BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƢ PHÁP
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
TRẦN PHƢƠNG CHI
LUẬT ÁP DỤNG TRONG TRỌNG TÀI
THƢƠNG MẠI QUỐC TẾ THEO PHÁP LUẬT
VIỆT NAM HIỆN HÀNH
Chuyên ngành: Luật Quốc tế
Mã số: 60380108
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. TRẦN MINH NGỌC
HÀ NỘI - 2014
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình thực hiện đề tài và hoàn thiện luận văn em luôn nhận
được sự quan tâm tận tình và giúp đỡ từ phía thầy cô, nhà trường và bạn bè.
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS.Trần Minh Ngọc, người đã
trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo và giúp đỡ em hoàn thành luận văn này.
Em cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban Giám hiệu và các thầy cô
giáo tại Khoa sau đại học, đặc biệt là các thầy cô giáo đã giảng dạy lớp cao học
khóa XX – khoa Pháp luật Quốc tế; cảm ơn hệ thống Thông tin thư viện của
trường cùng các anh chị em học viên khóa XX đã luôn động viên, giúp đỡ và tạo
điều kiện cho em trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thiện luận văn.
2.1 Luật áp dụng cho tố tụng trọng tài .......................................................... 23
2.2 Luật áp dụng cho nội dung tranh chấp.................................................... 30
2.3 Luật áp dụng cho thỏa thuận trọng tài. ................................................... 41
CHƢƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ LUẬT
ÁP DỤNG TRONG TRỌNG TÀI THƢƠNG MẠI QUỐC TẾ......................... 51
3.1 Thực trạng giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế bằng trọng tài tại
Việt Nam ....................................................................................................... 51
3.2 Sự cần thiết phải hoàn thiện các quy định của pháp luật Việt Nam về luật
áp dụng trong trọng tài thương mại quốc tế. ................................................. 55
3.3 Những yêu cầu cơ bản đối với việc hoàn thiện pháp luật Việt Nam về
luật áp dụng trong trọng tài thương mại quốc tế........................................... 58
3.4 Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về luật áp dụng trong
trọng tài thương mại quốc tế. ........................................................................ 61
3.4.1 Về luật áp dụng cho tố tụng trọng tài............................................... 61
3.4.2 Về luật áp dụng cho nội dung tranh chấp ........................................ 62
3.4.3 Về luật áp dụng cho thỏa thuận trọng tài ......................................... 64
3.4.4 Một số kiến nghị khác ...................................................................... 65
KẾT LUẬN…………………………………………………………………70
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BLDS 2005
Bộ luật Dân sự 2005
ICC
International Chamber of Commerce
Bảng 3.1: Thống kê các lĩnh vực tranh chấp trong năm 2013 của VIAC ................. 53
1
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, tranh chấp thương mại được xem là một
thuộc tính mang tính quy luật. Để giải quyết các tranh chấp đó, chúng ta có thể sử
dụng nhiều phương pháp như hòa giải, trọng tài, tòa án … và ở hầu hết các quốc gia
trên thế giới, việc giải quyết các tranh chấp thương mại dưới hình thức trọng tài đã
trở thành hết sức phổ biến. Trong những lĩnh vực cụ thể, đặc biệt là lĩnh vực thương
mại quốc tế, trọng tài thương mại quốc tế là hình thức tối ưu để giải quyết các xung
đột thương mại mà các bên không thể tự giải quyết được.
Trọng tài thương mại quốc tế là một phương thức giải quyết tranh chấp xuất
hiện từ rất lâu đời. Từ đó tới nay, phương thức này không ngừng được hoàn thiện,
khắc phục những hạn chế của chính nó nhằm tạo dựng một cơ chế giải quyết tranh
chấp có hiệu quả trong thương mại quốc tế. Tại Việt Nam, trọng tài thương mại quốc
tế đã xuất hiện khá sớm với hình thức đầu tiên là Hội đồng Trọng tài ngoại thương
vào năm 1963. Các quy định pháp luật về trọng tài thương mại quốc tế cũng được
xây dựng và hoàn thiện qua từng thời kỳ, mà gần đây nhất là Luật Trọng tài thương
mại 2010. Luật Trọng tài thương mại 2010 ra đời chứa đựng nhiều nội dung tiến bộ,
khắc phục được những lỗ hổng từ trước tới nay trong pháp luật Việt Nam về trọng tài
nói chung cũng như luật áp dụng trong trọng tài thương mại quốc tế nói riêng, đồng
thời đảm bảo sự tương thích giữa pháp luật trọng tài Việt Nam với pháp luật trọng tài
của một số quốc gia trên thế giới. Tuy nhiên, việc bổ sung nhiều quy định mới tiên
tiến cũng không đồng nghĩa với việc Luật Trọng tài thương mại đã thực sự cụ thể,
chi tiết và đầy đủ. Luật áp dụng trong trọng tài thương mại quốc tế là một vấn đề có
ảnh hưởng lớn tới quá trình trọng tài cũng như hiệu lực của phán quyết trọng tài
nhưng nó vẫn chưa được quan tâm đúng mức. Các quy định liên quan đến vấn đề này
trình nghiên cứu khoa học liên quan đến Luật áp dụng trong trọng tài Thương mại
quốc tế được công bố như: Bài viết: “Những vấn đề cơ bản của Luật Trọng tài” của
Đào Trí Úc đăng trong tài liệu hội thảo “Góp ý dự thảo Luật Trọng tài” do Hội Luật
gia Việt Nam phối hợp với Phòng thương mại và Công nghiệp Việt Nam tổ chức
tháng 11/2008 tại Hà Nội; Luận án Tiến sỹ Luật học “Hoàn thiện pháp luật về trọng
tài thương mại của Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc tế” của Nguyễn Đình
Thơ năm 2007; Luận án Tiến sỹ Luật học “Giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế
bằng trọng tài ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế” của Trần Minh
Ngọc năm 2009. Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu của các tác giả nêu trên chỉ
3
đề cập tới từng khía cạnh riêng lẻ của Trọng tài thương mại quốc tế, trong đó có khía
cạnh luật áp dụng trong trọng tài thương mại quốc tế. Ngoài ra, có nhiều bài viết
phân tích cụ thể về vấn đề này như bài viết “Luật áp dụng đối với nội dung tranh
chấp từ hợp đồng trong Trọng tài Thương mại quốc tế” của T.s Trần Minh Ngọc trên
Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 1 năm 2009; bài viết “Luật áp dụng đối với thỏa
thuận trọng tài trong trọng tài thương mại quốc tế” của T.s Trần Minh Ngọc trên
Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 1 năm 2009….
Sau khi Luật Trọng tài thương mại 2010 ra đời, đã có thêm các công trình nghiên
cứu về vấn đề này như Luận văn thạc sỹ Luật học “Luật trọng tài thương mại Việt Nam
2010 – bước phát triển mới của pháp luật trọng tài thương mại Việt Nam” của Nguyễn
Thị Hồng Hạnh năm 2010… Các công trình này đã nghiên cứu về luật áp dụng trong
trọng tài thương mại quốc tế một cách cụ thể hơn, song chưa thực sự rõ ràng và toàn
diện. Chính bởi lý do đó, tôi xin mạnh dạn lựa chọn đề tài “Luật áp dụng trong trọng tài
thương mại quốc tế theo pháp luật Việt Nam hiện hành” làm đề tài cho luận văn của
mình.
3. Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là các quy định của pháp luật Việt Nam hiện
6. Những kết quả nghiên cứu mới của luận văn
- Thứ nhất, Luận văn đã góp phần làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về luật áp
dụng trong trọng tài thương mại quốc tế.
- Thứ hai, phân tích, đánh giá các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành
về luật áp dụng trong trọng tài thương mại quốc tế và có sự so sánh, đối chiếu với
các quy định pháp luật tương tự của một số quốc gia trên thế giới.
- Thứ ba, đưa ra giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật Việt Nam về
luật áp dụng trong trọng tài thương mại quốc tế trong thời gian tới.
7. Bố cục của luận văn
Luận văn được xây dựng với kết cấu: mở đầu, nội dung và kết luận. Phần nội
dung bao gồm 3 chương:
Chương 1: Lý luận chung về luật áp dụng trong trọng tài thương mại quốc tế
Chương 2: Pháp luật Việt Nam về luật áp dụng trong trọng tài thương mại quốc
tế
Chương 3: Kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam về luật áp dụng trong
trọng tài thương mại quốc tế.
5
CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ LUẬT ÁP DỤNG TRONG
TRỌNG TÀI THƢƠNG MẠI QUỐC TẾ
1.1 Khái quát chung về trọng tài thƣơng mại quốc tế
1.1.1 Khái niệm trọng tài thương mại quốc tế
Trọng tài thương mại quốc tế là một trong những hình thức giải quyết tranh
chấp phổ biến hiện nay trên thế giới. Muốn tìm hiểu thế nào là trọng tài thương mại
quốc tế, trước tiên cần tìm hiểu trọng tài là gì.
Hiện nay trên thế giới có nhiều cách tiếp cận khác nhau về khái niệm trọng tài.
Theo cuốn Đại từ điển Kinh tế thị trường: “Trọng tài là một phương thức giải quyết
một cách hòa bình các vụ tranh chấp. Là chỉ đôi bên đương sự tự nguyện đem những
việc, những vấn đề tranh chấp giao cho người thứ ba có tư cách công bằng, chính trực
Tính thương mại
Yếu tố “thương mại” là yếu tố quan trọng khi tìm hiểu về khái niệm trọng tài
thương mại quốc tế bởi lẽ trọng tài thương mại quốc tế chỉ giải quyết các tranh chấp
phát sinh trong hoạt động thương mại. Trên bình diện quốc tế, cho đến nay không tồn
tại khái niệm “thương mại” nào được các quốc gia cùng chấp nhận. Mặc dù Công
ước New York 1958 về công nhận và thi hành quyết định trọng tài nước ngoài đã nỗ
lực ghi nhận một sự giải thích về thuật ngữ “thương mại” nhưng lại dành cho các
nước thành viên quyền bảo lưu đối với khái niệm này. Luật Mẫu về Trọng tài thương
mại quốc tế được Ủy ban Liên Hợp Quốc về luật thương mại quốc tế thông qua ngày
21/06/1985 (Luật Mẫu UNCITRAL) có đưa ra một cách giải thích về thuật ngữ
thương mại rất rộng tại phần chú thích của Điều 1(1) nhưng nó chỉ được các quốc gia
sử dụng như một tài liệu tham khảo cho việc xây dựng khái niệm “thương mại” trong
pháp luật nước mình. Bên cạnh đó, các quốc gia cũng có những định nghĩa khác
nhau về “thương mại”. Bộ luật thương mại Cộng hòa Pháp hiện hành không đưa ra
bất kì định nghĩa nào về “thương mại” nhưng tại Điều L110-1 đã liệt kê khá nhiều
hành vi thương mại được thể hiện bởi các thương nhân, bao gồm: mua bán hàng hóa
để bán lại, mua bán bất động sản để bán lại, mọi hoạt động trung gian về mua, thuê
hoặc bán các công trình xây dựng, cho thuê tài sản,…. Bộ luật Thương mại số 48 của
Nhật Bản năm 1899 quy định thuật ngữ thương mại được dùng để chỉ những hoạt
động mua bán nhằm mục đích lợi nhuận và hầu hết các dịch vụ trên thị trường như
dịch vụ vận tải, cung ứng điện hay khí đốt, ủy thác, bảo hiểm, ngân hàng [13, tr.9].
Luật Thương mại năm 2005 của Việt Nam giải thích hoạt động thương mại là “hoạt
7
động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư,
xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác” (khoản 1 Điều
những quy định về trọng tài của quốc gia đó như: tố tụng trọng tài, luật điều chỉnh nội
8
dung tranh chấp, ngôn ngữ trọng tài. Nhưng trọng tài thương mại quốc tế có thể tiến
hành phiên xử và đưa ra phán quyết ở nước ngoài trên cơ sở một trình tự tố tụng, ngôn
ngữ và luật áp dụng cho tranh chấp do chính các bên thỏa thuận ra.
Tùy thuộc mức độ phát triển của mỗi quốc gia, và cách mà mỗi quốc gia đánh
giá năng lực của trọng tài mà pháp luật mỗi nước lại có những quy định giới hạn
riêng về tính “quốc tế”. Hiện nay, học lý cũng như thực tiễn trọng tài thường đề cập
tới hai tiêu chí chủ yếu được sử dụng (hoặc riêng biệt hoặc kết hợp) để định nghĩa
thuật ngữ quốc tế trong bối cảnh của Trọng tài thương mại quốc tế. Tiêu chí thứ nhất
tập trung phân tích tính chất của tranh chấp trong khi tiêu chí thứ hai nhấn mạnh vào
chủ thể của vụ tranh chấp.
a. Về tính chất của tranh chấp
Đây là tiêu chí quan trọng để xác định tính quốc tế của vụ tranh chấp. Hiện nay,
Tòa án trọng tài quốc tế ICC đã đưa ra sự giải thích về tính “quốc tế” của quan hệ sẽ
được giải quyết bằng trọng tài trong các sách hướng dẫn về trọng tài được xuất bản
bởi ICC, theo đó, tính chất quốc tế của trọng tài không có nghĩa là buộc các bên nhất
định phải có quốc tịch khác nhau. Hợp đồng vẫn có thể mở rộng phạm vi ra khỏi
biên giới quốc gia, ví dụ như, một hợp đồng được ký kết giữa các chủ thể có cùng
quốc tịch nhưng việc thực hiện hợp đồng lại ở một nước khác, hoặc trong trường hợp
hợp đồng được ký kết giữa một nhà nước và một chi nhánh của một công ty nước
ngoài kinh doanh trên lãnh thổ đó [20, tr.19]. Như vậy, có thể hiểu rằng ICC quan
niệm một tranh chấp thương mại sẽ được coi là có tính quốc tế nếu nó có liên quan
tới bất kỳ yếu tố nước ngoài nào như: nơi giao kết hợp đồng ở nước ngoài, nơi thực
hiện hợp đồng ở nước ngoài, các bên tham gia hợp đồng ở các nước khác nhau…
Sự giải thích rộng rãi như vậy cũng được tìm thấy trong Bộ luật Tố tụng dân sự
Cộng hòa Pháp 1981. Điều 1492 Bộ Luật này quy định: “Một trọng tài sẽ được coi là
trọng tài quốc tế nếu nó giải quyết các tranh chấp quyền lợi trong thương mại quốc tế”.
Như vậy có thể thấy, Luật Mẫu UNCITRAL đã kết hợp hai tiêu chí: tính chất
quốc tế và yếu tố chủ thể để xác định tính quốc tế của trọng tài. Ngoài ra còn một
tiêu chí khác được sử dụng trong định nghĩa trên, ví dụ địa điểm mà đối tượng của
tranh chấp có mối quan hệ gần gũi nhất có thể là nước ngoài đối với các bên. Đây là
một sự giải thích khá rộng về tính “quốc tế” của trọng tài thương mại quốc tế.
Bên cạnh đó, một số các Công ước quốc tế về trọng tài thương mại quốc tế hay
tư pháp quốc tế của một số quốc gia cũng thừa nhận điều này. Điều I.1(a) Công ước
10
Châu Âu 1961 về Trọng tài thương mại quốc tế quy định: “Công ước này sẽ được áp
dụng với: Thỏa thuận trọng tài được ký kết với mục đích giải quyết tranh chấp phát
sinh từ thương mại quốc tế giữa các cá nhân hoặc pháp nhân có nơi cư trú thường
xuyên hoặc trụ sở ở các nước ký kết khác nhau”… Tương tự, Điều 176 (1) Đạo Luật
Tư pháp Quốc tế của Liên bang Thụy Sĩ giới hạn việc áp dụng Chương 12 của Đạo
Luật (Chương về trọng tài quốc tế) đối với những vụ việc mà địa điểm trọng tài ở
Thụy Sỹ vào thời điểm ký kết thỏa thuận trọng tài, ít nhất một bên chủ thể không cư
trú ở Thụy Sỹ [9, tr.27].
Tất nhiên, trên đây chỉ là sự tìm hiểu những góc độ tiếp cận khác nhau của
thuật ngữ “quốc tế”. Còn, để xác định một vụ trọng tài cụ thể nào đó có phải là “quốc
tế” hay không lại phụ thuộc vào pháp luật của quốc gia liên quan.
Tóm lại, Trọng tài thương mại quốc tế là một phương thức giải quyết tranh chấp
mà sự bắt đầu của nó dựa trên sự thỏa thuận của các bên tham gia tranh chấp nhằm
giải quyết các tranh chấp thương mại có yếu tố quốc tế (hay yếu tố nước ngoài) bởi
một Hội đồng Trọng tài (gồm một hay nhiều Trọng tài viên) trên cơ sở trình tự thủ tục
do các bên tranh chấp thỏa thuận chọn ra và nó kết thúc với một phán quyết có hiệu
lực pháp lý bắt buộc đối với các bên. Tính quốc tế của trọng tài được quyết định dựa
trên hai yếu tố, hoặc được sử dụng riêng rẽ hoặc được kết hợp với nhau, đó là: tính
chất quốc tế của tranh chấp và đặc điểm của chủ thể tham gia tranh chấp.
1.1.2 Đặc điểm của Trọng tài thương mại quốc tế
tài có thể giúp cho các bên tranh chấp tự do và bình đẳng để lựa chọn địa điểm xét xử
trọng tài, ngôn ngữ sử dụng trong quá trình trọng tài, các quy tắc tố tụng, quốc tịch
của các Trọng tài viên và người đại diện. Về điểm này không thể phủ nhận vị trí ưu
thế của trọng tài so với tòa án.
Tính bí mật
Các nhà kinh doanh tham gia vào tranh chấp luôn e ngại rằng, tranh chấp liên
quan tới bí mật thương mại cũng như công việc kinh doanh của họ nếu bị xét xử dưới
sự theo dõi của công luận sẽ ảnh hưởng tới công việc trong tương lai. Với yêu cầu
công việc như vậy, lựa chọn trọng tài để giải quyết tranh chấp là một lựa chọn phù
hợp bởi hội đồng trọng tài được thành lập theo yêu cầu của các bên và thực hiện theo
phương thức xét xử kín tách rời khỏi sự chú ý của công luận. Phiên tòa xét xử chỉ
tiến hành với sự có mặt của các bên, thậm chí việc xét xử phải dựa trên những tài
liệu, chứng cứ được cung cấp bởi các bên mà không nhất thiết phải mở một phiên tòa
trọng tài. Phán quyết trọng tài cũng sẽ chỉ được trao cho các bên nếu họ không có
thỏa thuận khác. Về điểm này, tòa án không phải là phương án tối ưu bởi tòa án sẽ
chỉ dựa vào trình tự tố tụng đã được quy định trong pháp luật quốc gia, xét xử và đưa
phán quyết về vụ việc một cách công khai. Do vậy, khi lựa chọn phương thức giải
quyết tranh chấp là trọng tài, các vụ tranh chấp liên quan tới bí mật kinh doanh, khiếm
khuyết của hàng hóa, sự kém chất lượng của sản phẩm sẽ được bảo đảm giữ bí mật.
12
Tính chuyên nghiệp
Các lĩnh vực tranh chấp thường rất rộng lớn, ở các lĩnh vực, các ngành nghề
Trọng tài thường trực (trọng tài quy chế)
Trọng tài thường trực là một giải pháp trọng tài được quản lý bởi một tổ chức
trọng tài nhất định và tuân theo những quy tắc trọng tài của tổ chức đó [9, tr.44]. Tùy
13
theo phạm vi hoạt động và năng lực chuyên môn cũng như khả năng thu hút khách
hàng mà mỗi tổ chức trọng tài được cơ cấu bởi nhiều hay ít cơ quan nhưng thông
thường bao gồm, cơ quan phụ trách về tài chính có nhiệm vụ thu chi tài chính cho tổ
chức trọng tài, ban thư ký có nhiệm vụ giúp việc trực tiếp cho Hội đồng trọng tài trong
suốt quá trình trọng tài như chuẩn bị hồ sơ vụ tranh chấp, tống đạt giấy tờ, thuê địa
điểm xét xử khi cần thiết…
Mỗi tổ chức trọng tài đều đưa ra một bản quy tắc tố tụng riêng cũng như danh
sách trọng tài viên của riêng mình và đây là nguồn quan trọng để các bên tranh chấp
lựa chọn trọng tài viên khi thành lập Hội đồng trọng tài. Các trọng tài viên tham gia
các tổ chức này là các luật sư, các chuyên gia giỏi giàu kinh nghiệm trong các lĩnh
vực tư pháp, thương mại, bảo hiểm, đầu tư,… Nhìn vào danh sách trọng tài viên có
thể xác định đẳng cấp của tổ chức trọng tài đó bởi chỉ những tổ chức trọng tài uy tín
mới có khả năng có được sự cộng tác từ những trọng tài viên ưu tú.
Để đi tới quyết định lựa chọn hay không lựa chọn trọng tài thường trực, ngoài
việc căn cứ vào mức độ, tính chất của tranh chấp, khả năng tài chính, quốc tịch của
các bên, vấn đề thi hành quyết định trọng tài, danh tiếng của tổ chức trọng tài…, các
bên cần nắm rõ những ưu điểm và nhược điểm của trọng tài này.
+ Ưu điểm của trọng tài thường trực
Thứ nhất, với hình thức trọng tài này, quá trình tố tụng trọng tài diễn ra sẽ luôn
được đảm bảo thông suốt, theo một quy trình được xác định trước trong bản quy tắc
trọng tài đã được đề ra. Trong những trường hợp không lường trước được xảy ra
như: nếu bị đơn đột ngột từ chối lựa chọn trọng tài viên cho mình hay trong trường
hợp bị đơn hoặc nguyên đơn vắng mặt tại phiên tòa trọng tài thì bộ quy tắc giúp
tài phải tiến hành các thủ tục xét xử một cách tuần tự mà không thể tự ý cắt đứt những
công đoạn kéo dài thời gian xét xử dù đôi khi những thủ tục này có thể không thật sự
cần thiết trong một giai đoạn xét xử nào đó. Sự cứng nhắc này có thể làm ảnh hưởng
tới tốc độ trọng tài (nếu so với trọng tài vụ việc), tuy nhiên, các bên tranh chấp vẫn
phải tuân theo nếu đã chọn tổ chức trọng tài đó và áp dụng quy tắc tố tụng của nó.
Trọng tài vụ việc (trọng tài ad-hoc)
Trọng tài vụ việc là một phương thức trọng tài được thành lập để giải quyết một
vụ tranh chấp cụ thể, gồm các trọng tài viên do các bên lựa chọn mà không bị giới
hạn bởi một danh sách trọng tài viên có sẵn. Sau khi giải quyết xong tranh chấp thì
ủy ban trọng tài này tự giải thể. Đây là tổ chức trọng tài không tồn tại thường xuyên
nên không có điều kiện và quy chế hoạt động riêng, cũng như không có quy tắc tố
15
tụng cụ thể. Đối với hình thức trọng tài này, các bên được tự do thỏa thuận về các
quy tắc tố tụng cũng như có quyền thỏa thuận về cách thức bổ nhiệm trọng tài viên,
địa điểm trọng tài, luật điều chỉnh quá trình trọng tài, ngôn ngữ trọng tài,…
Cũng giống như Trọng tài thường trực, sở dĩ Trọng tài vụ việc có thể diễn ra là
vì trước đó các bên tham gia trọng tài đã có một thỏa thuận chọn loại trọng tài này để
giải quyết tranh chấp. Trọng tài vụ việc có những ưu điểm và nhược điểm riêng
biệt của nó, mà các bên tham gia giao dịch cần xem xét kĩ trước khi quyết định có
lựa chọn nó hay không.
+ Ưu điểm của trọng tài vụ việc
Một trong những ưu điểm nổi bật của hình thức trọng tài này là tính linh hoạt và tổ
chức đơn giản. Tính linh hoạt của nó thể hiện qua việc các bên tranh chấp hoàn toàn có
quyền tự do lựa chọn trọng tài viên, tự do lựa chọn về các quy tắc tố tụng mà không phải
tuân theo bất kì một bộ quy tắc trọng tài nào. Điều này đáp ứng được yêu cầu của các
tài nào thì các bên cũng phải lập một thỏa thuận trọng tài rõ ràng và đầy đủ, bởi nếu
không, nguy cơ thỏa thuận trọng tài vô hiệu là điều hoàn toàn có thể xảy ra.
1.2 Luật áp dụng trong trọng tài thƣơng mại quốc tế
1.2.1 Nội dung của luật áp dụng trong trọng tài thương mại quốc tế
Luật áp dụng trong trọng tài thương mại quốc tế là vấn đề hết sức phức tạp và
là một khâu cực kỳ quan trọng trong toàn bộ tiến trình trọng tài, cần phải được các
bên tham gia trọng tài, các trọng tài viên suy xét kỹ lưỡng trước và trong tố tụng
trọng tài. Luật áp dụng trong trọng tài thương mại quốc tế cần được xem xét cẩn
trọng trong ba phạm vi: luật áp dụng đối với tố tụng trọng tài, luật áp dụng đối với
nội dung tranh chấp, luật áp dụng cho thỏa thuận trọng tài. Mỗi phạm vi có những
nguyên tắc áp dụng riêng và không thể có sự nhầm lẫn hay thay thế cho nhau. Bất kì
sự sai sót nào trong việc lựa chọn luật áp dụng đều dẫn đến những hậu quả nguy
hiểm đó là phán quyết trọng tài cuối cùng có nguy cơ bị hủy bỏ hay không được
công nhận và thi hành ở nước ngoài.
Luật áp dụng cho tố tụng trọng tài
Luật áp dụng cho tố tụng trọng tài quy định các thủ tục tố tụng trọng tài như
quy trình gửi các văn bản, chứng cứ của các bên, của nhân chứng, ngôn ngữ trọng
tài,v.v… Bên cạnh đó, luật này còn cung cấp chỉ dẫn về quy tắc thành lập Hội đồng
trọng tài, thay thế trọng tài viên, trưng cầu giám định, khiếu nại về quyết định của
trọng tài… Từ đó có thể thấy, luật áp dụng cho tố tụng trọng tài không chỉ là luật thủ
17
tục quy định nội tại của tố tụng trọng tài mà nó còn có vai trò định hướng các bên
thông qua việc cung cấp các hướng dẫn về cách thức tiến hành trọng tài,…
Việc xác định luật áp dụng trong tố tụng trọng tài thương mại quốc tế bị chi
phối bởi nguyên tắc tự do thỏa thuận của các bên và nguyên tắc nơi tọa lạc của trọng
tiến hành tố tụng trọng tài. Tuy nhiên, sự ảnh hưởng của luật nơi tiến hành trọng tài tới
quá trình trọng tài là điều không thể phủ nhận. Các bên có quyền lựa chọn pháp luật
mà tố tụng trọng tài phải tuân theo nhưng, sự thỏa thuận này không để dẫn đến tố tụng
trọng tài nằm ngoài, hay nói cách khác, là đi ngược lại với pháp luật của quốc gia nơi
tiến hành trọng tài.
Bên cạnh đó, tố tụng trọng tài còn bị chi phối bởi sự can thiệp của Tòa án quốc
gia nơi tiến hành trọng tài. Mặc dù với việc các bên thỏa thuận về một điều khoản
trọng tài nhằm loại trừ thẩm quyền của tòa án quốc gia, khả năng vụ việc của họ bị đưa
ra trước một cơ quan nhà nước có thẩm quyền như vậy vẫn có thể xảy ra. Sự can thiệp
của Tòa án vào tố tụng trọng tài có thể xảy ra trước khi phán quyết trọng tài được ban
hành, hoặc thậm chí, trong khi đang tiến hành tố tụng trọng tài. Sự can thiệp dễ nhận
thấy nhất là khi một bên tham gia trọng tài cố tình lợi dụng quyền lực tư pháp của Tòa
án nhằm làm chậm tiến độ hoặc gây khó khăn cho quá trình trọng tài với mục đích
phục vụ lợi ích của mình. Ngoài ra, Tòa án địa phương còn can thiệp trong trường hợp
các bên yêu cầu tòa án hỗ trợ thu thập chứng cứ, thay đổi Trọng tài viên,…
Luật áp dụng cho nội dung tranh chấp
Trong trọng tài thương mại quốc tế, vấn đề luật áp dụng đối với nội dung tranh
chấp là rất quan trọng bởi phán quyết trọng tài ngoài việc dựa trên chính những điều
khoản của hợp đồng còn phải căn cứ vào những quy định của luật nội dung điều chỉnh
các tranh chấp. Nội dung tranh chấp chính là quyền và nghĩa vụ của các bên bị xâm
hại trong quá trình thực hiện các giao dịch thương mại quốc tế. Luật áp dụng cho nội
dung tranh chấp (hay thường được biết đến như là luật nội dung, “luật điều chỉnh” của
hợp đồng) xác định quyền và nghĩa vụ của các bên, quy định việc giải thích và hiệu
lực của hợp đồng, cách thức thực hiện và hệ quả của việc vi phạm hợp đồng
[14,tr.113]… Bên cạnh việc xác định hiệu lực về nội dung của hợp đồng, luật này còn
bổ sung những nguyên tắc điều chỉnh hợp đồng mà các điều khoản trong hợp đồng
chưa đề cập tới. Đây là cơ sở pháp lý ràng buộc quyền và nghĩa vụ của các bên chủ thể
áp dụng, miễn là họ vẫn tôn trọng trật tự công cộng quốc tế [19, tr.2].
Xác định luật áp dụng cho nội dung vụ tranh chấp là vấn đề quan trọng, ảnh
hưởng lớn đến quyền và nghĩa vụ của các bên chủ thể. Sẽ đơn giản hơn nhiều nếu
các bên tự thực hiện việc xác định luật áp dụng bởi nếu họ không sử dụng quyền này
thì hội đồng trọng tài sẽ làm việc đó và pháp luật do hội đồng trọng tài lựa chọn có