiểm tra giáo án, kiểm tra giờ dạy ... phần nào đó
giúp các giáo viên tính luỹ thêm về kinh nghiệm giảng dạy.
Khái niệm “NCKH sư phạm ứng dụng”
Là một loại hình nghiên cứu trong giáo dục nhằm thực hiện một tác động hoặc một can
thiệp sư phạm và đánh giá ảnh hưởng của nó.
Tác động hoặc can thiệp đó mức độ thể hiện là việc sử dụng pp dạy học, chương trình,
SGK, phương pháp quản lí, chính sách mới của GV, cán bộ QLGD.
Người nghiên cứu (GV, cán bộ quản lí) đánh giá ảnh hưởng của tác động này một cách hệ
thống bằng phương pháp nghiên cứu phù hợp.
Trong chuyên đề 10 “Công tác xây dựng mối quan hệ trong và ngoài nhà trường để nâng
cao chất lượng giáo dục và phát triển trường THCS” cần lưu ý một số vấn đề sau:
Với công tác xây dựng môi trường giáo dục trong và ngoài nhà trường là rất quan trọng để
góp phần nâng cao chất lượng giáo dục.
13
Đối với các mối quan hệ trong nhà trường cần tăng cường hoạt động của các tổ chức đoàn
thể trong nhà trường để xây dựng mối quan hệ tốt đẹp giữa các thành viên. Nhờ đó mỗi tổ
a) Phát triển quan hệ với chính quyền các cấp ở địa phương để phát triển nhà trường;
b) Phát triển quan hệ giữa nhà trường, giáo viên với cộng động để nâng cao chất lượng giáo
dục THCS;
b) Quan hệ phối hợp và trách nhiệm giải trình của nhà trường với cha mẹ học sinh.
c) Phát triển quan hệ với cộng đồng nghề nghiệp và với các cơ sở giáo dục khác;
d) Trường THCS với việc hợp tác, giao lưu trong nước và quốc tế.
B. DỰ KIẾN ÁP DỤNG CÁC KIẾN THỨC ĐÃ TIẾP THU VÀO CÔNG TÁC THỰC TẾ
CỦA TRƯỜNG
Từ các chuyên đề đã học em có những liên hệ:
1.Đối với bản thân:
Bản thân tôi đã tốt nghiệp đại học, đã có 30 năm công tác trực tiếp tham gia công tác giảng
dạy, tôi nhận thấy việc học thêm để nâng cao trình độ và chuyên môn nghiệp vụ là rất cần thiết. Đây
là việc cần phải được các giáo viên làm thường xuyên hàng ngày để theo kịp sự phát triển của zxã
hội, của thế giới, hàng ngày, hàng giờ các thành tựu khoa học trên thế giới liên tục được đổi mới,
cập nhất nếu ta không chịu học hỏi ta sẽ trở thành người lạc hậu, lỗi thời.
Để trang bị cho mình các kiến thức cơ bản và cần thiết bắt kịp sự tiến bộ của thế giới tôi thấy bản
thân tôi và mỗi giáo viên cần phải làm những việc sau đây:
Một là: Luôn trung thành với đường lối của Đảng sự lãnh đạo của nhà nước, tuân thủ và
chấp hành sự phân công của cấp trên. Chấp hành làm thực hiện các chính sánh do ngành và địa
phương đề ra, động viên bạn bè và quần chúng làm theo. Luôn là tấm gương sáng cho học sinh noi
14
theo. Tăng cường đọc báo (báo mạng, báo in, tạp chí, tập san ... trong đó báo mạng là phổ biến) để
cập nhật thông tin.
Hai là: Không ngừng đổi mới phương pháp giảng dạy(thực hiện dạy học theo các chủ để,
thực hiện các chuyên đề, các nghiên cứu bài học ... do tổ , nhà trường và phòng giáo dục đề ra)
Ba là: Tăng cường hơn nữa công tác dự giờ thăm lớp trao đổi kinh nghiệm chuyên môn.
Bốn là: Tham gia các hoạt động văn hoá, văn nghệ, sinh hoạt ngoại khoá do trường và các tổ
Phải lựa chọn đội ngũ giáo viên làm tổ trưởng, tổ phó thực sự có năng lực để làm việc, vì tổ
trưởng, tổ phó là người kế cận, giúp việc cho Ban giám hiệu thực hiện các hoạt động chuyên môn.
Phải xây dựng được nề nếp sinh hoạt chuyên môn để tạo thói quen và nhận thức đầy đủ hơn về tầm
quan trọng của việc sinh hoạt chuyên môn cho giáo viên. Không để buổi sinh hoạt chuyên môn chỉ
nghe triển khai công việc hành chính hoặc góp ý mấy tiết dạy, mà phải làm cho buổi sinh hoạt
chuyên môn thực sự đi vào chiều sâu, đúng nghĩa của nó.
Để buổi sinh hoạt chuyên môn thực sự đi vào chiều sâu, thì tổ trưởng phải xây dựng kế
hoạch cụ thể tuần nào, tháng nào tập trung vào những nội dung gì ( tạm gọi là kế hoạch sinh hoạt
chuyên môn). Những nội dung trong kế hoạch phải trọng tâm, phải thiết thực tập trung vào những
vấn đề như đổi mới phương pháp dạy học, nâng cao chất lượng giảng dạy, quản lý học sinh… Mà
đã được tổ thảo luận, trao đổi thống nhất thực hiện. Muốn tổ chức một buổi sinh hoạt chuyên môn
đem lại hiệu quả cao thì đòi hỏi phải có sự nghiên cứu, chuẩn bị kỹ trước đó để đỡ mất thời gian
trong buổi sinh hoạt. Không những chỉ có người thực hiện chuẩn bị mà tất cả các thành viên trong
tổ đều phải nghiên cứu chuẩn bị Để trách buổi sinh hoạt chuyên môn bị kéo dài thời gian, hoặc
không thống nhất được mục tiêu đề ra đòi hỏi tổ trưởng (người chủ trì) phải định hướng nội dung
trọng tâm cần tập trung thảo luận, trao đổi, góp ý. Không góp ý lan man hoặc lợi dụng sinh hoạt
chuyên môn để hạ bệ lẫn nhau. Tạo điều kiện cho tất cả các thành viên trong tổ đều được trao đổi,
15
học hỏi lẫn nhau. Không nên chỉ có một vài ý kiến tham gia ban đầu rồi sau đó các thành viên còn
lại nói “Tôi cũng đồng ý như ý kiến trên”.
Thời lượng cho sinh hoạt chuyên môn tổ là không có nhiều, thường thì vài tiết hoặc vài
tiếng đồng hồ cho nên cần hạn chế triển khai công việc hành chính hoặc triển khai nhanh gọn trọng
tâm, các nội dung khác đưa lên bảng thông báo. Thời gian còn lại dành cho tập trung trao đổi, thảo
luận, phân tích, góp ý…nội dung chuyên môn.
Một điểm cần lưu ý là lâu nay trong sinh hoạt chuyên môn chúng ta thường chỉ nêu ra các
biện pháp, giải pháp, cách thức… thực hiện của thầy (người dạy) mà chưa chú ý đến việc hoạt động
của trò trong quá trình tiếp thu lĩnh hội kiến thức. Cho nên khi tổ chức góp ý, đánh giá cũng chỉ tập
Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh. Các mối quan hệ trên nếu được thực hiện tốt, chặt chẽ, đồng
bộ thì chắc chắn hoạt động của tổ chuyên môn sẽ đạt hiệu quả tốt hơn/.
b. Đổi mới phương pháp dạy họcnâng cao chất lượng giờ lên lớp bằng cách phối hợp
nhiều phương pháp:
Cải tiến các phương pháp dạy học truyền thống.
Đổi mới phương pháp dạy học không có nghĩa là loại bỏ các phương pháp dạy học truyền
thống như thuyết trình, đàm thoại, luyện tập mà cần bắt đầu bằng việc cải tiến để nâng cao hiệu quả
và hạn chế nhược điểm của chúng. Để nâng cao hiệu quả của các phương pháp dạy học này người
giáo viên trước hết cần nắm vững những yêu cầu và sử dụng thành thạo các kỹ thuật của chúng
trong việc chuẩn bị cũng như tiến hành bài lên lớp, kỹ thuật đặt các câu hỏi và xử lý các câu trả lời
trong đàm thoại, hay kỹ thuật làm mẫu trong luyện tập. Tuy nhiên, các phương pháp dạy học truyền
thống có những hạn chế tất yếu, vì thế bên cạnh các phương pháp dạy học truyền thống cần kết hợp
sử dụng các phương pháp dạy học mới, có thể tăng cường tính tích cực nhận thức của học sinh
trong thuyết trình, đàm thoại theo quan điểm dạy học giải quyết vấn đề.Việc dạy học theo định
16
hướng phát triển năng lực bắt buộc cả giáo viên và học sinh phải có sự chuẩn bị hết sức chu đáo,
học sinh phải chủ động và tích cực hợp tác trong mọi hoạt động.
Yêu cầu giáo viên phải có sự thay đổi về quan điểm, về cách tiếp cận trong việc lựa chọn
phương pháp dạy học, hình thức tổ chức lớp học cũng như thay đổi cách đánh giá học sinh – dạy
học gắn với phát triển năng lực. Muốn làm được điều đó trước hết người giáo viên phải có sự thay
đổi trong cách tiếp cận, phải giúp cho học sinh làm chủ quá trình học tập.
Vận dụng dạy học giải quyết vấn đề.
Dạy học giải quyết vấn đề (dạy học nêu vấn đề, dạy học nhận biết và giải quyết vấn đề) là
quan điểm dạy học nhằm phát triển năng lực tư duy, khả năng nhận biết và giải quyết vấn đề. Học
được đặt trong một tình huống có vấn đề, đó là tình huống chứa đựng mâu thuẫn nhận thức, thông
qua việc giải quyết vấn đề, giúp học sinh lĩnh hội tri thức, kỹ năng và phương pháp nhận thức. Dạy
học giải quyết vấn đề là con đường cơ bản để phát huy tính tích cực nhận thức của học sinh, có thể
học định hướng hành động có ý nghĩa quan trong cho việc thực hiện nguyên lý giáo dục kết hợp lý
thuyết với thực tiễn, tư duy và hành động, nhà trường và xã hội. Dạy học theo dự án là một hình
thức điển hình của dạy học định hướng hành động, trong đó học sinh tự lực thực hiện trong nhóm
một nhiệm vụ học tập phức hợp, gắn với các vấn đề thực tiễn, kết hợp lý thuyết và thực hành, có tạo
ra các sản phẩm có thể công bố. Trong dạy học theo dự án có thể vận dụng nhiều lý thuyết và quan
điểm dạy học hiện đại như lý thuyết kiến tạo, dạy học định hướng học sinh, dạy học hợp tác, dạy
học tích hợp, dạy học khám phá, sáng tạo, dạy học theo tình huống và dạy học định hướng hành
động.
Để dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh có hiệu quả thì mỗi giáo viên phải
tự học tự rèn luyện và phải học hỏi các đồng nghiệp khi tham gia dự giờ, trao đổi rút kinh nghiệm,
tham gia các lớp bồi dưỡng, tập huấn.
Kết hợp đa dạng các phương pháp dạy học.
17
Việc phối hợp đa dạng các phương pháp và hình thức dạy học trong toàn bộ quá trình dạy
học là phương hướng quan trọng để phát huy tính tích cực và nâng cao chất lượng dạy học. Dạy học
toàn lớp, dạy học nhóm, nhóm đôi và dạy học cá thể là những hình thức xã hội của dạy học cần kết
hợp với nhau, mỗi một hình thức có những chức năng riêng. Tình trạng độc tôn của dạy học toàn
lớp và sự lạm dụng phương pháp thuyết trình cần được khắc phục, đặc biệt thông qua làm việc
nhóm. Trong thực tiễn dạy học ở trường trung học hiện nay, nhiều giáo viên đã cải tiến bài lên lớp
theo hướng kết hợp thuyết trình của giáo viên với hình thức làm việc nhóm, góp phần tích cực hoá
hoạt động nhận thức của học sinh. Tuy nhiên hình thức làm việc nhóm rất đa dạng, không chỉ giới
hạn ở việc giải quyết các nhiệm vụ học tập nhỏ xen kẽ trong bài thuyết trình, mà còn có những hình
thức làm việc nhóm giải quyết những nhiệm vụ phức hợp, có thể chiếm một hoặc nhiều tiết học, sử
dụng những phương pháp chuyên biệt như phương pháp đóng vai, nghiên cứu trường hợp, dự án.
Mặt khác, việc bổ sung dạy học toàn lớp bằng làm việc nhóm xen kẽ trong một tiết học mới chỉ cho
thấy rõ việc tích cực hoá “bên ngoài” của học sinh. Muốn đảm bảo việc tích cực hoá “bên trong”
cần chú ý đến mặt bên trong của phương pháp dạy học, vận dụng dạy học giải quyết vấn đề và các
Để thúc đẩy phong trào thi đua và nâng cao chất lượng thì việc thanh kiểm tra nội bộ phải
được làm thường xuyên. Ngay từ đầu năm với sự chỉ đạo của hiệu trưởng các tổ lên kế hoạch kiểm
tra cụ thể cho cả năm học,k từ kế hoạch tổ trưởng, tổ phó và các giáo viên có kinh nghiệm được
tham gia kiểm tra. Hình thức kiểm tra bao gồm:
+ Kiểm tra thường xuyên: (do tổ trưởng và tổ phó thực hiện)
- Kiểm tra việc soạn - giảng hàng tuần vào đầu tuần
- Kiểm tra tiến độ vào điểm trên mạng và sổ điểm cá nhân.
- Kiểm tra giờ dạy: Dự giờ (1 tháng /1lần/1GV)
- Kiểm tra chuyên đề: (Nghiệp vụ sư phạm)
18
+ Kiểm tra đột suất:
- Dự giờ đột suất.
- Kiểm tra đột suất giáo án ...
Qua kiểm tra tổ trưởng sẽ giúp hiệu trưởng, hiệu phó phát hiện ra việc làm đúng, chưa đúng
của các giáo viên để nhắc nhở các giáo viên làm chưa đúng cần chỉnh sửa lại. Những việc làm đúng
cần tuyên dương một cách kịp thời ....
Để khắc phục dần những khó khăn khi thực hiện việc dạy học theo định hướng năng lực học sinh
theo em cần làm một số việc sau:
Kết hợp tốt các phương pháp dạy học truyền thống với các phương pháp dạy học tích cực.
Xác định các phương pháp dạy học theo đặc thù bộ môn bên canh những phương pháp dạy học
truyền thống cần chú ý các phương pháp dạy học tích cực như: phương pháp trực quan, phương
pháp làm việc theo nhóm, phương pháp đóng vai…
Tăng cường sử dụng phương tiện dạy học và CNTT hợp lý hỗ trợ dạy học.
Để ngày càng nâng cao chất lượng, hiệu quả của hoạt động dạy và học theo định hướng phát
triển năng lực học sinh, em có một số đề xuất, kiến nghị sau:
- Sở Giáo dục và Đào tạo, lãnh đạo nhà trường tiếp tục tạo điều kiện thuận lợi để giáo viên
danh nghề nghiệp giáo viên trung học phổ thông công lập.
3.Thông tư 39/2013/TT-BGDĐT ngày 04/12/2013 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc
hướng dẫn thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực giáo dục.
Như vậy qua khóa bồi dưỡng chức danh nghề nghiệp giáo viên THCS hạng II em thấy đây là một
khóa học bổ ích cho mỗi cán bộ giáo viên tham gia học tập.
19
Mỗi cán bộ giáo viên đều học tập và tích lũy cho mình những kiến thức quý
báu từ các chuyên đề và áp dụng trong quản lý nhà trường và trong công tác dạy học
để ngày càng nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo cho địa phương.
20