PHÁP LUẬT VỀ TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ - Pdf 27

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
BỘ MÔN KINH DOANH - THƯƠNG MẠI
 --  -- 
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
KHÓA 31 (2005 – 2009)
ĐỀ TÀI:
PHÁP LUẬT VỀ
TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN: SINH VIÊN THỰC HIỆN:
Ths. BÙI THỊ MỸ HƯƠNG

NGUYỄN THÚY VI

MSSV
:
5055019

Lớp
:
Luật Thương Mại 02 - K31
Cần Thơ, 4/ 2009
LỜI CẢM ƠN!
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến Thạc
sĩ Bùi Thị Mỹ Hương, người đã tận tình hướng dẫn và
tạo điều kiện tốt nhất để tôi hoàn thành luận văn tốt
nghiệp của mình. Đồng thời, tôi xin gửi lời cảm ơn đến
quý thầy cô trong Khoa Luật đã tạo nền tảng kiến thức
cho tôi trong suốt khóa học. Tôi cũng muốn gửi lời cảm
ơn đến Thư viện Khoa Luật Trường Đại học Cần Thơ,
Trung tâm học liệu của trường và Thư viện Thành phố

............................................................................................................................................
............................................................................................................................................
............................................................................................................................................
............................................................................................................................................
............................................................................................................................................
............................................................................................................................................
............................................................................................................................................
............................................................................................................................................
............................................................................................................................................
............................................................................................................................................
............................................................................................................................................
............................................................................................................................................
............................................................................................................................................
............................................................................................................................................
............................................................................................................................................
............................................................................................................................................
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN PHẢN BIỆN



............................................................................................................................................
............................................................................................................................................
............................................................................................................................................
............................................................................................................................................
............................................................................................................................................
............................................................................................................................................
............................................................................................................................................
............................................................................................................................................
............................................................................................................................................
............................................................................................................................................

2. Phạm vi nghiên cứu ............................................................................................2
3. Mục tiêu nghiên cứu...........................................................................................2
4. Kết cấu đề tài......................................................................................................3
5. Phương pháp nghiên cứu ....................................................................................3
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI
QUỐC TẾ
..................................................................................................................... 4
1.1. Khái niệm, đặc điểm và hình thức của Trọng tài thương mại quốc tế ...............4
1.1.1. Khái niệm .................................................................................................4
1.1.1.1. Trọng tài thương mại quốc tế ..............................................................4
1.1.1.2. Thỏa thuận trọng tài............................................................................5
1.1.2. Đặc điểm của trọng tài ..............................................................................6
1.1.2.1. Phát sinh khi có thỏa thuận .................................................................6
1.1.2.2. Thủ tục giải quyết đơn giản, nhanh chóng...........................................7
1.1.2.3. Xét xử không công khai......................................................................8
1.1.2.4. Trọng tài là tổ chức phi chính phủ.......................................................8
1.1.2.5. Phán quyết của Trọng tài có giá trị chung thẩm ..................................9
1.1.3. Các hình thức trọng tài thương mại quốc tế ...............................................9
1.1.3.1. Trọng tài vụ việc.................................................................................9
1.1.3.2. Trọng tài thường trực........................................................................10
1.2. Cơ sở lý luận về vấn đề trọng tài thương mại quốc tế.....................................11
1.2.1. Lược khảo về trọng tài thương mại quốc tế các nước trên thế giới...........11
1.2.1.1. Luật trọng tài Mỹ..............................................................................11
1.2.1.2. Luật trọng tài Pháp ...........................................................................12
1.2.2. Sự cần thiết của trọng tài thương mại quốc tế..........................................13
1.2.2.1. Đảm bảo vào quá trình hội nhập kinh tế thế giới của Việt Nam.........14
1.2.2.2. Đa dạng hóa các cơ quan giải quyết tranh chấp - Góp phần giải quyết
hiệu quả các tranh chấp trong kinh doanh thương mại ...................................18
1.2.2.3. Cung cấp cho các nhà kinh doanh một mô hình giải quyết tranh chấp
có khả năng đáp ứng những nhu cầu có tính nghề nghiệp của họ...................20

3.1.3. Quy định về chọn trọng tài viên ..............................................................53
3.1.4. Các quy định về hủy quyết định trọng tài ................................................55
3.1.5. Vấn đề thi hành phán quyết trọng tài .......................................................59
3.2. Hướng hoàn thiện ..........................................................................................61
3.2.1. Pháp lệnh trọng tài thương mại cần tiếp tục hoàn thiện............................62
3.2.2. Một số đề xuất hoàn thiện .......................................................................64
KẾT LUẬN
................................................................................................................. 68
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
LVTN: Pháp luật về Trọng tài thương mại quốc tế GVHD:Ths. Bùi Thị Mỹ Hương
SVTH: Nguyễn Thúy Vi Trang 1
LỜI NÓI ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay cùng với sự tiến bộ và phát triển của xã hội, nhu cầu hợp tác giữa
các quốc gia ngày càng được củng cố và tăng cường. Đặc biệt là trong lĩnh vực
thương mại quốc tế. Do hoạt động thương mại quốc tế ngày càng phong phú và đa
dạng bởi tính chất đặc thù của hoạt động này, nó không chỉ bó hẹp trong phạm vi lãnh
thổ của một quốc gia mà còn liên quan đến nhiều quốc gia khác. Đồng thời, với môi
trường kinh tế toàn cầu hóa, đa dạng về chủ thể kinh doanh mà lợi nhuận luôn là mục
tiêu hàng đầu mà các nhà kinh doanh luôn hướng tới. Ngay cả Hiến pháp nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại Điều 57 cũng đã quy định “Công dân có quyền tự
do kinh doanh theo quy định của pháp luật”. Và không phải lúc nào các quan hệ kinh
tế cũng được các bên tham gia thực hiện chính xác và đầy đủ mà tất yếu có xảy ra
tranh chấp, đặc biệt là trong hoạt động thương mại quốc tế khi các chủ thể giao dịch
thuộc các hệ thống pháp luật và văn hóa kinh doanh khác nhau. Mà tranh chấp nào
cũng vậy, chúng cần phải được giải quyết thỏa đáng, nhanh chóng và kịp thời. Có
như vậy mới có thể bảo vệ được quyền và lợi ích của các chủ thể kinh doanh và tạo ra
môi trường kinh doanh lành mạnh, tạo thuận lợi về mặt pháp lý và kinh tế trong việc
thực hiện chính sách chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, mở rộng và phát triển quan
hệ kinh tế thương mại với nước ngoài.

hội thông qua và chính thức có hiệu lực kể từ ngày 01/07/2003. Có thể nói hơn 5 năm
thực hiện, Pháp lệnh trọng tài thương mại đã trở nên lỗi thời và không đáp ứng được
nhu cầu của tình hình mới. Nghiên cứu, bình luận từ đó rút ra những vướng mắc đồng
thời đưa ra những giải pháp kịp thời, hợp lý để góp phần vào việc hoàn thiện hệ thống
pháp luật Trọng tài ở Việt Nam ta nói riêng và để thế giới xem xét nói chung thiết
nghĩ là vấn đề cấp thiết hiện nay. Đó cũng chính là lý do người viết chọn đề tài “Pháp
luật về trọng tài thương mại quốc tế” làm đề tài luận văn tốt nghiệp của mình.
2. Phạm vi nghiên cứu
Cùng với sự tác động của các quan hệ kinh tế và của quy luật cạnh tranh, tranh
chấp trong thương mại quốc tế cũng trở nên phong phú hơn về chủng loại, gay gắt và
phức tạp hơn về tính chất và quy mô. Để giải quyết tốt những tranh chấp phát sinh
pháp luật có những quy định để điều chỉnh các quan hệ bằng nhiều phương thức khác
nhau, một trong số đó có trọng tài. Trong khuôn khổ luận văn của mình do thời gian
và trình độ nghiên cứu có giới hạn nên người viết không trình bày một cách chi tiết
từng vấn đề mà chỉ trình bày những quy định cơ bản về vấn đề “Pháp luật về Trọng
tài thương mại quốc tế”
3. Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu nhằm mục tiêu tìm hiểu một cách tổng quát các quy
định của pháp luật của một số nước trong đó có Việt Nam về trọng tài thương mại
quốc tế, đồng thời phân tích những điểm còn bất cập trong các quy định về trọng tài
của pháp luật Việt Nam.
Qua đề tài này, người viết hy vọng góp phần nhỏ trong việc tìm hiểu giải pháp
để giải quyết các vấn đề này từ việc phân tích các vấn đề còn tồn tại trong các quy
định của pháp luật Việt Nam.
LVTN: Pháp luật về Trọng tài thương mại quốc tế GVHD:Ths. Bùi Thị Mỹ Hương
SVTH: Nguyễn Thúy Vi Trang 3
4. Kết cấu đề tài
Mục lục
Lời nói đầu
Chương 1: Tổng quan về vấn đề Trọng tài thương mại quốc tế.

quan hệ pháp luật dân sự quốc tế nói chung và lĩnh vực thương mại quốc tế (mua bán
hàng hóa) nói riêng. Để đảm bảo giải quyết các vấn đề xung đột trong các mối quan
hệ dân sự một cách khách quan, đúng đắn và công bằng, ngoài việc áp dụng các bản
án của tòa án, cần áp dụng các phán quyết của trọng tài trong một số trường hợp mà
pháp luật quy định và cho phép.
Vấn đề giải quyết tranh chấp theo trình tự trọng tài là quan trọng và cần thiết
để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao yêu cầu của thực tiễn, đó là việc hoàn thiện về mặt
pháp lý các hợp đồng trong lĩnh vực thương mại. Trong thực tiễn pháp lý hiện nay,
nhóm các quan hệ chịu sự điều chỉnh của trọng tài ngày càng tăng.
Ở các nước đang phát triển cũng như các nước phát triển, hệ thống pháp luật
Anh – Mỹ và hệ thống pháp luật của các nước Châu Âu – Lục Địa xu hướng chung từ
1970 đến nay là dành cho các bên đương sự quyền lựa chọn hình thức trọng tài, đưa
các vụ tranh chấp ra xét xử tại các tổ chức trọng tài do các bên thỏa thuận thành lập,
đi đôi với việc thu hẹp thẩm quyền xét xử các tranh chấp kinh tế, nhất là tranh chấp
quốc tế của các tòa án trong nước thuộc hệ thống cơ quan tư pháp nhà nước.
Như vậy ta thấy rằng trọng tài thương mại quốc tế được thành lập để giải quyết
các tranh chấp thương mại có yếu tố nước ngoài (giải quyết các hoạt động kinh tế
quốc tế, kể cả khi một trong các bên là một quốc gia hay một doanh nghiệp nhà
nước). Đồng thời nó còn được thành lập dựa trên sự thỏa thuận của các quốc gia trên
cơ sở điều ước quốc tế mà các bên đã kí kết hoặc gia nhập. Đây cũng là điểm khác
biệt cơ bản so với trọng tài thương mại quốc tế được thành lập trên cơ sở pháp luật
của quốc gia mình (nơi trọng tài có trụ sở chính - đối với trọng tài thường trực, nơi
trọng tài giải quyết tranh chấp - đối với trọng tài vụ việc). Tuy nhiên yếu tố nước
ngoài ở đây thường được hiểu khi có một trong ba trường hợp sau:
Thứ nhất: Một trong các bên có quốc tịch hoặc nơi cư trú ở nước ngoài;
LVTN: Pháp luật về Trọng tài thương mại quốc tế GVHD:Ths. Bùi Thị Mỹ Hương
SVTH: Nguyễn Thúy Vi Trang 5
Thứ hai: Khách thể là tài sản ở nước ngoài;
Thứ ba: Sự kiện làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt mối quan hệ xảy ra ở
nước ngoài.

(6)
.

6
Khoản 2, Điều 2, Pháp lệnh số 08/2003/PL-UBTVOH11 ngày 25 tháng 02 năm 2003 về trọng tài thương mại.
LVTN: Pháp luật về Trọng tài thương mại quốc tế GVHD:Ths. Bùi Thị Mỹ Hương
SVTH: Nguyễn Thúy Vi Trang 6
Về lý thuyết, thuật ngữ thỏa thuận trong tài có thể đề cập tới hai loại thỏa
thuận là: điều khoản trọng tài, có trong hợp đồng ký kết giữa các bên; và thỏa thuận
trọng tài, các bên có thể lập vào thời điểm tranh chấp phát sinh và trong trường hợp
các bên không quy định điều khoản trọng tài trong hợp đồng. Trong khi đó ở những
nước theo luật châu Âu lục địa, cả hai khái niệm trên đều được định nghĩa rõ ràng. Ví
như ở Pháp, điều khoản trọng tài được gọi là “la clause compromissoire” trong khi
thỏa thuận trọng tài thì gọi là “le compromise d’arbitrage”.
Hiệu lực của một thỏa thuận trọng tài đặc biệt quan trọng. Nhìn chung, các
nguyên tắc pháp lý được áp dụng để xác định hiệu lực của thỏa thuận trọng tài là
những nguyên tắc được sử dụng trong việc xác định hiệu lực của một hợp đồng
thương mại thông thường; bởi thực tế thỏa thuận trọng tài thường dưới dạng một điều
khoản của hợp đồng thương mại. Chính vì vậy nên thường thì điều khoản trọng tài và
việc xác định hiệu lực của nó cũng được điều chỉnh bởi luật điều chỉnh những điều
khoản còn lại của hợp đồng. Tuy nhiên, có thể điều khoản trọng tài được điều chỉnh
bởi một luật trong khi những phần còn lại của hợp đồng lại được điều chỉnh bởi một
luật khác.
Thông thường, vấn đề hiệu lực của một thỏa thuận trọng tài được một trong
các bên nêu ra vào một giai đoạn nào đó trong quá trình tố tụng trọng tài. Khi bắt đầu
tố tụng trọng tài, một bên có thể tìm kiếm khước từ thỏa thuận trọng tài với lý do thỏa
thuận đó không có hiệu lực. Bên bị tố tụng trọng tài chống lại sẽ là bên đưa ra khước
từ. Sự khước từ có thể đưa ra chính ủy ban trọng tài hoặc một tòa án có thẩm quyền
xem xét quyết định.
1.1.2. Đặc điểm của trọng tài

Trong trọng tài quốc tế, tính độc lập của các bên được thể hiện rất rõ. Các bên
tự do thiết lập thủ tục tố tụng bằng cách dẫn chiếu quy tắc tố tụng trọng tài sẵn có
hoặc soạn thảo quy tắc của riêng họ. Các bên có thể chọn trọng tài viên, ấn định thời
hạn hoặc để bên thứ ba ấn định thời hạn. Các bên tự do thỏa thuận về luật áp dụng
cho nội dung và luật áp dụng cho thủ tục trọng tài. Các bên cũng tự do xác định ngôn
ngữ dùng trong xét xử trọng tài và trong tài liệu đệ trình, phương pháp thu thập chứng
cứ và lịch trình tố tụng. Tùy thuộc vào thỏa thuận giữa các bên, cách tiến hành tố
tụng trọng tài có thể khác hoặc không khác cách tiến hành tố tụng tại một tòa án quốc
gia. Có thể nhận thấy rằng, các quy tắc tố tụng trọng tài thường linh hoạt hơn và ít thủ
tục hơn các quy tắc của pháp luật quốc gia.
Hơn nữa, do phán quyết của trọng tài là chung thẩm và bên thua kiện không
được chống án, vì trọng tài thương mại chỉ đứng ra xét xử khi cả hai bên đương sự
chấp nhận và thành lập ra để xét xử
(7)
. Việc chấp nhận và thành lập ra trọng tài thể
hiện hai bên đương sự tự nguyện và tin tưởng vào sự công bằng của trọng tài thể hiện
ở phán quyết của cơ quan xét xử này. Vì vậy, khi trọng tài ra phán quyết cuối cùng,
nó có giá trị chung thẩm và bắt buộc thi hành, trừ trường hợp quyết định trọng tài bị
tòa án quốc gia hủy theo quy định của pháp luật. Các bên đương sự không phải đối
mặt với những thủ tục chống án kéo dài tốn nhiều thời gian, công sức như trong tố

7
Bài giảng Tư pháp quốc tế, Diệp Ngọc Dũng – Cao Nhất Linh, Khoa Luật, Trường Đại Học Cần Thơ (2002)
LVTN: Pháp luật về Trọng tài thương mại quốc tế GVHD:Ths. Bùi Thị Mỹ Hương
SVTH: Nguyễn Thúy Vi Trang 8
tụng tòa án. Giải quyết nhanh chóng các tranh chấp phát sinh luôn tạo được sự ưa
chuộng của các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường hiện nay.
1.1.2.3. Xét xử không công khai
Có thể thấy, tính bí mật áp dụng cho trọng tài thường bảo đảm sự tĩnh lặng
hơn trong tố tụng so với tòa án quốc gia, tức là không ai có quyền tham dự phiên hợp

LVTN: Pháp luật về Trọng tài thương mại quốc tế GVHD:Ths. Bùi Thị Mỹ Hương
SVTH: Nguyễn Thúy Vi Trang 9
trọng tài, nhất là trọng tài của nước thứ ba để đảm bảo tính khách quan trong việc giải
quyết tranh chấp.
Khi giải quyết tranh chấp, trọng tài thương mại có thể áp dụng luật của một
quốc gia nào đó do các bên thỏa thuận hoặc không áp dụng luật của bất kỳ quốc gia
nào, trọng tài có thể đưa ra phán quyết dựa trên tập quán thương mại quốc tế. Vì vậy,
các bên trong vụ tranh chấp có thể yên tâm khi phán quyết đưa ra dựa trên những căn
cứ mà họ cho rằng có lợi nhất cho mình.
1.1.2.5. Phán quyết của Trọng tài có giá trị chung thẩm
Về nguyên tắc, phán quyết trọng tài có giá trị chung thẩm và bên thua kiện
không được chống án. Cơ hội để bác phán quyết trọng tài thường bị giới hạn bởi các
thiếu sót thủ tục căn bản. Phán quyết chung thẩm là phán quyết cuối cùng, giải quyết
chung thẩm mọi vấn đề được chuyển cho ủy ban trọng tài. Phán quyết có tác dụng
phân xử giữa các bên, đồng thời, phán quyết cuối cùng sẽ chấm dứt tranh chấp giữa
các bên. Một khi phán quyết được ban hành, ủy ban trọng tài sẽ hết trách nhiệm bởi
ủy ban trọng tài đã hoàn thành nhiệm vụ của mình.
Các phán quyết của trọng tài sẽ đương nhiên hết hiệu lực thi hành nếu như bên
thua kiện không yêu cầu tòa án xem xét hủy phán quyết của trọng tài. Cần lưu ý là tòa
án chỉ có quyền hủy phán quyết trọng tài theo thủ tục hủy phán quyết trọng tài, trong
đó tòa án không xem xét lại vụ việc mà chỉ xem xét việc tuân theo các điều kiện và
thủ tục tố tụng trong quá trình trọng tài giải quyết tranh chấp. Một khi phán quyết của
trọng tài có hiệu lực, nó có giá trị thi hành như một bản án. Nếu bên thua kiện không
tự nguyện thi hành thì bên có quyền có quyền yêu cầu cơ quan có trách nhiệm thi
hành án của quốc gia đảm bảo việc thi hành.
1.1.3. Các hình thức trọng tài thương mại quốc tế
1.1.3.1. Trọng tài vụ việc
Trọng tài vụ việc hay còn gọi là trọng tài Ad-hoc. Đây là loại trọng tài do các
bên thỏa thuận lập ra để giải quyết tranh chấp của mình, sau khi tranh chấp được giải
quyết thì trọng tài này được giải tán.

tài hoặc được xác định căn cứ vào thỏa thuận đó.
+ Mọi địa điểm mà ở đó một phần chủ yếu của các nghĩa vụ phát sinh từ quan
hệ thương mại được thực hiện hoặc nơi mà nội dung tranh chấp có mối quan hệ chặt
chẽ nhất.
Thứ ba: Các bên đã thỏa thuận dứt khoát với nhau là nội dung của thỏa thuận
trọng tài có liên quan đến hơn một nước.
Ngoài ra, trong trường hợp nếu một bên đương sự có hơn một trụ sở thì trụ sở
có liên quan chặt chẽ với thỏa thuận trọng tài sẽ phải được xem xét. Trong trường
hợp nếu một bên đương sự không có trụ sở thì nơi thường trú của họ sẽ được xem
như là một dấu hiệu để xác định tính quốc tế của trọng tài.
Đặc điểm của trọng tài thường trực là quy chế tố tụng chặt chẽ. Bởi vì mỗi tổ
chức trọng tài thường trực đều có điều lệ riêng nên có điều kiện thay đổi, sửa đổi, bổ
sung, hoàn thiện để ngày càng thích ứng với những điều kiện và đòi hỏi của thực tiễn.
Hơn nữa, để tăng cường khả năng cạnh tranh, ngoài việc hạ thấp biểu phí, các tổ chức
trọng tài trên thế giới đều cố gắng cải thiện để rút ngắn thời gian tố tụng và dựa vào
danh sách trọng tài viên những người có uy tín, hiểu biết rộng và giàu kinh nghiệm
LVTN: Pháp luật về Trọng tài thương mại quốc tế GVHD:Ths. Bùi Thị Mỹ Hương
SVTH: Nguyễn Thúy Vi Trang 11
trong lĩnh vực giải quyết tranh chấp. Đây cũng chính là một trong những yếu tố góp
phần nâng cao chất lượng hoạt động của các tổ chức trọng tài, làm cho hình thức giải
quyết tranh chấp bằng trọng tài càng chiếm ưu thế hấp dẫn giới kinh doanh nhiều
hơn.
1.2. Cơ sở lý luận về vấn đề trọng tài thương mại quốc tế
1.2.1. Lược khảo về trọng tài thương mại quốc tế các nước trên thế giới
1.2.1.1. Luật trọng tài Mỹ
Vào khoảng thế kỷ XIX, việc phân xử thông qua trọng tài đã ra đời ở Mỹ.
Hiện nay, việc phân xử bằng trọng tài đã trở nên phổ biến đặc biệt là trong các tranh
chấp quốc tế.
Nhìn chung, việc phân xử bằng trọng tài ở Liên bang Hoa kỳ được điều chỉnh
bởi Luật trọng tài Hoa kỳ (FAA). FAA là nền tảng cho các luật về hàng hải, ngoại

tài viên trong việc yêu cầu các biện pháp bảo vệ tạm thời, nhưng thực tế người ta
thường làm thế. Theo Luật của Hiệp hội trọng tài Hoa Kỳ (AAA) quy định, cho phép
các trọng tài viên bảo tồn tài sản, không làm thiệt hại đến quyền của các bên tranh
chấp và quyết định cuối cùng của sự tranh chấp. Việc thi hành phán quyết của trọng
tài nước ngoài ở Mỹ, nhìn chung, được điều chỉnh bởi các hiệp ước mà phổ biến nhất
là Công ước 1958 về công nhận và thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài. Sự
thực thi phán quyết của trọng tài được FAA quy định từ điều 201 đến điều 208. Theo
quy định của Điều 207, các bên tranh chấp có quyền yêu cầu tòa án có thẩm quyền ra
quyết định thi hành phán quyết theo tinh thần của công ước trong thời hạn ba năm, kể
từ ngày phán quyết chính thức được đưa ra. Phán quyết này được công nhận, ngoại
trừ tòa án tìm thấy những căn cứ từ chối việc thực hiện theo công ước. Tòa án có thể
bắt buộc thi hành phân xử trọng tài phù hợp với thỏa thuận trọng tài, ở bất kỳ nơi nào
mà thỏa ước được ký, ngay cả bên ngoài Hoa Kỳ (Điều 206). Những điều khoản của
FAA chỉ được áp dụng khi những điều khoản này không trái với những quy định của
công ước (Điều 208). Thông thường, những phán quyết của tòa án làm tăng tính hiệu
lực thi hành của phán quyết trọng tài và duy trì tinh thần của công ước. Trong trường
hợp thiếu một công ước đa phương, việc thi hành phán quyết trọng tài nước ngoài có
thể được thực hiện theo một hiệp ước song phương trong tình hữu nghị mà Hoa Kỳ là
thành viên.
1.2.1.2. Luật trọng tài Pháp
Trước năm 1980, luật trọng tài Pháp được đặt trong Bộ luật dân sự, về cơ chế
giống như từ thời nó được ban hành vào năm 1806. Năm 1980 và năm 1981, luật mới
về trọng tài được ban hành với mục đích cải tiến những quy định về vấn đề này. Luật
trọng tài Pháp quy định riêng lẻ hai chế độ trọng tài trong nước và trọng tài quốc tế,
không đặt ra sự cản trở nào cho trọng tài quốc tế, ngoại trừ sự khẩn cấp của chính
sách quốc tế chung.
Pháp là thành viên của nhều công ước đa phương như: Nghị định thư Giơnevơ
về điều khoản trọng tài năm 1923; Công ước Giơnevơ về thi hành phán quyết trọng
tài năm 1927; Công ước NewYork về công nhận và thi hành phán quyết của trọng tài
nước ngoài năm 1958;…Ngoài ra, Pháp còn là thành viên của nhiều hiệp ước song

công nhận, thi hành phán quyết sẽ bị kháng cáo trong khoảng thời gian một tháng, kể
từ ngày phán quyết được đưa ra (Điều 1489). Một phán quyết trọng tài nước ngoài sẽ
được công nhận ở Pháp nếu sự tồn tại của nó là được thiết lập trên những nguyên tắc
cơ bản.
1.2.2. Sự cần thiết của trọng tài thương mại quốc tế
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay và trong bối cảnh Việt Nam đã hội nhập
vào nền kinh tế thế giới, tranh chấp kinh tế được xem là một thuộc tính mang tính quy
luật. Vì vậy, Việt Nam rất cần có những cơ quan tài phán, không chỉ tòa án mà cả
LVTN: Pháp luật về Trọng tài thương mại quốc tế GVHD:Ths. Bùi Thị Mỹ Hương
SVTH: Nguyễn Thúy Vi Trang 14
trọng tài quốc tế có đầy đủ năng lực để giải quyết những tranh chấp về kinh doanh
thương mại ngày một gia tăng và phức tạp. Vì vậy, vấn đề phát triển các dịch vụ pháp
lý để giải quyết hiệu quả các tranh chấp là nhu cầu hết sức bức thiết. Một trong những
dịch vụ pháp lý được ưa chuộng, giải quyết một cách nhanh chóng và có hiệu quả các
tranh chấp nhất là trong lĩnh vực kinh doanh thương mại đó là trọng tài thương mại.
Tuy nhiên, trước sự phát triển và nhu cầu hội nhập của đất nước, tổ chức trọng tài
thương mại Việt Nam vẫn còn thiếu và yếu về nhiều mặt. Trọng tài thương mại việt
Nam vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu cho quá trình hội nhập là do: Việt Nam chưa có
một khung pháp lý hoàn chỉnh về trọng tài; đội ngũ trọng tài viên Việt Nam còn non
trẻ về trình độ chuyên môn, nhất là khi tham gia giải quyết các tranh chấp có yếu tố
nước ngoài…
Để đảm bảo cho quá trình hội nhập vào nền kinh tế thế giới và giải quyết hiệu
quả các tranh chấp phát sinh trong lĩnh vực kinh doanh thương mại, sự cần thiết của
trọng tài thương mại là không thể phủ nhận.
1.2.2.1. Đảm bảo vào quá trình hội nhập kinh tế thế giới của Việt Nam
Đặc điểm được xem là tất yếu của nền kinh tế thị trường là thúc đẩy quá trình
mua bán trao đổi hàng hóa phát triển ngày càng mạnh. Trong khung cảnh toàn cầu
hóa hiện nay, hoạt động thương mại đang có xu hướng vượt ra khỏi phạm vi lãnh thổ
của một quốc gia. Các hoạt động thương mại xuyên quốc gia thực sự tạo ra sự cạnh
tranh khốc liệt giữa các doanh nghiệp trong nước với các doanh nghiệp nước ngoài và

vai trò tác động của bên thứ ba. Đặc điểm cơ bản của hình thức này là các bên cùng
bàn bạc, thỏa thuận để tự giải quyết những bất đồng. Trong trường hợp không thể gặp
mặt để thương lượng tìm cách giải quyết thì bên bị vi phạm có thể dùng các phương
tiện thông tin như: Thư từ, điện tín, điện báo, fax… để đề xuất ý kiến khiếu nại của
mình với bên vi phạm hợp đồng. Đồng thời, bên bị khiếu nại cũng dùng các phương
tiện thông tin tương tự để bày tỏ quan điểm của mình về việc giải quyết tranh chấp.
Thật ra đây là hình thức giải quyết tranh chấp rất phổ biến, từ lâu được giới thương
gia ưa chuộng vì rất đơn giản, không tốn kém và nói chung ít gây phương hại đến
quan hệ hợp tác vốn có của các bên. Quá trình thương lượng thành công hay thất bại
phụ thuộc vào thiện chí của các bên tranh chấp, kết quả thương lượng là giải pháp cụ
thể nhằm tháo gỡ những bế tắc hoặc những bất đồng phát sinh mà trước đó các bên
không ý thức trước được.
Ngoài những ưu điểm trên, hình thức giải quyết thông qua thương lượng cũng
có những hạn chế nhất định. Trước hết kết quả thương lượng phụ thuộc chủ yếu vào
thiện chí của các bên, nếu một trong các bên thiếu thiện chí thì quá trình giải quyết sẽ
kéo dài, thậm chí bế tắt, buộc các bên phải tìm kiếm hình thức khác và trong trường
hợp đó sẽ còn mất nhiều thời gian hơn. Mặt khác, kết quả thương lượng còn được bảo
đảm bằng sự tự giác thực hiện của các bên, nên trong nhiều trường hợp tính khả thi
thấp.
* Hòa giải:
Hòa giải là phương thức giải quyết tranh chấp do các bên thỏa thuận thông qua
sự tham gia của người thứ ba gọi là hòa giải viên. Hòa giải không phải là quá trình
phán xét đúng hay sai của các bên. Do vậy hòa giải viên không phải là người đứng ra
xét xử. Nhiệm vụ của hòa giải viên là làm người trung gian sử dụng những kỹ năng
LVTN: Pháp luật về Trọng tài thương mại quốc tế GVHD:Ths. Bùi Thị Mỹ Hương
SVTH: Nguyễn Thúy Vi Trang 16
của mình giúp các bên tìm được tiếng nói chung để giải quyết tranh chấp đạt được
giải pháp dung hòa. Trong quá trình hòa giải, hòa giải viên không có quyền đưa ra
quyết định bắt buộc các bên phải thực hiện.
Những ưu điểm và nhược điểm của hình thức hòa giải cũng giống như hình

tuân theo Điều ước quốc tế đó.
LVTN: Pháp luật về Trọng tài thương mại quốc tế GVHD:Ths. Bùi Thị Mỹ Hương
SVTH: Nguyễn Thúy Vi Trang 17
Ngoài ra, trong trường hợp xác lập hợp đồng mua bán hàng hóa ngoại thương,
các bên đã không thỏa thuận về việc xác định cơ quan xét xử tranh chấp, đồng thời
không có điều ước quốc tế nào liên quan đến các bên điều chỉnh vấn đề này, thì bên
bị vi phạm có thể lựa chọn tòa án để đưa đơn xét xử tranh chấp. Tuy nhiên, trên thực
tế trường hợp này rất ít xảy ra bởi vì tính khả thi của nó không cao. Cụ thể là: Nếu
nguyên đơn (người bị vi phạm) chọn tòa án của nước nguyên đơn để xét xử tranh
chấp, thì khả năng gọi bị đơn ra tòa để xét xử và đặc biệt là khả năng thi hành án sau
này gặp rất nhiều khó khăn. Nếu nguyên đơn chọn tòa án của nước bị đơn để xét xử
tranh chấp thì việc tòa án của nước bị đơn có thụ lý đơn kiện hay không là vấn đề
hoàn toàn nằm ngoài ý muốn của nguyên đơn.
Như vậy, ta thấy rằng nếu việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài mang tính
tôn trọng quyền thỏa thuận và ý chí của các bên để đưa ra phán quyết thì thủ tục giải
quyết tranh chấp bằng tòa án trong thương mại quốc tế cũng có thể do các bên lựa
chọn giải quyết nhưng mang tính quyền lực Nhà nước, có nghĩa là trong quá trình xét
xử các tranh chấp trong thương mại quốc tế, tòa án luôn luôn tuân thủ pháp luật của
nước mình về trình tự, thủ tục tố tụng. Do vậy việc giải quyết tranh chấp bằng hình
thức này có trình tự, thủ tục chặt chẽ, hiệu lực phán quyết của tòa án được tôn trọng,
góp phần nâng cao ý thức và tôn trọng pháp luật ở các quốc gia của các chủ thể kinh
doanh.
Tuy đặc điểm là thế nhưng đối với biện pháp tố tụng tại tòa án quốc gia, nhất
là trong hoạt động thương mại quốc tế thường ít được lưạ chọn vì những lí do:
Thứ nhất, vì một lí do rất dễ thấy là không bên nào mong muốn đưa tranh chấp
ra giải quyết tại tòa án quốc gia của bên kia, vì vậy thông thường các loại điều khoản
“tòa án” trong hợp đồng không được sử dụng phổ biến.
Thứ hai, nhìn chung thủ tục tố tụng tại tòa án tốn nhiều thời gian và phức tạp.
Phần lớn các doanh nghiệp đều có tâm lý ngại phải đối mặt với những thủ tục tố tụng
phức tạp tốn nhiều thời gian, chi phí và công sức đi lại vì ngoài hợp đồng phát sinh

chuyên gia giỏi có nhiều kinh nghiệm thực tế trong từng lĩnh vực chuyên ngành liên
quan đến tranh chấp. Ví dụ các lĩnh vực chuyên ngành rất phức tạp như: Hàng hải
quốc tế, tài chính quốc tế, bảo hiểm quốc tế…mà lĩnh vực này không phải bất cứ vị
thẩm phán nào cũng có thể hiểu biết một cách thấu đáo. Do vậy, thông thường một
phán quyết của trọng tài thường chính xác hơn, cho nên nó thỏa đáng và hợp lý hơn
so với phán quyết của tòa án.
Đặc điểm cơ bản của cơ chế giải quyết tranh chấp bằng trọng tài là sự kết hợp
hài hòa giữa hai yếu tố là thỏa thuận và tài phán. Cụ thể, thỏa thuận làm tiền đề cho
phán quyết và không thể có những phán quyết thoát ly những yếu tố đã thỏa thuận.
Do vậy vì bất kỳ lý do gì nếu một tổ chức trọng tài đưa ra một phán quyết nào đó mà
không dựa trên cơ sở thỏa thuận giữa các bên thì đó hoàn toàn không phải là một
phán quyết trọng tài theo đúng nghĩa của nó và rất có thể sẽ bị tuyên bố vô hiệu.
1.2.2.2. Đa dạng hóa các cơ quan giải quyết tranh chấp - Góp phần giải
quyết hiệu quả các tranh chấp trong kinh doanh thương mại
Đường lối đổi mới của Đảng và nhà nước ta đã tác động sâu sắc tới đời sống
kinh tế, xã hội và pháp luật. Sự chuyển hướng của nền kinh tế theo cơ chế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa khiến cho các tranh chấp trong lĩnh vực kinh tế ngày
LVTN: Pháp luật về Trọng tài thương mại quốc tế GVHD:Ths. Bùi Thị Mỹ Hương
SVTH: Nguyễn Thúy Vi Trang 19
càng đa dạng và cần được giải quyết theo các phương thức mới phù hợp. Các tranh
chấp này có thể giải quyết về thương lượng, hòa giải giữa các bên, bằng tòa án hoặc
bằng trọng tài. Phần lớn, các tranh chấp thương mại, đầu tư trên thế giới nhất là các
tranh chấp thương mại quốc tế và đầu tư nước ngoài, được giải quyết theo con đường
trọng tài nếu các bên thương lượng hoặc hòa giải không thành. Điều này xuất phát từ
những ưu việt của hình thức giải quyết bằng trọng tài so với tòa án: nhanh chóng,
mềm dẻo, đỡ tốn kém, đảm bảo uy tín và đảm bảo bí mật kinh doanh.
Tuy vậy, để trọng tài phi chính phủ (trọng tài thương mại) phát huy được các
mặt lợi đó, nhà nước vừa cần đảm bảo các điều kiện phù hợp cho việc thành lập và
hoạt động của trọng tài thương mại, vừa đảm bảo cho các quyết định mà nó đưa ra
đáp ứng các yêu cầu của pháp luật được công nhận và cho thi hành. Có được các đảm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status