Pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động sản xuất kinh doanh hóa chất - Pdf 50

HIỂU
ĐÀO CÔNG HIẾU

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
LUẬT KINH TẾ

PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG
HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH HÓA CHẤT

ĐÀO CÔNG HIỂU

2015 - 2017
HÀ NỘI – 2017


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ

PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG
HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH HÓA CHẤT
ĐÀO CÔNG HIỂU
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
MÃ SỐ: 60380107

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ NGỮ VIẾT TẮT
PHẦN MỞ ĐẦU ........................................................................................................ 1
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT,
KINH DOANH HÓA CHẤT VÀ PHÁP LUẬT BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
TRONG HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT, KINH DOANH HÓA CHẤT.................... 6
1. 1. Khái quát về hóa chát và hoạt động sản xuất, kinh doanh hóa chất ............... 6
1.1.1. Hóa chất và những ảnh hưởng bất lợi tới kinh tế, môi trường, sức khỏe
con người. ........................................................................................................... 6
1.1.2. Khái quát về hoạt động sản xuất, kinh doanh hóa chất ............................ 9
1.1.3. Thực trạng bảo vệ môi trường trong sản xuất, kinh doanh hóa chất tại
Việt Nam........................................................................................................... 13
1.2. Khái quát về pháp luật bảo vệ môi trường trong hoạt động sản xuất, kinh
doanh hóa chất ...................................................................................................... 15
1.2.1. Khái niệm và nội dung điều chỉnh của pháp luật bảo vệ môi trường
trong hoạt động sản xuất, kinh doanh hóa chất. ............................................... 15
1.2.2. Vai trò của pháp luật bảo vệ môi trường trong hoạt động sản xuất, kinh
doanh hóa chất. ................................................................................................. 19
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 ........................................................................................ 22
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG
SẢN XUẤT, KINH DOANH HÓA CHẤT TẠI VIỆT NAM.............................. 23
2.1. Các quy định hiện hành về bảo vệ môi trường trong sản xuất, kinh doanh hóa
chất ........................................................................................................................ 23
2.1.1. Các quy định về bảo vệ môi trường đối với các dự án sản xuất, kinh
doanh hóa chất. ................................................................................................. 23
2.1.2. Các quy định về bảo vệ môi trường tại các cơ sở sản xuất, kinh doanh
hóa chất. ............................................................................................................ 25
2.1.3. Các quy định về xử lý vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường trong sản
xuất, kinh doanh hóa chất. ................................................................................ 39



VIẾT TẮT
BCT

:

Bộ Công thương

BLHS

:

Bộ luật Hình sự

BNNPTNT

:

Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn

BTNMT

:

Bộ Tài nguyên môi trường

BVTV

:


Ủy ban nhân dân


PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Hoạt động sản xuất, kinh doanh và sử dụng hóa chất đang phát triển mạnh
trong thời gian gần đây. Hầu hết doanh nghiệp sản xuất trong các ngành công
nghiệp khai thác, công nghiệp chế biến thực phẩm và đồ uống, chế biến thuốc lá,
sản xuất sản phẩm dệt, may mặc, da và giả da... đều sử dụng hóa chất. Qua công tác
kiểm tra thực tế tại các doanh nghiệp đang hoạt động có liên quan đến hóa chất hiện
nay cho thấy, vẫn còn tình trạng một số doanh nghiệp, cơ sở chưa quan tâm công
tác đảm bảo an toàn trong hoạt động hóa chất. Nhiều doanh nghiệp chưa cập nhật
thông tin về phiếu an toàn hóa chất chưa đầy đủ, không có nhãn mác, không sử
dụng bảo hộ lao động trong sản xuất, bố trí kho chưa ngăn nắp…Đặc biệt, việc rò rỉ
các hóa chất độc hại ra môi trường còn làm ô nhiễm nguồn nước, môi trường đất,
không khí, ảnh hưởng xấu đối với sức khỏe con người và các hệ động, thực vật..
Theo Báo cáo Hiện trạng Môi trường Quốc gia năm 2012, tại lưu vực sông
Cầu có nhiều khu công nghiệp, khu chế xuất, các cơ sở sản xuất kinh doanh tập
trung chủ yếu vào các ngành công nghiệp nặng như sản xuất luyện cán thép, giấy,
hóa chất, khai khoáng... Do đó, nước thải thường có hàm lượng TSS, kim loại nặng
và dầu mỡ khá cao, chứa nhiều các chất hữu cơ (BOD5, COD). Nước thải công
nghiệp hình thành do quá trình sử dụng nước trong sản xuất và điều kiện hình thành
nước thải, lưu lượng, thành phần nước thải rất khác nhau. Thành phần và tính chất
của nước thải từ các ngành sản xuất cũng có tác động khác nhau tới chất lượng
nước. Bên cạnh đó, trong hoạt động sản xuất nông nghiệp, người dân thường sử
dụng nhiều loại phân bón để tăng năng suất cây trồng cũng như nhiều loại hóa chất
trừ sâu, diệt cỏ, đây là một trong những nguồn nghiêm trọng gây ô nhiễm nước, đất,
không khí….
Bảo vệ môi trường và sức khỏe con người trước những ảnh hưởng của hoạt
động sản xuất, kinh doanh hóa chất là yêu cầu bức xúc tại Việt Nam hiện nay. Việc

trường trong kinh doanh; một số bài viết của tác giả Vũ Thị Duyên Thủy đăng trên
tạp chí chuyên ngành như: Xây dựng các quy định pháp luật về sản xuất sạch hơn
ở Việt Nam, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật (11/2011) - Viện Nhà nước và pháp
luật; Đánh giá thực trạng pháp luật về sản xuất thuốc bảo vệ thực vật ở Việt Nam,

2


Tạp chí Luật học - Trường Đại học Luật Hà nội (1/2013); Pháp luật về sử dụng, tiêu
hủy thuốc và bao bì thuốc bảo vệ thực vật tại Việt Nam, Tạp chí Dân chủ và Pháp
luật (5/2015) – Bộ Tư pháp… Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu này chỉ đề cập
chung đến khía cạnh pháp lý của quản lý hóa chất hay quản lý thuốc bảo vệ thực vật
- một hoạt động sản xuất, kinh doanh hóa chất mà chưa nghiên cứu một cách tổng
thể về các quy định pháp luật trong lĩnh vực này. Vì vậy, luận văn là công trình đầu
tiên nghiên cứu toàn diện các quy định pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt
động sản xuất, kinh doanh hóa chất tại Việt Nam.
3. Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
3.1. Phương pháp luận nghiên cứu
- Đề tài được nghiên cứu dựa trên quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin và
Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật.
- Phương pháp duy vật biện chứng để xem xét các sự việc, hiện tượng trong
mối quan hệ tương quan với các thành phần và hiện tượng khác.
3.2. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập dữ liệu.
- Phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp, quy nạp, thống kê và đánh giá
dữ liệu, thông tin thu thập được.
- Phương pháp chuyên gia: Tham khảo ý kiến của một số nhà nghiên cứu liên
quan đến quản lý hóa chất, sản xuất kinh doanh hóa chất và pháp luật về bảo vệ môi
trường.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

những kết quả đạt được cũng như những tồn tại, hạn chế;
- Đề xuất phương hướng và các giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo vệ môi
trường trong sản xuất, kinh doanh hóa chất qua thực tiễn thi hành tại Việt nam.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài.
Việc nghiên cứu đề tài: "Pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động sản
xuất, kinh doanh hóa chất." đóng góp những nội dung mới trong hệ thống lý luận về
pháp lý ở Việt Nam và thực tiễn, cụ thể là:
Thứ nhất, đề tài góp phần xây dựng và phát triển hệ thống lý luận khoa học về
pháp luật bảo vệ môi trường trong sản xuất, kinh doanh hóa chất ở Việt Nam.
Thứ hai, mô tả một cách khá toàn diện, đầy đủ các quy định của pháp luật về
bảo vệ môi trường trong sản xuất, kinh doanh hóa chất. Chỉ ra những bất cập, những

4


lỗ hổng trong hệ thống pháp luật này, đánh giá về sự không phù hợp giữa quy định
pháp luật hiện hành với thực tế áp dụng.
Thứ ba, xây dựng quan điểm khoa học và đưa ra các giải pháp về hoàn thiện
pháp luật bảo vệ môi trường trong sản xuất, kinh doanh hóa chất đáp ứng yêu cầu
thực tiễn, phù hợp với các điều ước, thoả thuận quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc
tham gia; đóng góp một số biện pháp nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật trong
thực tiễn.
7. Bố cục của luận văn
Ngoài lời mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luậnvăn bao gồm
3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về hoạt động sản xuất, kinh doanh hóa chất
và pháp luật bảo vệ môi trường trong hoạt động sản xuất, kinh doanh hóa chất.
Chương 2: Thực trạng pháp luật bảo vệ môi trường trong hoạt động sản xuất,
kinh doanh hóa chất tại Việt Nam.
Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo vệ môi

tầng Ozôn.
Hóa chất có rất nhiều lợi ích song cũng tiềm ẩn không ít các nguy cơ. Đa số
hóa chất đều tiềm ẩn các nguy cơ gây cháy nổ. Việc sắp xếp, bảo quản, vận chuyển,

6


sử dụng hóa chất không đúng cách đều có thể dẫn đến tai nạn từ một đám cháy nhỏ
tới tham họa thiệt hại lớn về người và tài sản. Sự cháy cần 3 yếu tố: nhiên liệu (chất
cháy), ôxy và một nguồn nhiệt với tỷ lệ thích hợp. Những yếu tố này phơi ở trong
một tỷ lệ, hoàn cảnh thích hợp trước khi bắt lửa và gây cháy, nhiên liệu bắt đầu
cháy ở một nhiệt độ xác định là điểm chớp cháy. Nổ: hỗn hợp nhiên liệu với ôxy chỉ
nổ khi ở trong giới hạn nhất định về nồng độ. Giới hạn mà ở đó một chất sẽ nổ tính
theo nồng độ so với ôxy (hoặc không khí) được gọi là giới hạn nổ trên và dưới và
thường có trong các tài liệu an toàn hóa chất. Một vài loại khí được đánh giá là
nguy hiểm nổ tức là có khả năng nổ hay kích thích nổ mà không cần có sự tham gia
của ôxy.Giới hạn nổ sẽ thay đổi tùy theo: nhiệt độ của hỗn hợp, tỷ lệ các chất không
cháy, áp lực và nhiều yếu tố khác. Hóa chất có khoang cách giữa giới hạn nổ dưới
và trên càng lớn thì càng nguy hiểm. Bên cạnh đó, sự ăn mòn hóa học cũng có thể
phá hủy dần các kết cấu xây dựng và các dạng vật chất khác như máy móc, thiết bị,
đường ống v.v . có thể gây bỏng, ăn da người và súc vật. Sự ăn mon gây thiệt hại rất
nghiêm trọng về kinh tế.
Trong những năm gần đây, vấn đề được quan tâm ngày càng nhiều là ảnh
hưởng của hóa chất đến sức khỏe con người, đặc biệt là người lao động. Nhiều hóa
chất đã từng được coi là an toàn nhưng nay đã được xác định là có liên quan đến
bệnh tật, từ mẩn ngứa nhẹ đến suy yếu sức khỏe lâu dài và ung thư. Các yếu tố
quyết định mức độ độc hại của hóa chất, bao gồm độc tính, đặc tính vật lý của hóa
chất, trạng thái tiếp xúc, đường xâm nhập vào cơ thể và tính mẫn cảm của cá nhân
và tác hại tổng hợp của các yếu tố này.
Hoá chất có thể ảnh hưởng lên mọi hệ thống của cơ thể người. Nếu hoá chất ở

uống trực tiếp. Các số liệu nghiên cứu chỉ ra rằng năm 2004 trên toàn cầu có 4,9
triệu người chết ( chiếm 8.3%) và 86 triệu năm sống tàn tật quy đổi, gọi là chỉ số
DALY (Disability – Adjusted Life Years) (chiếm 5,7%) do tiếp xúc và quản lý đối
với một số loại hoá chất. Những số liệu này cũng bao gồm cả việc do tiếp xúc nghề
nghiệp và không do nghề nghiệp, ví dụ: khói trong nhà do đốt nhiên liệu rắn, ô
nhiễm không khí ngoài nhà, hút thuốc thụ động khiến lần lượt là 2,0 ; 1,2 và 0,6
triệu người chết mỗi năm. Tiếp xúc với bụi nghề nghiệp, ngộ độc hoá chất cấp tính
và ngộ độc thuốc trừ sâu cũng gây chết, lần lượt là: 375.000; 240.000 và 186.000
người mỗi năm. Nghiên cứu này cũng chỉ dựa vào các số liệu có sẵn trong một số

8


ngành công nghiệp và nông nghiệp. Theo số liệu này, gánh nặng bệnh tật trên toàn
cầu lên tới 1,7% và 2,0% tổng số người lao động chết .
Hoá chất không gây ra tất cả các loại bệnh nghề nghiệp nhưng tiếp xúc với
hoá chất là yếu tố chủ yếu gây nên bệnh nghề nghiệp. Đạt được môi trường làm việc
lành mạnh là phải phòng ngừa được bệnh nghề nghiệp do tiếp xúc hoá chất. Tổ
chức lao động quốc tế ước tính mỗi năm có khoảng 2,34 triệu người lao động chết
vì tai nạn lao động và bệnh liên quan đến nghề nghiệp. Trong số này, khoảng 2,02
triệu là do bệnh nghề nghiệp hoặc liên quan đến nghề nghiệp. Số người chết vì
không liên quan đến nghề nghiệp khoảng 160 triệu người. Ngoài ra, bệnh nghề
nghiệp còn ảnh hưởng không thể tính được đến nạn nhân và gia đình trong đó có cả
những tổn thất về kinh tế đối với doanh nghiệp và xã hội do giảm năng suất lao
động và năng lực làm việc. Ước tính thế giới mất khoảng 4% GDP, tương đương
2,8 tỷ tỷ USD do tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp , kể cả chi phí trực tiếp và
gián tiếp.
Năm 2013 báo cáo của Ngày thế giới về an toàn và sức khoẻ tại nơi làm việc
đề cập đến việc phòng ngừa bệnh nghề nghiệp. Dù rằng trọng tâm không chỉ hạn
chế đối với tiếp xúc hoá chất nhưng chủ đề chính của báo cáo vẫn là an toàn sức

nghiệp, nhất là sản xuất, kinh doanh dệt); phân bón, hoá chất bảo vệ thực vật được
phân bố ở cả các nước phát triển và đang phát triển.
- Phân ngành hoá dầu bao gồm các sản phẩm hoá lọc dầu từ dầu thô như
xăng, dầu hoả, dầu bôi trơn; các loại dược phẩm, mỹ phẩm. Nói chung phân ngành
này tập trung chủ yếu ở các nước phát triển có trình độ kỹ thuật công nghệ cao và
có vốn đầu tư lớn như Hoa Kỳ, Nhật, LB Nga, Anh, Pháp, CHLB Đức…[28]
Hiện nay, sản xuất, kinh doanh hoá chất được coi là ngành mũi nhọn trong hệ
thống các ngành sản xuất, kinh doanh trên thế giới. Hoạt động này có một số đặc
điểm sau:
Thứ nhất: Sản xuất, kinh doanh hoá chất sử dụng nhiều nguồn nguyên liệu
khác nhau.
Sản xuất, kinh doanh hoá chất sử dụng tổng hợp các nguồn nguyên vật liệu
tự nhiên, các phế liệu và chất thải của các ngành sản xuất và đời sống để tạo ra
nhiều sản phẩm mới mà các đặc tính của chúng nhiều khi lại không có trong tự

10


nhiên, góp phần vừa bổ sung cho các nguồn nguyên liệu tự nhiên, vừa có giá trị sử
dụng cao trong đời sống xã hội trên cơ sở sử dụng tài nguyên hợp lý và tiết kiệm
hơn. Sản xuất, kinh doanh hoá chất sử dụng nhiều loại nguyên liệu, khoáng sản, kể
cả phế liệu của các ngành sản xuất khác để chế tạo ra nhiều loại hoá phẩm. Chẳng
hạn như từ muối ăn có thể sản xuất xút và clo, từ vôi và than đá chế tạo ra cacbua
canxi, từ apatít, phôtphoric sản xuất ra phân lân, tận dụng xỉ lò cao để sản xuất
benzen, phênol, hay từ cành, ngọn cây có thể chế ra rượu… Đây cũng là ngành có
nhu cầu rất lớn về nhiên liệu, năng lượng và nguồn nước. (Ví dụ để sản xuất ra 1 tấn
sợi nhân tạo, phải cần từ 7 đến 10 tấn nhiên liệu, 8.000 đến 15.000 kwh điện và từ
1.200 đến 2.000 m3 nước).
Thứ hai: Sản xuất, kinh doanh hoá chất thường được phân bố ở nhiều nơi.
Sản xuất, kinh doanh hoá chất có vai trò quan trọng trong nền kinh tế cũng

Ngành sản xuất, kinh doanh hoá chất Việt Nam bắt đầu được xây dựng trên
quy mô lớn từ năm 1954. Trải qua hơn một thập kỷ phát triển nhanh chóng, công
nghiệp Việt Nam đã trở thành một nhành kinh tế kỹ thuật độc lập. Năm 1969, Nhà
nước đã quyết định thành lập Tổng cục Hóa chất Việt Nam. Những năm 1980 –
1985 sản xuất, kinh doanh hoá chất là một trong những ngành thể hiện rõ tính chủ
đạo của sản xuất, kinh doanh quốc doanh. Các doanh nghiệp nhà nước đảm bảo
70% tổng giá trị sản lượng toàn ngành. Năm 1985, sản xuất, kinh doanh hoá chất
chiếm tỉ trọng cao trong toàn ngành sản xuất, kinh doanh Việt Nam (10,6%). Thời
kỳ đổi mới, từ 1986, sản xuất, kinh doanh hoá chất nước ta phát triển ổn định. Tốc
độ tăng trưởng của ngành cao nhất là thời kỳ 1991-1995, đạt mức 20%/năm, cao
hơn tốc độ tăng trưởng của toàn ngành công nghiệp. Các chuyên ngành chính của
sản xuất, kinh doanh hoá chất Việt Nam là: Phân bón; Hoá chất bảo vệ thực vật;
Hoá chất cơ bản; sản phẩm cao su, nhựa; Chất tẩy rửa; Điện hoá; Sơn, chất dẻo.
Hiện tại, ngành hoá chất được coi là một trong những ngành sản xuất, kinh doanh
mũi nhọn cho giai đoạn đến năm 2010 với tỉ trọng 8,1% tổng giá trị sản xuất của
toàn ngành công nghiệp. Cơ cấu của ngành là hoá chất cơ bản, cao su, thuốc chữa
bệnh dựa trên các thế mạnh về nguyên liệu, cơ sở vật chất- kỹ thuật, nhu cầu thị
trường trong nước và khả năng liên doanh với nước ngoài. Năm 2003, nước ta đã
sản xuất gần 1,3 triệu tấn phân hoá học, gần 400 nghìn tấn xà phòng giặt, trên 18

12


nghìn tấn thuốc trừ sâu, gần 44 nghìn tấn H2SO4, trên 80 nghìn tấn xút
(NaOH)…[10]
1.1.3. Thực trạng bảo vệ môi trường trong sản xuất, kinh doanh hóa chất tại Việt
Nam
Sự phát triển mạnh mẽ của ngành công nghiệp hóa chất đang đặt ra những
thách thức mới về môi trường. Tập đoàn Công nghiệp Hóa chất Việt Nam
(Vinachem), doanh nghiệp chuyên hoạt động trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh

án mở rộng Nhà máy Đạm Hà Bắc... và các công trình cải tạo, nâng cấp, mở rộng
các đơn vị, đều được đặc biệt chú ý đến việc lựa chọn công nghệ ít gây ô nhiễm,
đáp ứng các yêu cầu về môi trường của Việt Nam.
Tuy nhiên, nhìn nhận một cách khách quan, công nghệ và thiết bị sản xuất
trong lĩnh vực hóa chất, phân bón ở nước ta hiện nay mới đạt trình độ trung bình
của khu vực (trừ một số nhà máy mới xây dựng); giá trị của nguyên liệu, nhiên liệu,
năng lượng và công lao động thường chiếm tỷ lệ lớn trong giá thành sản phẩm xuất
xưởng. Nhiều dây chuyền sản xuất vẫn còn sử dụng công nghệ và thiết bị cũ, lạc
hậu, khiến tỷ lệ sử dụng nhân công cao, hiệu suất sử dụng năng lượng thấp. Mặt
khác, kỹ thuật xử lý môi trường ở Việt Nam đôi khi vẫn chưa theo kịp với nhu cầu
phát triển của ngành hóa chất. Các dây chuyền sản xuất hoá chất hoặc có sử dụng
hoặc thiếu nhiều trang bị an toàn. Công nghệ sản xuất sạch hơn trong sản xuất hoá
chất còn chưa được áp dụng rộng rãi. Nhiều hoá chất độc hại trong dây chuyền chưa
được thay thế. Các cơ sở sản xuất còn thiếu hệ thống xử lý chất thải.
Theo số liệu điều tra của Bộ Công Thương Việt Nam và cơ quan hợp tác
quốc tế nhật bản (JICA) cả nước có 3.311 nhà máy đã được xác định là nguyên
nhân gây ô nhiễm môi trường. Đa số các cơ sở đóng tại khu vực dân cư. Các nguồn
gây ô nhiễm phân bố ở các ngành sản xuất, kinh doanh thực phẩm, hoá chất, vật liệu
xây dựng. Trong đó, sản xuất, kinh doanh hoá chất chiếm tỉ lệ khá cao, 432 nhà máy
(chiến 12,3%). Trong những năm qua, nhiều sự cố môi trường do rò rỉ hoá chất đã
xảy ra. Nổi bật là vụ rò rỉ khí mêtan ngày 11/01/1999 ở mỏ than Mạo Khê, Quảng
Ninh làm 19 người chết, 12 người bị thương; hay vụ ngạt khí mêtan ngày
06/07/2000 tại công ty thủy sản Cam Ranh, Khánh Hoà làm 4 người chết [10]. Vấn
đề môi trường ở các nhà máy sản xuất hoá chất thường xuyên được đặt ra. Tại mỗi

14


nhà máy cần có những đánh giá tình trạng môi trường và hiệu quả của những biện
pháp kiểm soát môi trường tại cơ sở.

Pháp luật bảo vệ môi trường trong hoạt động sản xuất, kinh doanh hóa chất
là một lĩnh vực pháp luật bao gồm tổng thể các quy phạm pháp luật do Nhà nước
ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh có liên quan đến hoạt động
bảo vệ môi trường trong quá trình tiến hành các hoạt động sản xuất, kinh doanh hóa
chất. Đối tượng điều chỉnh của lĩnh vực pháp luật bảo vệ môi trường trong hoạt
động sản xuất, kinh doanh hóa chất gồm các nhóm quan hệ xã hội liên quan đến
hoạt động bảo vệ môi trường trong hoạt động sản xuất, kinh doanh hóa chất của các
chủ thể trong xã hội như: Các quy phạm pháp luật về đảm bảo an toàn trong sản
xuất, kinh doanh hóa chất; các quy định về phòng ngừa ô nhiễm môi trường trong
sản xuất kinh doanh hóa chất; các quy định về khắc phục sự cố hóa chất. Bên cạnh
đó pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động sản xuất, kinh doanh hóa chất
còn quy định rất cụ thể về các nguyên tắc bảo vệ môi trường trong hoạt động sản
xuất, kinh doanh hóa chất, quyền và nghĩa vụ của nhà nước về bảo vệ môi trường
trong hoạt động sản xuất, kinh doanh hóa chất…
Các chủ thể đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ môi trường trong hoạt
động sản xuất, kinh doanh hóa chất gồm Nhà nước và các tổ chức, cá nhân tiến
hành hoạt động sản xuất, kinh doanh hóa chất. Nhà nước có tư cách là chủ thể đặc
biệt thực hiện việc quản lý môi trường trong hoạt động sản xuất, kinh doanh hóa
chất, ban hành các quy định pháp luật để điều chỉnh các quan hệ xã hội liên quan
đến quản lý môi trường trong hoạt động sản xuất, kinh doanh hóa chất, tổ chức thực
hiện các quy định pháp luật và bảo đảm cho các quy định pháp luật đó được thực thi
hiệu quả. Các chủ thể khác được Nhà nước cho phép thực hiện các hoạt động sản
xuất, kinh doanh hóa chất như: Các tổ chức, cá nhân sản xuất thuốc bảo vệ thực vật
hay các loại hóa chất cơ bản, các tổ chức xuất, nhập khẩu hóa chất hay các tổ chức
cá nhân buôn bán hóa chất.
Phương pháp điều chỉnh pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ môi trường trong
hoạt động sản xuất, kinh doanh hóa chất là sự kết hợp giữa phương pháp mệnh lệnh,
phương pháp thỏa thuận và phương pháp hướng dẫn. Phương pháp mệnh lệnh được
sử dụng để điều chỉnh các quan hệ quản lý môi trường, xử phạt vi phạm pháp luật


sản xuất, kinh doanh hóa chất.

17


Để phòng ngừa ô nhiễm môi trường trong quá trình hoạt động của các cơ sở
sản xuất, kinh doanh hóa chất, Các quy định về phòng ngừa và kiểm soát ô nhiễm
môi trường thường điều chỉnh các vấn đề như:
+ Vấn đề đảm bảo an toàn hóa chất tại các cơ sở sản xuất, kinh doanh hóa
chất: yêu cầu về cơ sở vật chất - kỹ thuật trong sản xuất, kinh doanh hóa chất; yêu
cầu về chuyên môn trong sản xuất, kinh doanh hóa chất;yêu cầu trong cất giữ, bảo
quản hóa chất nguy hiểm trong sản xuất, kinh doanh hóa chất; yêu cầu về khoảng
cách an toàn đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh hóa chất nguy hiểm( Địa điểm sản
xuất, kho chứa hóa chất nguy hiểm của cơ sở sản xuất, kinh doanh hóa chất phải
bảo đảm khoảng cách an toàn đối với khu dân cư, công trình công cộng, di tích lịch
sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh, khu bảo tồn đa dạng sinh học, nguồn nước sinh
hoạt...)
+ Vấn đề quản lý chất thải tại các cơ sở sản xuất, kinh doanh hóa chất. Thông
thường các cơ sở sản xuất kinh doanh hóa chất sẽ thực hiện quản lý chất thải theo
yêu cầu chung của pháp luật quản lý chất thải, giống như các cơ sở sản xuát, kinh
doanh trong các lĩnh vực khác. Đó là các yêu cầu riêng đói với quản lý chất thải
thông thường và các yêu cầu nghiêm ngặt đối với chất thải nguy hại.
+ Các quy định riêng về điều kiện được sản xuất, kinh doanh hóa chất thuộc
danh mục sản xuất kinh doanh có điều kiện trong một số ngành, lĩnh vực đặc thù. Vi
dụ như ngành y tế, ngành công nghiệp, ngành thú y…
- Các quy định pháp luật về phòng ngừa, ứng phó sự cố môi trường tại các
cơ sở sản xuất, kinh doanh hóa chất. Hóa chất là một trong những lĩnh vực tiền ẩn
rất nhiều nguy cơ cao gây sự cố. Mặc dù sự cố hóa chất không hoàn toàn đồng nhất
với sự cố môi trường nhưng phần lớn các sự cố hóa chất là sự cố môi trường vì hậu
quả của nó thường gây ô nhiễm, suy thoái và biến đổi môi trường nghiêm trọng. Vì


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status