NGUYỄN VĂN ĐẠI
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
LUẬT KINH TẾ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
THỎA THUẬN TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI QUỐC
TẾ THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
NGUYỄN VĂN ĐẠI
2015 - 2017
HÀ NỘI – 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
THỎA THUẬN TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
NGUYỄN VĂN ĐẠI
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận
văn thạc sĩ.
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến gia đình, bạn bè, đồng nghiệp
đã luôn ở cạnh động viên và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện đề
tài nghiên cứu của mình.
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong hội đồng chấm
luận văn đã cho tôi những đóng góp quý báu để hoàn chỉnh luận văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 29 tháng 9 năm 2017
Tác giả
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU………………………………………………………………..….…...1
1. Tính cấp thiết của đề tài……………………………………………..…...1
2. Tình hình nghiên cứu đề tài………………………………………………2
3. Phạm vi nghiên cứu của đề tài……………………………………………4
4. Mục đích của việc nghiên cứu đề tài………………………………….…..4
5. Phương pháp nghiên cứu đề tài…………………………………….…….5
6. Những kết quả nghiên cứu mới của luận văn..…………………………..5
1. Kết cấu của luận văn..……………………………………………..………6
Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ THỎA THUẬN TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI
QUỐC TẾ.............................................................................................................7
1.1 Khái quát về trọng tài thương mại quốc tế .................................................7
1.1.1 Khái niệm trọng tài thương mại quốc tế...................................................8
1.1.2 Đặc điểm của trọng tài thương mại quốc tế...........................................15
1.1.3 Các loại trọng tài thương mại quốc tế........................ ...........................16
1.2 Khái quát về thỏa thuận trọng tài thương mại quốc tế............................19
3.2 Thực tiễn hoạt động xây dựng thỏa thuận trọng tài thương mại quốc tế
của các Doanh nghiệp ở Việt Nam…………………………………………..77
3.3 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thi hành các quy định về thỏa
thuận trọng tài thương mại quốc tế tại Việt Nam…………...……………....79
3.3.1 Sự cần thiết nâng cao hiệu quả thi hành các quy định của pháp luật Việt
Nam về thỏa thuận trọng tài thương mại quốc tế………….………………..….79
3.3.2 Phương hướng hoàn thiện các quy định của pháp luật Việt Nam về thỏa
thuận trọng tài thương mại quốc tế....................................................................80
3.3.3 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thi hành các quy định về thỏa
thuận trọng tài thương mại quốc tế…………………………………………..…82
3.3.3.1 Giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về thỏa thuận trọng tài
thương mại quốc tế………………………………...……………………….…..82
3.3.3.2 Một số giải pháp khác nhắm nâng cao hiệu quả thi hành các quy định
của pháp luật Việt Nam về thỏa thuận trọng tài thương mại quốc tế……..….…84
KẾT LUẬN………………………...…………………………………..………86
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO…………………………..……...….88
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ADR
: Phương thức giải quyết tranh chấp lựa chọn
TTTT 2010
: Trọng tài Thương mại
PLTTTM 2003
Hiệp định thương mại tự do đa phần trong đó đều có điều khoản giải quyết tranh
chấp đầu tư bằng trọng tài. Bên cạnh những đóng góp trong sự tăng trưởng nền
kinh tế, những công ước, hiệp định này đảm bảo rằng các doanh nghiệp trong
nước sẽ phải làm quen với “văn hóa” sử dụng trọng tài như là phương thức giải
quyết tranh chấp tối ưu của đối tác, nhà đầu tư nước ngoài. Việt Nam nằm trong
khu vực Châu Á – Thái Bình Dương với rất nhiều các quốc gia xây dựng luật
trọng tài của mình dựa trên Luật Mẫu UNCITRAL, đồng thời cũng là khu vực có
nhu cầu sử dụng dịch vụ trọng tài ngày càng tăng như là một hệ quả của việc
tăng cường đầu tư và các hoạt động thương mại quốc tế.
Tuy vậy, thời gian vừa qua, các doanh nghiệp Việt Nam vẫn còn dè dặt
khi chọn trọng tài thương mại quốc tế để giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực
thương mại quốc tế, một mặt do hiểu biết còn hạn chế, mặt khác do hệ thống
pháp luật về trọng tài thương mại Việt Nam còn một số bất cập làm giảm tính
hấp dẫn của phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại quốc
tế. Những doanh nghiệp lựa chọn trọng tài thì chưa đánh giá đúng vai trò của
thỏa thuận trọng tài thương mại quốc tế nên trong quá trình soạn thảo, ký kết
thỏa thuận trọng tài thương mại quốc tế còn nhiều thiếu sót dẫn đến những tranh
chấp không đáng có sau này. Thỏa thuận trọng tài thương mại quốc tế là yếu tố
cơ bản cần thiết, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ hoạt động trọng tài thương mại
quốc tế kể từ lúc khởi đầu trọng tài cho đến khi công nhận và cho thi hành phán
quyết trọng tài thương mại quốc tế. Hiệu quả của hoạt động tố tụng trọng tài phụ
thuộc một phần không nhỏ vào thỏa thuận trọng tài. Sự cần thiết hoàn thiện các
chế định pháp lý về thỏa thuận trọng tài thương mại quốc tế theo đó cũng là một
yếu tố tất yếu và là hạt nhân quan trọng trong việc hoàn thiện hành lang pháp lý
về trọng tài thương mại quốc tế.
Nhận thức được tầm quan trọng của thỏa thuận trọng tài thương mại quốc
tế, tác giả thấy cần phải có một công trình nghiên cứu về lĩnh vực trọng tài
thương mại quốc tế trong đó tập chung chủ yếu vào chuyên đề thỏa thuận trọng
thương mại quốc tế bằng trọng tài ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế
quốc tế”;
Hoàng Linh (2009), Khóa luận tốt nghiệp “Tìm hiểu một số vấn đề pháp lý
về thỏa thuận trọng tài”;
Trần Thị Ngọc Anh (2011), Khóa luận tốt nghiệp “Thỏa thuận trọng tài
thương mại quốc tế và quy định của pháp luật Việt Nam về thỏa thuận trọng tài
ở Việt Nam”.
Các công trình trên đây dù nghiên cứu ở các mức độ khác nhau về thỏa thuận
trọng tài thương mại nhưng đã góp phần tạo dựng nên hệ thống cơ sở lý luận và
thực tiễn cho việc nghiên cứu sau này. Tuy nhiên, thỏa thuận trọng tài thương mại
quốc tế là thỏa thuận trọng tài thương mại mang yếu tố quốc tế, vượt qua biên giới
quốc gia, thuộc phạm vi điều chỉnh của tư pháp quốc tế, không phải là thỏa thuận
trọng tài trong phạm vi thuần túy quốc gia. Do đó, trong số các công trình nghiên
cứu khoa học đã được liệt kê ở trên thì chưa có công trình nghiên cứu nào nghiên
cứu thật sự đầy đủ, toàn diện về thỏa thuận trọng tài thương mại quốc tế the pháp
luật Việt Nam hiện hành. Trong bối cảnh Pháp luật về trọng tài thương mại quốc
tế đã có sự thay đổi, Luật TTTM 2010 đã có hiệu lực được hơn 6 năm và đã bộc
lộ một số hạn chế qua thực tiễn thi hành, Luận văn này, tác giả nghiên cứu, đánh
giá chi tiết về thỏa thuận trọng tài thương mại quốc tế trên cơ sở tìm hiểu, so
sánh với pháp luật một số quốc gia trên thế giới nhằm thấy được những điểm
tích cực cũng như hạn chế các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành về thỏa
thuận trọng tài thương mại quốc tế, từ đó đề xuất giải pháp hoàn thiện nhằm
nâng cao việc thực thi pháp luật trọng tài thương mại nói chung, pháp luật về
thỏa thuận trọng tài thương mại quốc tế nói riêng.
3. Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Luận văn tập trung nghiên cứu các quy định của pháp luật Việt Nam hiện
hành về thỏa thuận trọng tài thương mại quốc tế, bao gồm: hiệu lực của thỏa
Minh về Nhà nước và pháp luật; quán triệt đường lối chủ trương chính sách của
Đảng và Nhà nước ta về hoàn thiện hệ thống pháp luật luật đáp ứng yêu cầu hội
nhập kinh tế. Các phương pháp cụ thể bao gồm: phương pháp thu thập, phân
tích, liệt kê, tổng hợp các tài liệu, phương pháp diễn giải, quy nạp và phương
pháp so sánh.
6. Những kết quả nghiên cứu mới của luận văn
Thứ nhất, làm sáng tỏ hơn những vấn đề lý luận về thỏa thuận trọng tài
thương mại quốc tế.
Thứ hai, phân tích đánh giá những quy định của pháp luật trọng tài Việt
Nam về thỏa thuận trọng tài thương mại quốc tế, so sánh với các Điều ước quốc
tế và pháp luật của một số quốc gia trên thế giới về vấn đề này. Từ đó rút ra
những hạn chế, bất cập của pháp luật Việt Nam về vấn đề này.
Thứ ba, nêu nguyên nhân, yêu cầu, đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật
và thực thi có hiệu quả các quy định về thỏa thuận trọng tài thương mại quốc tế
theo pháp luật trọng tài Việt Nam hiện hành.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài Phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
luận văn bao gồm 3 chương:
Chương 1: Khái quát về thỏa thuận trọng tài thương mại quốc tế
Chương 2: Quy định của pháp luật Việt Nam về thỏa thuận trọng tài
thương mại quốc tế.
Chương 3: Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thi hành các quy định
của pháp luật Việt Nam về thỏa thuận trọng tài thương mại quốc tế
Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ THỎA THUẬN TRỌNG
TÀI THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
tổ chức trọng tài quốc tế để giải quyết các tranh chấp phát sinh trong các hợp
đồng thương mại quốc tế. Tầm quan trọng của việc giải quyết tranh chấp bằng
trọng tài ngày càng được thừa nhận rộng rãi, đặc biệt là trong các thập kỷ gần
đây. Các quốc gia sửa đổi luật pháp về trọng tài cho phù hợp với tình hình
thực tế; các điều ước quốc tế về trọng tài đang có thêm những thành viên mới;
trọng tài trở thành một môn học trong chương trình đào tạo ngành luật; các
doanh nghiệp ngày càng tin tưởng vào một phương thức giải quyết tranh chấp
linh hoạt, công bằng, với phán quyết được công nhận rộng rãi trên phạm vi
thế giới.
Ngày nay, ở tất cả các nước trên thế giới, trọng tài là một cơ chế giải
quyết tranh chấp độc lập và ngày càng được sử dụng rộng rãi trong thực tiễn xét
xử quốc tế, đặc biệt là trong lĩnh vực quan hệ kinh tế quốc tế.
1.1.1. Khái niệm trọng tài thương mại quốc tế
Trọng tài thương mại quốc tế là một trong những hình thức giải quyết
tranh chấp phổ biến hiện nay trên thế giới. Trọng tài thương mại quốc tế trước
hết nó mang những đặc điểm chung của một trọng tài. Để tìm hiểu trọng tài
thương mại quốc tế là gì, trước hết cần nắm được khái niệm về trọng tài?
Cũng như các thuật ngữ khoa học pháp lý khác, khái niệm “Trọng tài”
được đề cập nhiều trong luật quốc tế, được nghiên cứu trên rất nhiều bình diện
khác nhau cũng như nhiều cách tiếp cận trong khoa học pháp lý.
Định nghĩa sớm nhất về trọng tài được nêu trong Công ước La-Hay năm
1899, theo đó: “Trọng tài là nhằm để giải quyết những bất đồng giữa các bên thông
qua một người thứ ba do chính các bên lựa chọn trên cơ sở tôn trọng luật pháp”.
Công ước La-Hay 1907 quy định: “Trọng tài quốc tế có đối tượng giải quyết
là những tranh chấp giữa các quốc gia qua sự can thiệp của những trọng tài viên
do các quốc gia tranh chấp tự chọn và đặt trên cơ sở của sự tôn trọng luật pháp”.
Trong tác phẩm kinh điển của một số học giả nổi tiếng, theo Okezie
Chukwumerije: “Trọng tài là một cơ chế giải quyết tranh chấp giữa các bên với
nhau, được thực hiện thông qua một cá nhân do các bên lựa chọn hoặc bởi việc
2
Markhuleatt – James and Nicolas gouldv (1996), International commercial arbitration: A hand book, LLP
London – New York – Hong Kong.,trang.3
3
Liên Hợp quốc (1985), Đạo luật mẫu về thương mại quốc tế về Luật thương mại quốc tế
4
Arbitration act of korea
5
Luận văn thạc sỹ luật học Trần Phương Chi, Luật áp dụng trong trọng tài thương mại quốc tế theo PL VN
hiện hành,2014, trang 5
Thứ nhất: Quá trình giải quyết tranh chấp bằng trọng tài diễn ra trên cơ
sở thỏa thuận trọng tài được thiết lập bởi các bên tranh chấp.
Thứ hai: Thủ tục trọng tài được xác định bởi các bên và thường là một thủ
tục xét xử kín được điều khiển bởi Hội đồng trọng tài ba người hoặc một người.
Thứ ba: Quyết định của trọng tài về vụ tranh chấp có giá trị bắt buộc các bên
phải thực hiện. [6]
Vậy “Trọng tài thương mại quốc tế” được hiểu như thế nào? Trọng tài
thương mại quốc tế mang những đặc điểm chung của một trọng tài. Nhưng một
trọng tài chỉ được coi là trọng tài thương mại quốc tế nếu nó chứa đững cả hai
yếu tố “thương mại” và yếu tố “quốc tế”.
Ở Việt Nam, hiện chưa có văn bản nào quy định rõ ràng thế nào là trọng
tài thương mại quốc tế. Từ định nghĩa của Luật Thương mại 2005 về trọng tài
thương mại có thể hiểu: Trọng tài thương mại quốc tế phải chứa đựng cả hai yếu
tố “thương mại” và yếu tố “quốc tế”.
a) Về tính “thương mại”
Yếu tố “thương mại” là yếu tố quan trọng khi tìm hiểu về khái niệm trọng
tài thương mại quốc tế bởi trọng tài thương mại quốc tế chỉ giải quyết các tranh
chấp phát sinh trong hoạt động thương mại. Thực tế hiện nay, trên bình diện
Bên cạnh đó, các quốc gia cũng có những định nghĩa khác nhau về “thương
mại”. Bộ luật thương mại Cộng hòa Pháp hiện hành không đưa ra bất kỳ định
nghĩa nào về “thương mại” nhưng tại Điều L110-1 đã liệt kê khá nhiều hành vi
thương mại được thể hiện bởi các thương nhân, bao gồm: mua bán hàng hóa để
bán lại, mua bán bất động sản để bán lại, mọi hoạt động trung gian về mua, thuê
hoặc bán công trình xây dựng, cho thuê tài sản….Bộ luật thương mại số 48 của
Nhật Bản năm 1899 quy định thuật ngữ thương mại được đùng để chỉ những
hoạt động mua bán nhằm mục đích lợi nhuận và hầu hết các dịch vụ trên thị
trường như dịch vụ vận tải, cung ứng điện hay khí đốt, ủy thác, bảo hiểm, ngân
hàng… [8]
7
Alan Redfern và Martin Hunter (2004), Pháp luật và thực tiến trọng tài thương mại quốc tế, Trung tâm
thương mại và công nghiệp Việt Nam (dịch và hiệu đính), Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam.
8
Nguyễn Thị Tuyết Nhung (2012), Luật áp dụng trong trọng tài thương mại quốc tế theo quy định của pháp
luật Việt Nam hiện hành, Khóa luận tốt nghiệp, trang 9.
Hiện nay, ngày càng có nhiều quốc gia mở rộng phạm vi giải quyết của trọng tài
không chỉ đối với các tranh chấp thương mại mà còn đối với các quan hệ có tính
chất dân sự. Một số quốc gia như Anh, Mỹ, Nhật, Thụy Điển, Trung Quốc ….khi
ban hành đạo luật trọng tài mới đã mở rộng thẩm quyền của trọng tài, theo đó
trọng tài không chỉ giải quyết các tranh chấp thương mại truyền thống mà còn có
thể giải quyết các tranh chấp về lao động và dân sự khác trừ các tranh chấp bắt
nguồn từ những quan hệ liên quan đến lợi ích công và trật tự công. [9]
Ở Việt Nam, Luật Thương mại Việt Nam năm 2005 giải thích hoạt động
Một sự giải thích cho thuật ngữ “trọng tài quốc tế” cũng được tìm thấy
tại Điều 1492 của Bộ luật tố tụng dân sự Cộng hòa Pháp (có hiệu lực từ ngày
14/5/1981), theo đó, trọng tài quốc tế được hiểu đơn giản là trọng tài giải quyết
tranh chấp quyền lợi trong thương mại quốc tế.
Những định nghĩa trên đều đề cập đến bản chất quốc tế của tranh chấp, tuy
nhiên nó mang nghĩa khá rộng, nhưng có thể hiểu những tranh chấp sẽ mang bản
chất quốc tế nếu liên quan tới bất kì yếu tố nước ngoài nào như: nơi giao kết hợp
đồng ở nước ngoài, nơi thực hiện hợp đồng ở nước ngoài, đối tượng hợp đồng
nằm ở nước ngoài…
- Về căn cứ vào đặc điểm của chủ thể tham gia tranh chấp:
Yếu tố này thường được xác định dựa vào hai dấu hiệu chính, đó là quốc
tịch của chủ thể hoặc trụ sở thương mại của các chủ thể hay nơi cư trú thường
xuyên của họ. Cách tiếp cận này đã được ghi nhận trong Điều I.1(a) Công ước
Châu Âu 1961 về Trọng tài thương mại quốc tế:
“Công ước này sẽ được áp dụng với:
(a) Thỏa thuận trọng tài được kí kết với mục đích giải quyết tranh chấp phát
sinh từ thương mại quốc tế giữa các cá nhân hoặc pháp nhân có nơi cư trú
thường xuyên hoặc trụ sở ở các nước ký kết khác nhau…”
Pháp luật Thụy Sĩ cũng có quy định về việc xác định quốc tịch của các
bên chủ thể tham gia tranh chấp có phải là “quốc tế ” hay không được quy định
tại Điều 176(1) Đạo luật Tư pháp quốc tế của Liên bang Thụy Sĩ. Theo đó thì
trọng tài là “quốc tế” khi vào thời điểm thỏa thuận trọng tài được xác lập, ít nhất
có một bên trong thỏa thuận không thường trú hoặc sinh sống thường xuyên ở
Thụy Sĩ .
Với vai trò là văn bản được xây dựng chuyên áp dụng đối với trọng tài
thương mại quốc tế, định nghĩa về thuật ngữ “quốc tế” có ý nghĩa quan trọng
trong Luật mẫu của UNCITRAL. Ngoài việc sử dụng riêng lẻ từng yếu tố hoặc
là bản chất của tranh chấp, hoặc là đặc điểm của chủ thể tranh chấp thì Luật Mẫu
bản sau:
Thứ nhất, trọng tài thương mại quốc tế là một cơ quan tài phán tư: Mặc
dù Tòa án và trọng tài có điểm giống là cùng mang tính chất tài phán tuy nhiên
điểm khác biệt cơ bản là trọng tài mang tính chất “quyền lực tư”. Trọng tài chỉ
có thẩm quyền xem xét, giải quyết khi có sự thỏa thuận của các bên tranh chấp
còn xét xử của Tòa án là đại diện cho quyền lực công. Tòa án có thẩm quyền giải
quyết đương nhiên theo luật định đối với các vụ tranh chấp phát sinh trong các
lĩnh vực nếu các bên không có thỏa thuận khác. [12]
Thứ hai, hoạt động giải quyết tranh chấp của trọng tài thương mại quốc tế
mang tính chất tài phán, có nghĩa là trọng tài được quyền đưa ra phán xét cuối
cùng để giải quyết tranh chấp và phán quyết này có giá trị bắt buộc đối với các
bên; trường hợp các bên không tự nguyện thì hành phán quyết trọng tài thì sẽ bị
cưỡng chế thi hành. Điều này làm cho trọng tài hoàn toàn khác với phương thức
thương lượng hay trung gian hòa giải. Trong phương thức thương lượng hay
trung gian hòa giải, các bên tranh chấp phải tự bàn bạc, thỏa thuận để thống nhất
phương án giải quyết tranh chấp bất đồng giữa họ và tự nguyện thực hiện
phương án đó.
Thứ ba, lựa chọn trọng tài thương mại quốc tế để giải quyết tranh chấp
thương mại quốc tế nhằm đảm bảo bí mật cho các nhà kinh doanh tham gia vào
tranh chấp. Các nhà kinh doanh luôn mong muốn rằng tranh chấp liên quan đến
bí mật thương mại cũng như công việc kinh doanh của họ được giữ bí mật bởi
nếu những yếu tố đó của họ nếu bị xét xử dưới sự theo dõi của công luận sẽ ảnh
hưởng tới công việc kinh doanh tương lai của họ. Nếu như với Tòa án chỉ dựa
vào trình tự tố tụng đã được quy định trong pháp luật quốc gia, xét xử và đưa
phán quyết về vụ việc một cách công khai thì với phương thức giải quyết tranh
12
Luận văn thạc sĩ luật học – Phạm Chí Dũng, khoa Luật đại học quốc gia HN, Thẩm quyền giải quyết
tranh chấp của trọng tài theo pháp luật một số nước trong khu vực Châu Á và kinh nghiệm đối với Việt
Nam, trang 22
* Trọng tài vụ việc (ad hoc arbitration)
Trọng tài vụ việc là loại hình trọng tài do các bên tranh chấp tự thành lập
để giải quyết vấn đề họ yêu cầu, sau khi giải quyết xong vụ tranh chấp thì hội
đồng trọng tài tự giải tán (ad-hoc tiếng Latin có nghĩa là dùng cho việc này, cho
thời gian này). Trong quá trình giải quyết tranh chấp, trọng tài vụ việc có thể
13
Trường Đại học Luật Hà Nội (2008), Giáo trình tư pháp quốc tế, Nxb Tư pháp.
được tiến hành theo quy tắc tố tụng của tổ chức trọng tài quy chế hoặc không
theo quy tắc của tổ chức trọng tài nào mà thủ tục tố tụng do các bên tự quy ước
với nhau. Đặc điểm của hình thức trọng tài này là không có trụ sở cố định, không
lệ thuộc vào bất kì quy tắc nào.
Về ưu điểm: ưu điểm của trọng tài Ad-hoc là thủ tục giải quyết rất gọn
nhẹ và linh hoạt, thời gian xét xử ngắn, hai bên dễ dàng đi đến thỏa thuận chung,
ít chi phí. Hơn nữa, quy trình giải quyết bí mật là điều được các thương nhân
quan tâm.
Về nhược điểm: nhược điểm của trọng tài Ad-hoc đó là nó phụ thuộc rất
lớn vào sự hợp tác của các bên, vì không có quy tắc tố tụng riêng nên nó phụ
thuộc vào hệ thống pháp luật nơi xét xử của trọng tài; Trong trọng tài vụ việc,
không có tổ chức nào giám sát việc tiến hành tố tụng trọng tài và giám sát các
trọng tài viên, do đó, kết quả phần lớn phụ thuộc vào năng lực của các trọng tại
viên mà hai bên đã thống nhất lựa chọn. Vì không có biểu phí có định như trong
Trọng tài thường trực, các bên phải thỏa thuận trực tiếp về vấn đề phí với Trọng
tài viên, các bên có thể phải thỏa thuận trả thù lao theo giờ, hay theo ngày làm
việc, việc đó dẫn tới có thể thù lao, chi phí cuối cùng sẽ còn cao hơn chi phí mà
các bên phải trả nếu đưa tranh chấp tới một tổ chức trọng tài.
Ở Việt Nam, trước đây chưa có quy định cụ thể về hình thức trọng tài đặc
biệt này, tuy nhiên kể từ khi Pháp lệnh trọng tài thương mại 2003 (Điều 26) có
Đôn LCIA). [14]
Ở Việt Nam, Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam bên cạnh Phòng
Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VIAC) được thành lập theo quyết định
số 204/TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 28/4/1993, trên cơ sở hợp nhất Hội
đồng trọng tài hàng Hải và Hội đồng trọng tài ngoại thương. VIAC có nhiệm vụ
xét xử các tranh chấp phát sinh từ quan hệ kinh tế quốc tế và từ ngày 15/4/1996,
Trung tâm được phép mở rộng thẩm quyền giải quyết các tranh chấp phát sinh
14
Luân văn thạc sĩ luật học – Phạm Chí Dũng, khoa Luật đại học quốc gia HN, Thẩm quyền giải quyết tranh
chấp của trọng tài theo pháp luật một số nước trong khu vực Châu Á và kinh nghiệm đối với Việt Nam, tr13.