BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
TRẨN THANH HOÀNG
PHÁP LUẬT VỀ TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC ÁP DỤNG
TẠI VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
TP. HỒ CHÍ MINH, NĂM 2018
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
TRẦN THANH HOÀNG
PHÁP LUẬT VỀ TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC ÁP DỤNG
TẠI VIỆT NAM
Chuyên ngành: Luật kinh tế
Mã số: 60380107
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS. VÕ TRÍ HẢO
TP. HỒ CHÍ MINH, NĂM 2018
Lời cam đoan
4. Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu .................................................... 4
5. Các phương pháp tiến hành nghiên cứu, khung lý thuyết .......................... 4
6. Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài.............................................. 4
Chương 1 .................................................................................................. 5
Khái quát chung về trọng tài tại Việt Nam .............................................. 5
1.1. Khái niệm về trọng tài .......................................................................................... 5
1.2. Các nguyên tắc giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài ........ 5
1.2.1. Nguyên tắc thỏa thuận ............................................................................................... 5
1.2.2. Nguyên tắc trọng tài viên phải độc lập khách quan vô tư khi giải quyết
tranh chấp ................................................................................................................................................... 6
1.2.3.Nguyên tắc giữ bí mật nội dung vụ việc tranh chấp ........................................ 6
1.2.4. Nguyên tắc chung thẩm. ............................................................................................ 7
1.3. Sự khác nhau giữa tố tụng Tòa Án và Trọng Tài ......................................... 7
1.3.1.Cở sở pháp lý................................................................................................................... 7
1.3.2. Thẩm quyền giải quyết : ............................................................................................ 8
1.3.3. Các giai đoạn tố tụng ................................................................................................... 8
1.3.4. Điều kiện khởi kiện ..................................................................................................... 8
1.3.5. Tính công khai của hoạt động tố tụng.................................................................. 9
1.3.6. Tính mềm dẻo, linh hoạt trong thủ tục tố tụng ................................................ 9
1.4. Ưu điểm của phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương
mại ..................................................................................................................................................... 9
1.5. Sự phát triển của trọng tài từ khi Luật trọng tài thương mại 2010 có
hiệu lực cho đến nay: ................................................................................................................10
1.6. Kinh nghiệm quốc tế - So sánh qui tắc tố tụng của Trung tâm trọng tài
SIAC và Trung tâm trọng tài VIAC .........................................................................................11
1.6.1 So sánh thẩm quyền giải quyết . ........................................................................... 11
1.6.2. So sánh qui tắc tố tụng của VIAC và SIAC ........................................................ 12
Phụ lục 1
Phụ lục 2
Danh mục chữ viết tắt
HĐTT
: Hội đồng trọng tài
PQTT
: Phán quyết trọng tài
LTM
: Luật thương mại
Luật TTTM : Luật Trọng tài thương mại
TTTM
: Trọng tài thương mại
TTTT
: Thỏa thuận trọng tài
TTV
: Trọng tài viên
pháp lý trong nước và tác động quốc tế liên quan đến hoạt động trọng tài với hi
vọng có thể chỉ ra được nguyên nhân tồn tại cũng như động lực phát triển của
trọng tài tại Việt Nam. Sau những phân tích về thực trạng, tác giả xin đề xuất
một số giải pháp để nâng cao sức hấp dẫn và khắc phục những tồn tại của trọng
tài tại Việt Nam.
Từ khóa: Trọng tài thương mại
1
Phần mở đầu
1. Lý do chọn đề tài
Hiện nay, vấ n đề toàn cầ u đang diễn ra ngày càng sâu sắc mà không một
quốc gia nào có thể đứng ngoài, các quan hệ kinh doanh thương mại quốc tế trở
nên sôi động hơn bao giờ hết và có tác động to lớn đến sự phát triển của các quốc
gia trên thế giới. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế và nhu cầu thị trường đã
tạo điều kiện cho các quan hệ thương mại phát triển, đồng thời các tranh chấp
phát sinh từ các quan hệ này tăng lên nhanh chóng với tính chất ngày càng phức
tạp như sự phát triể n của thi ̣trường .
Trong các quan hê ̣ thương ma ̣i, viê ̣c tranh chấ p xãy ra giữa các thương
nhân là viê ̣c thường xuyên , mặc dù tranh chấp không phải là điều mong muốn
của các thương nhân và họ đã rất cẩn trọng trong việc ký kế t các hơ ̣p đồ ng với
các điề u khoản có thể tiên liê ̣u trước nhằm loại bỏ các tranh chấp, song các bên
không thể khẳng định rằng sẽ không có bất kỳ tranh chấp nào xảy ra trong các
thương vụ mà họ tham gia. Vì vậy, ho ̣ cần giải quyế t tranh chấ p nếu có phát sinh
bằ ng các hình thức giải quyế t mô ̣t cách hiê ̣u quả tránh phát sinh thiê ̣t ha ̣i thêm.
Hiện nay, trên thế giới cũng như ở Việt Nam, các hình thức giải quyết tranh chấp
phổ biến đang được sử dụng bao gồm : Thương lượng, hòa giải, trọng tài, tòa án.
Thực tế hoạt động sản xuất kinh doanh đã và đang đặt ra nhu cầu hoàn thiện các
phương thức giải quyết tranh chấp thương mại hiệu quả và phù hợp với tập quán,
dẫn cụ thể .
Tuy nhiên, hình thức giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại bằng
trọng tài thương mại Việt Nam vẫn chưa được các cá nhân và tổ chức kinh tế áp
dụng nhiều trên thực tế. Nguyên nhân xuất phát từ hê ̣ thố ng pháp luật và cơ chế
hoạt động của các trung tâm trọng tài tại Việt Nam cũng như sự can thiệp của
tòa án đã gây sự thiếu tin tưởng cho các thương nhân.
Hiê ̣n nay mặc dù các doanh nhân chưa lựa cho ̣n phương thức giải quyế t
tranh chấ p trong thương ma ̣i bằ ng tro ̣ng tài nhiều, tuy nhiên để phát huy hiệu quả
hình thức giải quyết tranh chấp tại trọng tài trong điều kiện gia tăng xung đột
quyền lợi của các chủ thể khi tham gia kinh doanh cũng như trong quá trình hội
nhập kinh tế quốc tế, chúng ta cần có những nghiên cứu tương quan so sánh với
pháp luật trọng tài các nước để từ đó rút ra các bài học kinh nghiệm nhằm nâng
cao hiệu quả hình thức sử dụng trọng tài để giải quyết các tranh chấp thương mại
tại Việt Nam.
2. Giả thuyết nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu
Chúng ta đề u biế t phương pháp giải quyế t tranh chấ p bằ ng tro ̣ng tài
thương ma ̣i có nhiề u ưu điể m tuy nhiên trong giai đoạn hiện nay mặc dù việc
giải quyết tranh chấp thương mại tại tòa án đang quá tải , thời gian giải quyết
cho một vụ án kéo dài lê thê không có hồi kết cũng như việc chậm trể tại các tòa
án là việc thường xuyên hằng ngày ở huyện , nhưng tỉ lệ sử dụng trọng tài thương
mại để giải quyết tranh chấp thương mại đạt tỉ lệ rất thấp. Tại sao lại có hiện
tượng này ? Đây là vấn đề chúng ta cần nghiên cứu và tìm hiểu nguyên nhân dẫn
đến hiện tượng này và có thể hiểu sơ lược là do các doanh nhân chưa thấy được
hiệu quả các phương thức giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài là hiệu
quả hơn việc sử dụng phương thức giải quyết tranh chấp bằng con đường tố tụng
tòa án , nếu họ hiểu được các lợi ích của việc giải quyết tranh chấp thương mại
bằng trọng tài thì họ sẽ tham gia nhiều hơn.
2.1. Câu hỏi nghiên cứu
Để giải đáp vấn đề này chúng ta cần trả lời các câu hỏi như sau : Tại sao
các thương nhân tại Việt Nam rất ít sử dụng trọng tài để giải quyết các tranh chấp
trước” đăng trên báo Tiền Phong số ra ngày 20/7/2011, Bài tham luận tại Hội
nghị khoa học trẻ ĐHQG - HCM lần 1 :“ Pháp luật Việt Nam về trọng tài thương
mại trên hành trình hội nhập và phát triển“ . Bài viết về :“ Biện pháp khẩn cấp
tạm thời trong tố tụng trọng tài“ Của PGS.TS. Phạm Duy Nghĩa.
Bài viết:” Thẩm quyền của Tòa án Việt Nam khi trọng tài nước ngoài giải
quyết tranh chấp tại Việt Nam “Của Đỗ Văn Đại phân tích về mối quan hệ giữa
Tòa án quốc gia và trọng tài nước ngoài trong việc giải quyết tranh chấp thương
mại. Bài viết đã phân tích và làm rõ thẩm quyền của Tòa án Việt nam trong
trường hợp trọng tài nước ngoài được lựa chọn để giải quyết tranh chấp tại Việt
Nam.
“Tuyển tập một số văn bản về trọng tài và hòa giải thượng mại “Của Nhà
Pháp luật Việt-Pháp biên soạn năm 2010, tập hợp các văn bản pháp luật quốc tế
về trọng tài như Luật Mẫu UNCITRAL 1985, văn bản hướng dẫn của
4
UNCITRAL về tố tụng trọng tài, Các Công ước về vấn đề giải quyết tranh chấp
đầu tư giữa các quốc gia và nhà đầu tư của quốc gia khác (Công ước ICSID).
Đây là nguồn cung cấp các văn bản về luật pháp quốc tế về những vấn đề liên
quan đến trọng tài và hủy phán quyết trọng tài.
Các nhà nghiên cứu đã làm rõ vấn đề lý luận về trọng tài như khái niệm,
vai trò, thẩm quyền của trọng tài trong nền kinh tế thị trường trong điều kiện tự
do hóa thương mại và hội nhập quốc tế cũng như vấn đề hủy phán quyết trọng
tài. Tuy nhiên việc phân tích tìm hiểu lý do tại sao tố tụng trọng tài chưa được
sử dụng nhiều cũng như vấn đề hủy phán quyết trọng tài tăng cao dưới cách nhìn
của người tư vấn cho doanh nghiệp.
Nay tác giả nghiên cứu đề tài này đưới góc nhìn là một người tư vấn
doanh nghiệp tìm hiểu và phân tích các quy định pháp luật về trọng tài thương
mại và các yếu tố ảnh hưởng đến việc áp dụng trọng tài khi giải quyết tranh chấp
Chương 1
Khái quát chung về trọng tài tại Việt Nam
1.1. Khái niệm về trọng tài
Trọng tài là một hình thức giải quyết tranh chấp theo đó các bên đưa
những tranh chấp ra trước một trọng tài viên hoặc hội đồng trọng tài để giải quyết
và trọng tài sau khi xem xét vụ việc sẽ đưa ra một phán quyết ràng buộc các bên
tranh chấp. Giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại là hình thức giải
quyết tranh chấp thông qua hoạt động của trọng tài viên, với tư cách là một bên
tứ ba độc lập nhằm chấm dứt các tranh chấp bằng cách đưa ra một phán quyết
buộc các bên có tranh chấp phải thực hiện.
Theo Pháp lệnh trọng tài thương mại được Ủy ban thường vụ Quốc hội
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Khóa XI thông qua ngày 25 tháng 2
năm 2003, có hiệu lực ngày 01 tháng 07 năm 2003 (PLTTTM 2003) được hiểu
là: “Trọng tài là phương thức giải quyết tranh chấp phát sinh trong hoạt động
thương mại được các bên thỏa thuận và tiến hành theo trình tự, thủ tục tố tụng
do Pháp lệnh này quy định”3.
Theo Luật trọng tài thương mại được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 17 tháng 6 năm
2010, có hiệu lực ngày 01 tháng 01 năm 2011 (sau đây gọi tắt là Luật TTTM )
được hiểu là: “Trọng tài thương mại là phương thức giải quyết tranh chấp do
các bên thoả thuận và được tiến hành theo quy định của Luật TTTM”4.
Có thể hiểu rằng, trọng tài là một hình thức giải quyết tranh chấp, theo đó
các bên thỏa thuận đưa các tranh chấp ra trước một trọng tài viên hoặc hội đồng
trọng tài để giải quyết và trọng tài sau khi xem xét vụ việc sẽ đưa ra một phán
quyết ràng buộc các bên tranh chấp và việc giải quyết tranh chấp được thực hiện
theo một trình tự tố tụng nhất định.
1.2. Các nguyên tắc giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài
1.2.1. Nguyên tắc thỏa thuận
Thỏa thuận trọng tài là thỏa thuận giữa các bên về việc giải quyết bằng
Sự độc lập của trọng tài viên thể hiện ở việc trọng tài viên không có lợi
ích trực tiếp hoặc lợi ích liên quan trong vụ tranh chấp, không chịu sự chi phối
của bất kì cơ quan, tổ chức cá nhân nào khi giải quyết tranh chấp. Sự khách quan
được đảm bảo khi trọng tài viên thực hiện đúng vai trò của người thứ ba phân xử
đúng sai dựa trên những chứng cứ tài liệu, tình tiết của vụ việc và ra quyết định
theo quy định của pháp luật. Không thể coi trọng tài viên là vô tư trong khi làm
nhiệm vụ nếu họ có quyền lợi liên quan đến vụ tranh chấp, hay người thân thích
của họ là một trong các bên tranh chấp…
Nếu có căn cứ cho rằng trọng tài viên có thể hoặc không độc lập, vô tư
khi thực hiện nhiệm vụ thì trọng tài viên đó có thể bị thay thế. Thậm chí khi
quyết định trọng tài có hiệu lực, nếu có căn cứ chứng tỏ trọng tài viên đã vi phạm
nguyên tắc này thì phán quyết trọng tài sẽ bị tòa án tuyên hủy.
Do vị trí quan trọng của các trọng tài viên trong quá trình giải quyết tranh
chấp, một số tổ chức trọng tài còn yêu cầu các trọng tài viên xác nhận bằng văn
bản rằng họ độc lập với các bên tranh chấp. Đây là vấn đề mà tòa án trọng tài
quốc tế thuộc phòng thương mại quốc tế ICC rất quan tâm. Tuy nhiên, ngoài việc
độc lập, khách quan, vô tư, căn cứ vào pháp luật để giải quyết tranh chấp thì
trọng tài viên còn cần phải tôn trọng sự thỏa thuận của các bên.
1.2.3.Nguyên tắc giữ bí mật nội dung vụ việc tranh chấp
Đây là nghĩa vụ của trọng tài viên khi giải quyết vụ việc vì một trong các
lý do để các bên đương sự lựa chọn trọng tài đó là bảo đảm tính bí mật của tranh
chấp. Do vậy, các trọng tài viên không được phép tiết lộ nội dung của tranh chấp
khi không được các bên đồng ý. Ngoài ra, nguyên tắc này còn được thể hiện ở
7
việc sẽ không có người ngoài được tham dự vào phiên xét xử trọng tài nếu các
đương sự không cho phép.
1.2.4. Nguyên tắc chung thẩm.
trong cơ cấu thiết chế của bộ máy Nhà nước. Đối với trọng tài vụ việc, trọng tài
cũng hoàn toàn do các bên tự thành lập và không phải là cơ quan nhà nước. Chính
8
sự khác biệt cơ bản này giữa tòa án và trọng tài đã quyết định sự các sự khác biệt
khác trong thủ tục tố tụng tòa án và tố tụng trọng tài.
1.3.2. Thẩm quyền giải quyết :
Thẩm quyền theo vụ việc: dưới góc độ thẩm quyền theo vụ việc, tòa án
có thẩm quyền rộng hơn so với trọng tài. Tòa án có thẩm quyền giải quyết hầu
như tất cả các loại tranh chấp phát sinh trong cuộc sống như kinh doanh thương
mại, thừa kế, hôn nhân gia đình, trách nhiệm ngoài hợp đồng, v.v. Tòa án cũng
có thể giải quyết những việc dân sự không phải là tranh chấp. Trong khi đó, trọng
tài chỉ có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp có yếu tố thương mại.5
Tuy nhiên đối với tòa án, không phải vụ tranh chấp trong kinh doanh nào
cũng được tòa thụ lý giải quyết. Đơn kiện chỉ được tòa án thụ lý giải quyết khi
được chuyển đến Tòa án có thẩm quyền giải quyết. Ngược lại, trong tố tụng trọng
tài không đặt ra vấn đề thẩm quyền về mặt lãnh thổ. Các bên tranh chấp có quyền
lựa chọn bất cứ trung tâm trọng tài nào để giải quyết cho mình theo ý muốn và
sự tín nhiệm của họ. Khi tranh chấp đã được các bên thỏa thuận đưa ra trung tâm
trọng tài nào giải quyết thì trung tâm đó có quyền thụ lý tranh chấp.
1.3.3. Các giai đoạn tố tụng
Trong tố tụng trọng tài, trọng tài chỉ xét xử một lần các tranh chấp thương
mại. Phán quyết của trọng tài là quyết định chung thẩm, có hiệu lực thi hành
ngay, không bị kháng cáo, kháng nghị6. Trong khi đó, trong tố tụng tòa án có
nhiều cấp xét xử từ sơ thẩm đến phúc thẩm, trong một số trường hợp phán quyết
của tòa án còn có thể được xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm và tái thẩm.
Chính vì thủ tục tố tụng tòa án phải thông qua nhiều giai đoạn xét xử khác nhau
đôi khi có thể dẫn tới việc kéo dài thời gian xét xử, đây là điều mà các nhà kinh
cứ để trọng tài ra quyết định sẽ không được công bố công khai trừ khi các bên
có yêu cầu.
1.3.6. Tính mềm dẻo, linh hoạt trong thủ tục tố tụng
Tố tụng trọng tài là một thủ tục hết sức mềm dẻo và linh hoạt. Các thủ tục
tố tụng đơn giản, thuận tiện, đảm bảo thời cơ kinh doanh của các bên tranh chấp,
ví dụ: trong tố tụng trọng tài các bên có thể chọn tổ chức trọng tài, chọn trọng tài
viên mà mình tín nhiệm, các bên cũng có thể chọn địa điểm để tiến hành trọng
tài mà thấy là thuận tiện, thậm chí các bên có thể thỏa thuận với nhau lập ra quy
tắc tố tụng áp dụng cho vụ kiện.
Trong khi đó, tố tụng tòa án bị ràng buộc bởi luật tố tụng nghiêm ngặt,
phải tuân thủ các yêu cầu nhiều khi mang tính nghi thức, luật áp dụng được coi
là bất di bất dịch. Theo ướt tính từ khi nộp đơn khởi kiện đến xét xử sơ thẩm có
thể kéo dài 12-18 tháng, giai đoạn phúc thẩm có thể phải mất thêm 12 tháng, tức
tổng cộng trung bình là 26 tháng. Đó là chưa kể đến thời gian tạm đình chỉ vụ án
liên quan đến thời gian giám định, khoảng cách của các lần triệu tập lấy lời khai,
hòa giải, xét xử, v.v... Ngay cả khi vụ án đã được đưa ra xét xử nhưng phiên tòa
vẫn có thể bị tạm ngừng mà không biết bao giờ mới được mở lại. Ngoài ra, tuy
tố tụng Tòa án chỉ có hai cấp xét xử sơ thẩm và phúc thẩm để bản án có hiệu lực
thi hành, nhưng số lượng án bị hủy bởi giám đốc thẩm ngày một tăng bởi lỗi vi
phạm tố tụng của chính thẩm phán phụ trách mà đương sự phải hứng chịu cũng
như các bước giải quyết giám đốc thẩm , tái thẩm.
1.4. Ưu điểm của phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương
mại
Thực tiễn hoạt động giải quyết tranh chấp kinh doanh - thương mại bằng
trọng tài cho thấy có một số ưu điểm sau:
Phán quyết của trọng tài là chung thẩm8 và vì vậy nó có giá trị bắt buộc
đối với các bên, các bên không thể chống án hay kháng cáo. Việc xét xử tại trọng
tài chỉ diễn ra ở một cấp xét xử, đó cũng chính là điều khác biệt cơ bản so với
8
giải quyết tranh chấp bằng tòa án. Tòa án khi xét xử phải tuân thủ một cách đầy
đủ và nghiêm ngặt các quy định có tính chất quy trình, thủ tục, trình tự được quy
định trong Bộ luật tố tụng dân sự và các văn bản hướng dẫn liên quan. Thực tiễn
cho thấy giải quyết tranh chấp bằng trọng tài VIAC thường kéo dài tối đa là 6
tháng, trong khi đó giải quyết tranh chấp tại Tòa án có trường hợp kéo dài mấy
năm.
1.5. Sự phát triển của trọng tài từ khi Luật trọng tài thương mại 2010 có
hiệu lực cho đến nay:
Qua gần 07 năm thực hiện, Pháp lệnh TTTM 2003 đã bộc lộ không ít hạn
chế, bất cập và cần được khắc phục kịp thời. Những vấn đề cần được xem xét
hoàn thiện như: thỏa thuận trọng tài vô hiệu, việc áp dụng biện pháp khẩn cấp
tạm thời, việc triệu tập nhân chứng, vấn đề xem xét thỏa thuận trọng tài, thẩm
quyền của Hội đồng trọng tài, việc hủy quyết định trọng tài mà đặc biệt là cơ chế
hỗ trợ của Tòa án, Cơ quan thi hành án đối với các quyết định của trọng tài.
11
Để khắc phục những bất cập trong một số quy định của PLTTTM 2003,
Luật trọng tài tài thương mại đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 17 tháng 6 năm 2010, có hiệu
lực ngày 01 tháng 01 năm 2011. Luật TTTM được ban hành trong điều kiện đất
nước ta đang ngày càng hội nhập sâu rộng vào thế giới, vì thế đã giúp cho Pháp
luật về trọng tài của Việt Nam tiến gần hơn với Luật mẫu Uncitral , đưa hoạt
động của trọng tài thương mại tại Việt Nam sẽ bước sang một giai đoạn phát
triển mới.
Trên cơ sở kế thừa những điểm tiến bộ và khắc phục những điểm hạn chế
của Pháp lệnh trọng tài 2003, ngày 17/06/2010, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua Luật trọng tài thương mại năm 2010, gồm 13
chương, 82 điều. Luật mới có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2011 và thay thế
mẫu UNCITRAL thì khái niệm thương mại được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm
tất cả các mối quan hệ có bản chất thị trường, dù là quan hệ hợp đồng hay là
quan hệ ngoài hợp đồng.
Vì vậy, thẩm quyền của trọng tài thương mại vẫn được quy định khá rộng.
Thẩm quyền giải quyết của trọng tài Singapore sẽ được quy định trong các văn
bản pháp luật của Singapore qua đó các tranh chấp thuộc thẩm quyền của trung
tâm trọng tài quốc tế SIAC là các tranh chấp về hợp đồng mua bán hàng hóa
quốc tế, vận chuyển hàng hóa bằng đường biển, bảo hiểm ngân hàng, ngân hàng,
đầu tư,thanh toán quốc tế….và những tranh chấp muốn giải quyết thì hai bên bắt
buộc phải có thỏa thuận về trọng tài.
Thoả thuận trọng tài có thể cho những tranh chấp đang xảy ra và cũng có
thể cho những vụ làm ăn trong tương lai. Ví dụ, khi ký một hợp đồng, hai bên có
thể đưa ra điều khoản trọng tài (thoả thuận trọng tài): mọi tranh chấp (nếu có) sẽ
giải quyết bằng thương lượng, hoà giải giữa hai bên, nếu không hoà giải được,
tranh chấp sẽ đưa ra xử tại trung tâm trọng tài Singapore).
Các quy định của pháp luật Singapore điều chỉnh về hoạt động của trọng
tài là tương đối gần với những quy định trong luật mẫu UNCITRAL. Tác giả
thấy rằng việc tiếp cận các luật mẫu và quy tắc mẫu đó chính là xu hướng
phát triển, hoàn thiện trong pháp luật của Singapore về trọng tài thương mại quốc
tế, tạo điều kiện thuận lợi cho Singapore dễ dàng tiến hành thủ tục tố tụng trọng
tài, tiến hành công nhận và thi hành phán quyết trọng tài nước ngoài một cách
dễ dàng.
1.6.2. So sánh qui tắc tố tụng của VIAC và SIAC
Quy tắc
VIAC 2012
SIAC 2016
1. Bắt đầu tố Đ 5: Khi Ban thư ký của Đ.3.3: Khi Tổng thư ký nhận
Bản trả lời có thể coi là Bản
tự bảo vệ
khởi Đ.7.1: Đơn khởi kiện phải
có tóm tắt nội dung tranh
chấp, cơ sở khởi kiện, trị
giá vụ tranh chấp và các
yêu cầu khác của Nguyên
đơn
Đ.20.2: Bản trình bày khiếu
nại bao gồm tình tiết vụ việc,
cơ sở pháp lý hoặc lập luận hỗ
trợ cho khiếu nại, BPKCTT
và số tiền
5. Bản tự bảo vệ Đ.9: Trong vòng 30 ngày
hoặc theo yêu cầu gia hạn,
có thể lâu hơn, trong đó Bị
đơn nêu rõ cơ sở pháp lý
của bản tự bảo vệ
Đ.20.3 – 20.4: Trong thời hạn
do HĐTT quyết định, Bị đơn
nộp Bản biện hô trình bày các
sự việc hay đơn khiếu nại
ngược lại (nếu có); cơ sở
pháp lý hoặc lập luận hỗ trợ
và biện pháp khẩn cấp tạm
thời được yêu cầu.
14
Tịch trung tâm VIAC sẽ
chỉ định
8. Tranh chấp Đ.15: Gộp nhiều vụ tranh Đ.8 và Đ.12: Trường hợp 1
chấp vào một vụ tranh TTV: nếu tất cả các bên
có nhiều bên
chấp.
không chỉ định được, Chánh
Các bên có thể thỏa thuận Tòa SIAC chỉ định
gộp nhiều vụ tranh chấp Trường hợp 3 TTV: Khi có
vào một vụ tranh chấp.
nhiều bên Nguyên đơn và Bị
đơn, nếu không có thỏa thuận
khác, các Nguyện đơn và Bị
đơn sẽ cùng chỉ định TTV
cho bên mình
9. Địa điểm Đ.22: Trừ khi có thỏa Đ.21: Trừ khi có thỏa thuận,
thuận, HĐTT sẽ quyết định HĐTT sẽ quyết định
Trọng tài
10. Ngôn ngữ Đ.23: Không có yếu tố Đ.22: Trừ khi có thỏa thuận,
nước ngoài: Tiếng Việt
HĐTT sẽ quyết định
Trọng tài
Có yếu tố nước ngoài: Các
bên thỏa thuận. Không có
thỏa thuận, HĐTT quyết
định, có tính đến ngôn ngữ
Hợp đồng
15
cần thiết HĐTT có thể đề quan và vai trò của các chứng
nghị Tòa án triệu tậpngười cứ đó
làm chứng.
Đ.25: HĐTT thông báo
trước 15 ngày cho các bên
về thời gian, địa điểm.
Phiên họp được tiến hành
không công khai
Đ.24.2: HĐTT thông báo
trước cho các bên về thời
gian, địa điểm. Phiên họp
được tiến hành không công
khai
14. Vắng mặt 1 Đ.27: Nguyên đơn vắng
mặt tại phiên họp thì coi
bên
như là rút đơn trừ khi Bị
đơn yêu cầu tiếp tục. Bị
đơn vắng mặt, HĐTT vẫn
tiếp tục giải quyết
Đ.24.3: Nếu 1 bên không có
mặt tại một cuộc họp hoặc
phiên họp giải quyết tranh
chấp mà không có lý do,
HĐTT có thể tiến hành tố
họp cuối cùng trên cở sở
biểu quyết đa số, có chữ ký
của các TTV và gửi cho các
bên bới VIAC
Đ.32: Phán quyết phải được
gửi cho Tổng thư ký chậm
nhất 45 ngày sau khi kết thúc
để rà soát và chấp thuận và sẽ
được chuyển cho các bên bản
sao chứng thực
16
19. Sửa chữa Đ.33: Trong vòng 30 ngày
kể từ ngày nhận phán
phán quyết
quyết, một bên có thể yêu
cầu HĐTT sửa chữa hoặc
ban hành phán quyết bổ
sung, HĐTT có thể tự mình
sửa chữa phán quyết, giải
thích và ban hành phán
quyết bổ sung trong vòng
30 ngày kể từ ngày lập
phán quyết hoặc được yêu
cầu
20. Kháng cáo
quyết hợp tình hợp lý sẽ làm cho các bên có sự tin tưởng tốt hơn trong quan hệ
làm ăn có thể diễn ra trong tương lai.
So sánh quy tắc tố tụng trọng tài tại VIAC và quy tắc tố tụng trọng tài của
SIAC, chúng ta có thể rút ra bài học kinh nghiệm trong việc áp dụng quy tắc tố
tụng; thủ tục tố tụng hay lựa chọn trọng tài viên có kinh nghiệm và trình độ
chuyên môn vững vàng để có thể giải quyết hiệu quả các tranh chấp thương mại
được yêu cầu và từ đó củng cố lòng tin của thương nhân, thu hút tranh chấp
thương mại để giải quyết. Ngoài ra là cần có các chính sách thu hút và tạo điều
kiện cho các chuyên gia có năng lực và uy tín như các trọng tài viên của SIAC.
17
Chương 2
Các yếu tố tác động đến Trọng tài thương mại
tại Việt Nam
Từ các số liệu thống kê9 cũng như thực tiễn hiện nay là hầu hết các hợp
đồng giữa các thương nhân trong nước với nhau ít có thỏa thuận việc giải quyết
tranh chấp thông qua trọng tài thương mại . Điều này dẫn đến hầu hết các tranh
chấp thương mại được giải quyết tại Tòa án dẫn đến việc quá tải ở các hệ thống
Tòa án.
Khi nền kinh tế được coi là kinh tế thị trường thì một trong các yếu tố đó
là hệ thống tư pháp minh bạch và có các thiết chế xã hội dân chủ được vận hành.
Trong việc giải quyết tranh chấp trong hoạt động kinh doanh thì việc thỏa thuận
sử dụng trọng tài thương mại để giải quyết tranh chấp là một phương thức thuận
tiện phù hợp với các tiêu chí dân chủ và tự chủ trong các hoạt động kinh doanh
thương mại. Trong qúa trình tố tụng trọng tài thì việc phối và hổ trợ của các cơ
quan tư pháp là việc làm cần thiết. Tố tụng trọng tài với cơ chế quyền lực được
tạo ra bởi các bên tham gia thỏa thuận trọng tài vì vậy nó chỉ có hiệu lực đối các
bên thỏa thuận nó không có hiệu lực đối với người khác. Vì vậy nó rất cần sự hổ
thương mại nhưng được pháp luật có liên quan quy định, Luật cũng khắc phục
việc phân định không rõ ràng phạm vi thẩm quyền của trọng tài, trên cơ sở đó
bảo đảm sự tương thích giữa các văn bản pháp luật hiện hành như Bộ luật Dân
sự, Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật thương mại, Luật đầu tư và luật chuyên ngành.
Còn trong pháp lệnh TTTM quy định chỉ có tổ chức kinh doanh hoặc cá nhân
kinh doanh mới có quyền lựa chọn trọng tài.
Thực tiễn áp dụng cho thấy, việc giới hạn phạm vi chủ thể tranh chấp chỉ
bao gồm “tổ chức kinh doanh” và “cá nhân kinh doanh” khiến các bên tranh chấp
và các trung tâm trọng tài gặp nhiều khó khăn, vướng mắc.
Đối với thuật ngữ: “Cá nhân kinh doanh” trước dây do Pháp lệnh TTTM
và các văn bản hướng dẫn thi hành Pháp lệnh không giải thích thế nào là “Cá
nhân kinh doanh” nên có nhiều cách hiểu khác nhau về thuật ngữ này. Có quan
điểm cho rằng, bất kỳ một cá nhân nào bỏ vốn ra để đầu tư, kinh doanh đều được
gọi là cá nhân kinh doanh nhưng quan điểm khác lại cho rằng để được gọi là “Cá
nhân kinh doanh” thì cá nhân đó phải có đăng ký kinh doanh.
Ngoài ra, thuật ngữ: “Tổ chức kinh doanh” đã bỏ sót nhiều đơn vị tổ chức
tuy không có chức năng kinh doanh nhưng có tham gia vào là một bên của hoạt
động thương mại như các ban quản lý dự án, cơ quan hành chính sự nghiệp tham
gia đấu thầu hoặc giao kết các hợp đồng, kể cả các hợp đồng mua sắm chính phủ,
trong đó sử dụng trọng tài theo khuyến nghị của các nhà tài trợ, định chế tài
chính quốc tế như Ngân hàng thế giới, Ngân hàng Phát triển châu Á v.v.
Những điểm bất cập trên đã khiến các trung tâm trọng tài phải từ chối giải
quyết nhiều vụ tranh chấp do các bên tranh chấp không phải là “Tổ chức kinh
doanh” hoặc “Cá nhân kinh doanh”. Rút kinh nghiệm từ thực tế này, Luật TTTM
không có giới hạn về phạm vi chủ thể tranh chấp. Tổ chức, cá nhân bất kỳ đều
có thể thỏa thuận lựa chọn trọng tài để giải quyết tranh chấp miễn là lĩnh vực
tranh chấp phát sinh từ hoạt động thương mại.
Luật TTTM đã khắc phục được sự không rõ ràng của Pháp lệnh TTTM
về các trường hợp thoả thuận trọng tài vô hiệu. Điều 18 của Luật giới hạn 06 tình
huống thoả thuận trọng tài bị coi là vô hiệu gồm: