PHÁP LUẬT VỀ TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ - Pdf 27

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
BỘ MÔN KINH DOANH - THƯƠNG MẠI
 ----
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
KHÓA 31 (2005 – 2009)
ĐỀ TÀI:
PHÁP LUẬT VỀ
TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN: SINH VIÊN THỰC HIỆN:
Ths. BÙI THỊ MỸ HƯƠNG NGUYỄN THÚY VI
MSSV: 5055019
Lớp: Luật Thương Mại 02 - K31
Cần Thơ, 4/ 2009LỜI CẢM ƠN!
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến Thạc
sĩ Bùi Thị Mỹ Hương, người đã tận tình hướng dẫn và
tạo điều kiện tốt nhất để tôi hoàn thành luận văn tốt
nghiệp của mình. Đồng thời, tôi xin gửi lời cảm ơn đến
quý thầy cô trong Khoa Luật đã tạo nền tảng kiến thức
cho tôi trong suốt khóa học. Tôi cũng muốn gửi lời cảm
ơn đến Thư viện Khoa Luật Trường Đại học Cần Thơ,
Trung tâm học liệu của trường và Thư viện Thành phố
Cần Thơ đã giúp tôi có được những tài liệu tham khảo có
giá trị trong quá trình thực hiện đề tài.
Cuối cùng, tôi muốn gửi lời cảm ơn sâu sắc đến
gia đình và bạn bè – những người đã động viên, giúp đỡ
tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp.
Xin chân thành cảm ơn! NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
  
............................................................................................................................................
............................................................................................................................................

............................................................................................................................................
............................................................................................................................................
............................................................................................................................................NH
ẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN PHẢN BIỆN
  
............................................................................................................................................
............................................................................................................................................
............................................................................................................................................
............................................................................................................................................
............................................................................................................................................
............................................................................................................................................
............................................................................................................................................
............................................................................................................................................
............................................................................................................................................
............................................................................................................................................
............................................................................................................................................
............................................................................................................................................
............................................................................................................................................
............................................................................................................................................
............................................................................................................................................
............................................................................................................................................
............................................................................................................................................
............................................................................................................................................
............................................................................................................................................
............................................................................................................................................
............................................................................................................................................
............................................................................................................................................
............................................................................................................................................
............................................................................................................................................
............................................................................................................................................

1.1.3.1. Trọng tài vụ việc.................................................................................9
1.1.3.2. Trọng tài thường trực........................................................................10
1.2. Cơ sở lý luận về vấn đề trọng tài thương mại quốc tế.....................................11
1.2.1. Lược khảo về trọng tài thương mại quốc tế các nước trên thế giới...........11
1.2.1.1. Luật trọng tài Mỹ..............................................................................11
1.2.1.2. Luật trọng tài Pháp ...........................................................................12
1.2.2. Sự cần thiết của trọng tài thương mại quốc tế..........................................13
1.2.2.1. Đảm bảo vào quá trình hội nhập kinh tế thế giới của Việt Nam.........14
1.2.2.2. Đa dạng hóa các cơ quan giải quyết tranh chấp - Góp phần giải quyết
hiệu quả các tranh chấp trong kinh doanh thương mại ...................................18
1.2.2.3. Cung cấp cho các nhà kinh doanh một mô hình giải quyết tranh chấp
có khả năng đáp ứng những nhu cầu có tính nghề nghiệp của họ...................20
CHƯƠNG 2: PHÁP LUẬT VỀ TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ...... 22
2.1. Khái quát chung về Trọng tài thương mại quốc tế..........................................22
2.1.1. Thẩm quyền của Trọng tài thương mại quốc tế........................................22
2.1.2. Vấn đề chọn luật áp dụng trong việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài
trong thương mại quốc tế ..................................................................................24
2.1.3. Thi hành quyết định trọng tài ..................................................................31
2.2. Vấn đề công nhận và thi hành phán quyết của trọng tài thương mại quốc tế...32
2.2.1. Sự cần thiết của việc công nhận và thi hành các quyết định của trọng tài
thương mại quốc tế ...........................................................................................32
2.2.1.1. Công nhận và thi hành các quyết định của trọng tài nước ngoài ở các
quốc gia.........................................................................................................32
2.2.1.2. Công nhận và thi hành tại Việt Nam các quyết định của trọng tài nước
ngoài: ............................................................................................................35
2.2.2. Các điều kiện công nhận và thi hành các quyết định của trọng tài thương
mại....................................................................................................................37
2.2.2.1. Vấn đề xác định giá trị pháp lý của thỏa thuận trọng tài ....................38
2.2.2.2. Xác định thẩm quyền của trọng tài....................................................38
2.2.2.3. Vấn đề liên quan thành phần trọng tài và tố tụng trọng tài ................41

do kinh doanh theo quy định của pháp luật”. Và không phải lúc nào các quan hệ kinh
tế cũng được các bên tham gia thực hiện chính xác và đầy đủ mà tất yếu có xảy ra
tranh chấp, đặc biệt là trong hoạt động thương mại quốc tế khi các chủ thể giao dịch
thuộc các hệ thống pháp luật và văn hóa kinh doanh khác nhau. Mà tranh chấp nào
cũng vậy, chúng cần phải được giải quyết thỏa đáng, nhanh chóng và kịp thời. Có
như vậy mới có thể bảo vệ được quyền và lợi ích của các chủ thể kinh doanh và tạo ra
môi trường kinh doanh lành mạnh, tạo thuận lợi về mặt pháp lý và kinh tế trong việc
thực hiện chính sách chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, mở rộng và phát triển quan
hệ kinh tế thương mại với nước ngoài.
Trong bối cảnh Việt Nam là thành viên chính thức của tổ chức Thương mại
quốc tế, quan hệ thương mại quốc tế ngày càng mở rộng, khả năng phát sinh tranh
chấp càng lớn, không chỉ các dịch vụ pháp lý mà cả Nhà nước cũng phải bước vào
các vấn đề pháp lý không quen thuộc. Việc giải quyết tốt các tranh chấp phát sinh là
một trong những yếu tố thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế và hội nhập, góp phần
xây dựng môi trường kinh doanh an toàn, bình đẳng, tạo tâm lý tốt cho các nhà kinh
doanh và đầu tư. Ở những nước có nền kinh tế phát triển mạnh, việc giải quyết tranh
chấp trong lĩnh vực kinh tế thương mại bằng trọng tài là một trong những phương
thức phổ biến. Vấn đề trọng tài ở Việt Nam ta cũng ra đời từ rất sớm từ đầu những
năm 1960 khi mà Việt Nam thành lập hai tổ chức trọng tài bên cạnh Phòng Thương
mại và Công nghiệp Việt Nam: Hội đồng Trọng tài Ngoại thương năm 1963 và Hội
đồng Trọng tài Hàng hải năm 1964. Đến năm 1993 hai tổ chức trọng tài thường trực
này đã được hợp nhất thành Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (viết tắt tiếng
Anh là VIAC) như ngày nay. Nhưng trong suốt những thập kỷ 60, 70 và 80 vừa qua
thương mại quốc tế của Việt Nam chủ yếu được tiến hành bởi các doanh nghiệp nhà
nước Việt Nam với các đối tác cũng là doanh nghiệp nhà nước của các nước xã hội
LVTN: Pháp luật về Trọng tài thương mại quốc tế GVHD:Ths. Bùi Thị Mỹ Hương
SVTH: Nguyễn Thúy Vi Trang 2
chủ nghĩa trong khuôn khổ Hội đồng Tương trợ Kinh tế (khối Comecon). Doanh
nghiệp Việt Nam chỉ thực sự biết đến trọng tài khi Việt Nam mở cửa kinh tế từ năm
1986 và phát triển nền kinh tế thị trường với nhiều thành phần. Tuy ra đời sớm là vậy

Qua đề tài này, người viết hy vọng góp phần nhỏ trong việc tìm hiểu giải pháp
để giải quyết các vấn đề này từ việc phân tích các vấn đề còn tồn tại trong các quy
định của pháp luật Việt Nam.LVTN: Pháp luật về Trọng tài thương mại quốc tế
GVHD:Ths. Bùi Thị Mỹ Hương
SVTH: Nguyễn Thúy Vi Trang 3
4. Kết cấu đề tài
Mục lục
Lời nói đầu
Chương 1: Tổng quan về vấn đề Trọng tài thương mại quốc tế.
Chương 2: Pháp luật về Trọng tài thương mại quốc tế.
Chương 3: Một số vướng mắc theo quy định của pháp luật Việt Nam về vấn đề
Trọng tài thương mại quốc tế và hướng hoàn thiện.
Kết luận
Danh mục tài liệu tham khảo
5. Phương pháp nghiên cứu
Từ những dữ liệu khoa học, sách báo, tạp chí khoa học, bài nghiên cứu khoa
học kể cả tham khảo bài viết từ các website người viết đã vận dụng phương pháp duy
vật biện chứng của Chủ nghĩa Mác – Lênin, phân tích, so sánh, tổng hợp các tài liệu,
tóm tắt và rút ra những ý chính, quan trọng và cần thiết để giới thiệu một cách khái
quát nhất quy định của pháp luật về Trọng tài thương mại quốc tế.
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, với sự nổ lực rất lớn của bản thân nhưng do
năng lực hiểu biết về kiến thức pháp luật, nguồn tài liệu về các lĩnh vực liên quan còn
hạn chế nên bài viết không tránh khỏi những thiếu sót. Kính mong được sự góp ý
kiến của quý thầy cô, các bạn sinh viên và những người quan tâm đến đề tài để bài
viết được hoàn thiện hơn.
LVTN: Pháp luật về Trọng tài thương mại quốc tế GVHD:Ths. Bùi Thị Mỹ Hương
SVTH: Nguyễn Thúy Vi Trang 4
CHƯƠNG 1:
TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI
QUỐC TẾ

ngoài ở đây thường được hiểu khi có một trong ba trường hợp sau:
Thứ nhất: Một trong các bên có quốc tịch hoặc nơi cư trú ở nước ngoài; LVTN: Pháp luật
về Trọng tài thương mại quốc tế GVHD:Ths. Bùi Thị Mỹ Hương
SVTH: Nguyễn Thúy Vi Trang 5
Thứ hai: Khách thể là tài sản ở nước ngoài;
Thứ ba: Sự kiện làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt mối quan hệ xảy ra ở
nước ngoài.
Từ những phân tích trên ta có thể định nghĩa một cách khái quát về trọng tài
thương mại quốc tế như sau: “Trọng tài thương mại quốc tế là trọng tài được thành
lập để giải quyết các tranh chấp có ít nhất một trong hai tiêu chí sau đây: Sự khác
nhau về quốc tịch và tính chất quốc tế của giao dịch”.
Tuy nhiên trên thực tế, trọng tài thương mại quốc tế không chỉ giải quyết các
tranh chấp giữa các bên có quốc tịch khác nhau mà còn cả các tranh chấp khi quốc
tịch của các bên khác nhau nếu việc thực hiện hợp đồng ở nước khác với nước mà họ
có quốc tịch. Như vậy sự khác nhau về quốc tịch của các bên không là yếu tố quan
trọng quyết định sự hình thành trọng tài thương mại quốc tế mà yếu tố quốc tế được
hiểu là nơi kinh doanh của một trong các bên, nơi đặt trọng tài, nơi có hành vi thương
mại chủ yếu liên quan thỏa thuận. Đồng thời đặc điểm cơ bản của trọng tài thương
mại quốc tế của các tổ chức quốc tế là không chịu sự quản lý của bất kỳ quốc gia nào
kể cả quốc gia mà nó có trụ sở. Ví dụ: Trung tâm Trọng tài quốc tế ICC (International
Chamber of Commerce), Trung tâm Trọng tài quốc tế khu vực KuaLaLamPur
(Regional Centre International Commercial Arbitration in KuaLaLamPur)…
1.1.1.2. Thỏa thuận trọng tài
Trong nền kinh tế thị trường, việc lựa chọn các phương thức giải quyết tranh
chấp kinh tế phụ thuộc vào ý chí của các bên đương sự. Vì vậy, bất kỳ một tranh chấp
nào thuộc thẩm quyền xét xử của trọng tài chỉ được giải quyết bằng trọng tài nếu như
các bên có thỏa thuận.
Thỏa thuận trọng tài là hình thức pháp lý trong đó các chủ thể của các quan hệ
kinh tế thể hiện sự nhất trí về việc sẽ đưa các tranh chấp đã hoặc có thể phát sinh đến
trọng tài để giải quyết theo một nguyên tắc của một tổ chức trọng tài nhất định. Thỏa

luật khác.
Thông thường, vấn đề hiệu lực của một thỏa thuận trọng tài được một trong
các bên nêu ra vào một giai đoạn nào đó trong quá trình tố tụng trọng tài. Khi bắt đầu
tố tụng trọng tài, một bên có thể tìm kiếm khước từ thỏa thuận trọng tài với lý do thỏa
thuận đó không có hiệu lực. Bên bị tố tụng trọng tài chống lại sẽ là bên đưa ra khước
từ. Sự khước từ có thể đưa ra chính ủy ban trọng tài hoặc một tòa án có thẩm quyền
xem xét quyết định.
1.1.2. Đặc điểm của trọng tài
1.1.2.1. Phát sinh khi có thỏa thuận
Một điều khoản trọng tài soạn thảo không rõ ràng, hoặc không đầy đủ sẽ đi
ngược lại sự mong đợi của các bên, những người phải nhờ đến trọng tài giải quyết.
Giống như tòa án quốc gia, trọng tài cũng là một phương thức tài phán giải
quyết tranh chấp thương mại. Nhưng trọng tài là một phương thức giải quyết tranh
chấp riêng tư và bí mật, dựa trên thỏa thuận của các bên. Nguyên tắc chung là “không
có thỏa thuận giải quyết bằng phương thức trọng tài, không có tố tụng trọng tài”. Trừ
một số ngoại lệ, các bên phải thỏa thuận trong hợp đồng là sử dụng phương thức này,
và xác định chi tiết các phương thức điều chỉnh tố tụng hoặc dựa vào các quy tắc tố
tụng trọng tài của một tổ chức trọng tài thường trực. Ngoài việc thỏa thuận giải quyết
tranh chấp phát sinh bằng trọng tài, các bên còn có thể thỏa thuận về các vấn đề như:
luật áp dụng, thời gian, địa điểm giải quyết tranh chấp, ngôn ngữ dùng trong xét
xử,…LVTN: Pháp luật về Trọng tài thương mại quốc tế GVHD:Ths. Bùi Thị Mỹ Hương
SVTH: Nguyễn Thúy Vi Trang 7
1.1.2.2. Thủ tục giải quyết đơn giản, nhanh chóng
Nhìn chung, cơ chế giải quyết tranh chấp bằng trọng tài có thủ tục giải quyết
đơn giản, đảm bảo giải quyết nhanh chóng các tranh chấp, tiết kiệm thời gian của các
bên. Đây cũng chính là ưu điểm nổi bật mà các nhà kinh doanh xem trọng tài thương
mại là lựa chọn hàng đầu khi xảy ra tranh chấp. Đối với nhà kinh doanh thì “thời gian
là tiền bạc, là cơ hội”, là những yếu tố góp phần vào sự thành bại trong kinh doanh.
Vì thế trọng tài trở nên hấp dẫn đối với những ai không muốn đồng vốn của nình bị
giam giữ quá lâu vì sự kiện tụng kéo dài. Tố tụng trọng tài được đánh giá là linh hoạt,

Thị Mỹ Hương
SVTH: Nguyễn Thúy Vi Trang 8
tụng tòa án. Giải quyết nhanh chóng các tranh chấp phát sinh luôn tạo được sự ưa
chuộng của các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường hiện nay.
1.1.2.3. Xét xử không công khai
Có thể thấy, tính bí mật áp dụng cho trọng tài thường bảo đảm sự tĩnh lặng
hơn trong tố tụng so với tòa án quốc gia, tức là không ai có quyền tham dự phiên hợp
xét xử nếu không được sự đồng ý của các bên trong vụ tranh chấp. Đồng thời, phán
quyết của trọng tài cũng không được công bố rộng rãi. Cơ chế này đảm bảo được bí
mật kinh doanh và uy tín nghề nghiệp cho các bên thương nhân có liên quan tới vụ
tranh chấp.
Có thể nói đây là một trong các đặc điểm thu hút ngày càng nhiều doanh nhân
lựa chọn trọng tài là phương thức giải quyết các tranh chấp phát sinh trong hoạt động
của mình. Thông thường, các doanh nghiệp không muốn cho các đối tác khác biết về
tình hình kinh doanh của họ nhất là khi đang xảy ra tranh chấp. Điều đó cũng ít nhiều
ảnh hưởng đến việc kinh doanh cũng như uy tín của doanh nghiệp. Việc xét xử công
khai, một mặc tiết lộ bí mật kinh doanh của doanh nghiệp; mặt khác việc đưa tin về
vụ tranh chấp của báo chí đôi khi không khách quan. Vì vậy, khi xảy ra tranh chấp họ
luôn mong muốn giải quyết nhanh chóng và hạn chế đến mức thấp nhất việc đồn thổi
những thông tin đó ra bên ngoài. Đáp ứng được yêu cầu đó, trọng tài trở thành
phương thức đựơc lựa chọn.
1.1.2.4. Trọng tài là tổ chức phi chính phủ
Với tính chất là tổ chức phi chính phủ, ưu điểm của trọng tài thể hiện ở việc
trọng tài viên hoàn toàn độc lập, không bị chi phối bởi một cơ quan chủ quản nào. Họ
xét xử vụ việc theo pháp luật và theo khả năng hiểu biết của mình. Hơn nữa, chính sự
gần gũi và quan tâm của các trọng tài viên với các bên tranh chấp cũng là một ưu
điểm của trọng tài so với tố tụng tư pháp thông thường. Đây là yếu tố thuận lợi cho
các bên tranh chấp khi sử dụng phương thức này, vì trong quá trình giải quyết tranh
chấp các bên đôi khi thiếu sự bình tĩnh, trọng tài viên sẽ là người bám sát, theo dõi
tiến triển vụ việc và có sự giúp đỡ kịp thời cho các bên tranh chấp. Hơn thế nữa, do

tự nguyện thi hành thì bên có quyền có quyền yêu cầu cơ quan có trách nhiệm thi
hành án của quốc gia đảm bảo việc thi hành.
1.1.3. Các hình thức trọng tài thương mại quốc tế
1.1.3.1. Trọng tài vụ việc
Trọng tài vụ việc hay còn gọi là trọng tài Ad-hoc. Đây là loại trọng tài do các
bên thỏa thuận lập ra để giải quyết tranh chấp của mình, sau khi tranh chấp được giải
quyết thì trọng tài này được giải tán.
Đặc điểm cơ bản của trọng tài Ad-hoc không chỉ ở chỗ là không có trụ sở và
không hình thành bộ máy ổn định mà còn không thống nhất lệ thuộc một cách ổn
định vào bất kỳ một quy tắc xét xử nào. Về nguyên tắc các bên tham gia không bị
ràng buộc bởi các quy định pháp lý về tố tụng, chừng nào nguyên tắc khách quan
được bảo đảm.
Trọng tài vụ việc là hình thức tổ chức trọng tài đơn giản khá linh hoạt và mềm
dẻo về phương thức hoạt động. Nói chung, nó phù hợp với những tranh chấp ít tình
tiết phức tạp, có nhu cầu giải quyết nhanh chóng và các bên tranh chấp thường có
LVTN: Pháp luật về Trọng tài thương mại quốc tế GVHD:Ths. Bùi Thị Mỹ Hương
SVTH: Nguyễn Thúy Vi Trang 10
kiến thức và hiểu biết về pháp luật cũng như có kinh nghiệm tranh tụng. Tuy vậy, trên
thực tế các vụ việc được giải quyết thông qua hình thức trọng tài vụ việc này không
nhiều.
1.1.3.2. Trọng tài thường trực
Trọng tài thường trực hay còn được gọi là trọng tài quy chế. Đây là loại trọng
tài được lập ra để thường xuyên xét xử các tranh chấp trong thương mại quốc tế.
Trọng tài loại này hoạt động và tồn tại dựa trên quy chế riêng của nó, nếu trọng tài
ad-hoc là loại trọng tài không có trụ sở, không có hội đồng trọng tài tồn tại một cách
thường xuyên thì ngược lại trọng tài thường trực là một tổ chức xét xử có trụ sở và
hội đồng thường trực làm công tác xét xử một cách thường xuyên.
Trọng tài thương mại quốc tế là trọng tài xét xử các tranh chấp trong thương
mại quốc tế, theo khoản 3 Điều 1 Luật mẫu của trọng tài thương mại quốc tế do
UNCITRAL (Ủy ban luật thương mại quốc tế của Liên Hợp Quốc) thông qua ngày

1.2.1. Lược khảo về trọng tài thương mại quốc tế các nước trên thế giới
1.2.1.1. Luật trọng tài Mỹ
Vào khoảng thế kỷ XIX, việc phân xử thông qua trọng tài đã ra đời ở Mỹ.
Hiện nay, việc phân xử bằng trọng tài đã trở nên phổ biến đặc biệt là trong các tranh
chấp quốc tế.
Nhìn chung, việc phân xử bằng trọng tài ở Liên bang Hoa kỳ được điều chỉnh
bởi Luật trọng tài Hoa kỳ (FAA). FAA là nền tảng cho các luật về hàng hải, ngoại
thương, và luật áp dụng cho các tiểu bang. FAA gồm ba chương, trong đó chương
được dành riêng cho các quy định về thương mại quốc tế.
Ngoài Luật liên bang, hầu hết các tiểu bang đều có quy chế trọng tài riêng. Ở
hầu hết các tiểu bang Hoa Kỳ đều có sự tiếp nhận Luật Mẫu UNCITRAL về trọng tài
thương mại quốc tế với mục đích tạo ra một luật trọng tài quốc tế hấp dẫn cho các
tranh chấp quốc tế.
Khi có sự xung đột giữa luật tiểu bang với liên bang, theo Hiến pháp Hoa Kỳ,
các luật tiểu bang không được xung đột với luật Liên bang và được xem như theo
đuổi cùng một chính sách với Luật liên bang. Sự xung đột này được giải quyết bởi
các quyết định của tòa án, các hiệp ước và các điều lệ. Các quyết định của tòa án
đóng vai trò quan trọng trong việc giải thích và trình bày các luật trọng tài, đặc biệt là
trọng tài thương mại quốc tế.
Hoa Kỳ là thành viên của Công ước NewYork 1985 về công nhận và thi hành
các phán quyết trọng tài nước ngoài. Ngoài ra, Hoa Kỳ còn tham gia các công ước
khác như: Công ước 1965 về giải quyết tranh chấp đầu tư giữa nhà nước và công dân
của quốc gia khác, Công ước liên bang Hoa Kỳ 1975 về trọng tài thương mại quốc tế.
Tổ chức trọng tài hàng đầu ở Hoa Kỳ là Hiệp hội trọng tài Hoa Kỳ (AAA),
được thành lập vào năm 1926. Luật trọng tài quốc tế của AAA được thông qua ngày
1/3/1991 và được sử dụng phổ biến cho các vụ kiện quốc tế. Nhìn chung, luật trọng
tài quốc tế của AAA cũng có sự tiếp nhận Luật mẫu UNCITRAL ở việc ủy quyền và
cung cấp các dịch vụ hành chính cho phân xử trọng tài. Ngoài AAA, Hoa Kỳ còn rất
nhiều tổ chức thương mại và tổ chức chuyên môn, các trung tâm giải quyết tranh chấp
thực hiện và thúc đẩy sự phát triển của việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài.LVTN:

trọng tài Pháp quy định riêng lẻ hai chế độ trọng tài trong nước và trọng tài quốc tế,
không đặt ra sự cản trở nào cho trọng tài quốc tế, ngoại trừ sự khẩn cấp của chính
sách quốc tế chung.
Pháp là thành viên của nhều công ước đa phương như: Nghị định thư Giơnevơ
về điều khoản trọng tài năm 1923; Công ước Giơnevơ về thi hành phán quyết trọng
tài năm 1927; Công ước NewYork về công nhận và thi hành phán quyết của trọng tài
nước ngoài năm 1958;…Ngoài ra, Pháp còn là thành viên của nhiều hiệp ước song
LVTN: Pháp luật về Trọng tài thương mại quốc tế GVHD:Ths. Bùi Thị Mỹ Hương
SVTH: Nguyễn Thúy Vi Trang 13
phương với điều kiện nhờ đến phân xử bằng trọng tài và thi hành phán quyết của
trọng tài nước ngoài.
Theo quy định của Bộ luật dân sự Pháp, xét xử trọng tài mang tính quốc tế khi
tranh chấp có sự giao dịch thương mại quốc tế. Trong khi đó không có một nguyên
tắc nào đưa ra để giải thích điều khoản này. Có những đòi hỏi không theo quy định
của luật cho một thỏa thuận trọng tài quốc tế. Những điều khoản riêng đưa ra cho các
bên tranh chấp có thể xác định những hình thức bề ngoài của những điều khoản trọng
tài trong thỏa ước của họ. Những yêu cầu về điều khoản thi hành phán quyết của
trọng tài quốc tế như là một sự tồn tại của chứng cứ và giá trị pháp lý của một phán
quyết, một bên tranh chấp có thể yêu cầu thi hành bản phán quyết được đưa ra. Về
phạm vi của phân xử trọng tài bao gồm các vấn đề thương mại. Một thỏa ước trọng
tài quốc tế có thể chỉ định trọng tài viên hoặc ghi rõ phương pháp chỉ định trọng tài.
Nếu như phân xử trọng tài ở Pháp được đưa ra xét xử theo luật của Pháp, các bên
tranh chấp có thể nhờ đến tòa án của Pháp chỉ định trọng tài viên căn cứ vào Điều
1493 của Bộ luật dân sự. Trong phân xử các tranh chấp quốc tế, các bên có quyền lựa
chọn luật để giải quyết tranh chấp. Các bên có thể lựa chọn luật của bất kỳ quốc gia
nào, thậm chí cả những tập quán thương mại và những nguyên tắc pháp lý chung.
Nếu các bên không có thỏa thuận thì trọng tài viên sẽ quyết định. Trong phân xử
trọng tài tại Pháp hoặc áp dụng luật của Pháp, các bên tranh chấp có thể nhờ đến tòa
án tối cao ở Pais xét xử (Điều 1493). Không có một điều khoản nào quy định về
kháng cáo hoặc hủy bỏ những phán quyết được đưa ra ở bên ngoài nước Pháp. Trong

trọng tài thương mại là không thể phủ nhận.
1.2.2.1. Đảm bảo vào quá trình hội nhập kinh tế thế giới của Việt Nam
Đặc điểm được xem là tất yếu của nền kinh tế thị trường là thúc đẩy quá trình
mua bán trao đổi hàng hóa phát triển ngày càng mạnh. Trong khung cảnh toàn cầu
hóa hiện nay, hoạt động thương mại đang có xu hướng vượt ra khỏi phạm vi lãnh thổ
của một quốc gia. Các hoạt động thương mại xuyên quốc gia thực sự tạo ra sự cạnh
tranh khốc liệt giữa các doanh nghiệp trong nước với các doanh nghiệp nước ngoài và
giữa các doanh nghiệp nước ngoài với nhau trong quá trình tìm kiếm thị trường. Bên
cạnh sự tìm kiếm thị trường, lôi kéo khách hàng, các doanh nghiệp còn đảm bảo cho
mục đích lợi nhuận của mình. Vì vậy, bên cạnh sự cạnh tranh, các doanh nghiệp phải
hợp tác với nhau để thỏa mãn nhu cầu của khách hàng. Tuy nhiên, với mục đích theo
đuổi lợi nhuận, giữa các doanh nghiệp luôn luôn tiềm ẩn nguy cơ xảy ra tranh chấp.
Thực tế, các tranh chấp xảy ra trong hoạt động kinh doanh thương mại ngày càng gia
tăng và càng phức tạp. Do đó, các doanh nghiệp luôn cần những biện pháp tài phán
hiệu quả, nhanh chóng để giải quyết kịp thời khi có tranh chấp phát sinh.
Hiện nay, tranh chấp thương mại có thể giải quyết theo một trong hai cách sau:
thông qua các phương thức mang tính tài phán hoặc thông qua các phương thức
không mang tính tài phán. Các phương thức mang tính tài phán đơn thuần đề cập đến
tranh tụng tại tòa án quốc gia và trọng tài. Cả tòa án và ủy ban trọng tài đều có quyền
ban hành phán quyết không chỉ có giá trị bắt buộc đối với các bên trong vụ tranh chấp
mà còn buộc bên thua kiện phải thi hành. Các phương thức không mang tính tài phán
đề cập đến các phương thức giải quyết tranh chấp lựa chọn như hòa giải hoặc trung
gian. Không giống như phán quyết của tòa án quốc gia hay ủy ban trọng tài, biện
LVTN: Pháp luật về Trọng tài thương mại quốc tế GVHD:Ths. Bùi Thị Mỹ Hương
SVTH: Nguyễn Thúy Vi Trang 15
pháp giải quyết (nếu có) của phương thức trung gian hoặc hòa giải không có giá trị
ràng buộc đối với các bên. Khả năng các bên không tuân theo biện pháp giải quyết
đó, tùy thuộc vào ý chí của mình là rất cao.
Tuy nhiên, khi lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp, các bên nên căn cứ
vào từng loại hợp đồng vì nhìn chung mỗi phương thức đều có những ưu điểm riêng.

xét xử. Nhiệm vụ của hòa giải viên là làm người trung gian sử dụng những kỹ năng
LVTN: Pháp luật về Trọng tài thương mại quốc tế GVHD:Ths. Bùi Thị Mỹ Hương
SVTH: Nguyễn Thúy Vi Trang 16
của mình giúp các bên tìm được tiếng nói chung để giải quyết tranh chấp đạt được
giải pháp dung hòa. Trong quá trình hòa giải, hòa giải viên không có quyền đưa ra
quyết định bắt buộc các bên phải thực hiện.
Những ưu điểm và nhược điểm của hình thức hòa giải cũng giống như hình
thức thương lượng. Đây là hình thức giải quyết tranh chấp rất có hiệu quả được giới
kinh doanh ưa chuộng, giữ vai trò quan trọng trong việc giải quyết tranh chấp thương
mại ở các quốc gia.
Hiện nay, chúng ta chưa có một văn bản pháp luật nào cụ thể điều chỉnh vấn
đề này. Chính vì thiếu những cơ sở pháp lý của hình thức này nên trung gian hòa giải
trong giải quyết tranh chấp trong thương mại quốc tế vẫn còn phụ thuộc nhiều vào
thiện chí của các bên tham gia tranh chấp, nhằm mềm hóa các xung đột với mong
muốn tiếp tục duy trì quan hệ hợp tác, làm ăn lâu dài và uy tín, kinh nghiệm kỹ năng
của người đứng ra làm trung gian hòa giải phải là người thật sự am hiểu, có kiến thức
sâu rộng, kỹ năng giao tiếp trong lĩnh vực mà mình đứng ra hòa giải. Có như vậy thì
quá trình hòa giải mới thật sự mang lại hiệu quả.
* Tòa án:
Khi áp dụng phương thức thương lượng, hòa giải để giải quyết tranh chấp
nhưng không đạt hiệu quả và các bên tranh chấp không thỏa thuận đưa vụ tranh chấp
ra giải quyết tại trọng tài thì việc giải quyết sẽ thuộc thẩm quyền của Tòa án. Tuy
nhiên, trong thương mại quốc tế việc xác định thẩm quyền của tòa án cũng khá phức
tạp, bởi lẻ một tranh chấp trong thương mại quốc tế có thể liên quan đến nhiều quốc
gia khác nhau. Do vậy, có thể xác định nhờ vào sự thỏa thuận của các bên. Trong quá
trình xác lập hợp đồng mua bán hàng hóa ngoại thương, bên cạnh đưa ra các điều
khoản để thực hiện việc mua bán hàng hóa, các bên thỏa thuận liên quan đến việc xét
xử tranh chấp. Nếu các bên muốn đưa tranh chấp của mình tới một tòa án thương mại
nào đó thì các bên phải ghi rõ trong hợp đồng, trong trường hợp các bên chỉ thỏa
thuận chọn tòa án của một nước nào đó để giải quyết tranh chấp thì tòa án có thẩm

là trong hoạt động thương mại quốc tế thường ít được lưạ chọn vì những lí do:
Thứ nhất, vì một lí do rất dễ thấy là không bên nào mong muốn đưa tranh chấp
ra giải quyết tại tòa án quốc gia của bên kia, vì vậy thông thường các loại điều khoản
“tòa án” trong hợp đồng không được sử dụng phổ biến.
Thứ hai, nhìn chung thủ tục tố tụng tại tòa án tốn nhiều thời gian và phức tạp.
Phần lớn các doanh nghiệp đều có tâm lý ngại phải đối mặt với những thủ tục tố tụng
phức tạp tốn nhiều thời gian, chi phí và công sức đi lại vì ngoài hợp đồng phát sinh
tranh chấp, họ còn rất nhiều hợp đồng khác để giải quyết.
Thứ ba, là nguyên tắc xét xử công khai của Tòa án đã khiến các doanh nghiệp
phải suy nghĩ khi lựa chọn phương thức này. Các doanh nghiệp luôn mong muốn giữ
gìn bí mật kinh doanh cũng như uy tín trên thương trường. Việc phát sinh tranh chấp,
mặc dù ngoài mong muốn của doanh nghiệp, nhưng ít nhiều khiến cho các đối tác
khác có tâm lý thận trọng hoặc nghi ngờ về tính trung thực của doanh nghiệp.
Với những lý do như đã nêu trên, tòa án thường là sự lựa chọn sau cùng mà
những giải pháp không thể giải quyết các tranh chấp như mong muốn của các doanh
nghiệp.LVTN: Pháp luật về Trọng tài thương mại quốc tế GVHD:Ths. Bùi Thị Mỹ Hương
SVTH: Nguyễn Thúy Vi Trang 18
* Trọng tài:
Tranh chấp trong thương mại quốc tế không chỉ diễn ra trong phạm vi một
quốc gia mà còn liên quan đến nhiều quốc gia. Do vậy trong trường hợp các bên có
sự bất đồng với nhau trong kinh doanh mà những tranh chấp này không thỏa thuận
được thì việc giải quyết tranh chấp trong thương mại quốc tế có thể sẽ do tòa án
thương mại hoặc trọng tài thương mại để giải quyết.
Giải quyết tranh chấp trong kinh doanh bằng trọng tài là hình thức giải quyết
thông qua hoạt động của trọng tài viên, với tư cách là một bên thứ ba độc lập, nhằm
chấm dứt các xung đột bằng cách đưa ra một phán quyết buộc các bên tham gia tranh
chấp phải thực hiện. Như đã phân tích ở phần trên, trọng tài có những ưu điểm sau:
Điểm nổi bật đầu tiên của cơ chế giải quyết bằng trọng tài trong thương mại
quốc tế đó là sự nhanh chóng. Đối với các nhà kinh doanh “thời gian là vàng” do vậy
việc xét xử tranh chấp tiến hành càng nhanh càng tốt. Nếu so sánh thời gian xét xử

những ưu việt của hình thức giải quyết bằng trọng tài so với tòa án: nhanh chóng,
mềm dẻo, đỡ tốn kém, đảm bảo uy tín và đảm bảo bí mật kinh doanh.
Tuy vậy, để trọng tài phi chính phủ (trọng tài thương mại) phát huy được các
mặt lợi đó, nhà nước vừa cần đảm bảo các điều kiện phù hợp cho việc thành lập và
hoạt động của trọng tài thương mại, vừa đảm bảo cho các quyết định mà nó đưa ra
đáp ứng các yêu cầu của pháp luật được công nhận và cho thi hành. Có được các đảm
bảo đó, trọng tài mới thực sự là một công cụ của thương mại đảm bảo cho việc thi
hành các hợp đồng đã được ký kết. Chính vì vậy, trong những năm qua, Nhà nước ta
đã ban hành, bổ sung, sửa đổi nhiều văn bản pháp luật; ký kết, tham gia nhiều điều
ước quốc tế liên quan đến việc công nhận và thi hành tại Việt Nam quyết định của
trọng tài thương mại nước ngoài. Điều đó đã thể hiện tư duy đổi mới của Đảng và
Nhà nước ta, trong thời buổi hội nhập việc tạo ra ngày càng nhiều phương thức giải
quyết tranh chấp để các doanh nghiệp, nhà đầu tư lựa chọn là phù hợp với xu thế
chung của thế giới.
Sau khi gia nhập tổ chức kinh tế thế giới, các doanh nghiệp Việt Nam phải đối
mặt với nhiều thách thức, đặc biệt là các tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh
doanh. Các dịch vụ pháp lý của Việt Nam phải giải quyết một khối lượng công việc
tăng gấp nhiều lần và ngày càng phức tạp. Vì vậy, Việt Nam rất cần có những cơ
quan tài phán, không chỉ tòa án mà cả trọng tài quốc tế, có đầy đủ năng lực để giải
quyết hiệu quả những tranh chấp đó.
Có thể nhận thấy, trọng tài thương mại quốc tế là phương pháp hữu hiệu nhất
có thể chia sẽ với tòa án quốc gia trong việc giải quyết các tranh chấp phát sinh trong
lĩnh vực kinh doanh thương mại. Bên cạnh những ưu thế của mình cùng với sự hỗ trợ
của tòa án đối với các vấn đề như: chỉ định trọng tài viên; áp dụng, thay đổi, hủy bỏ
biện pháp khẩn cấp tạm thời;… trọng tài thương mại quốc tế sẽ thực hiện tốt vai trò
góp phần giải quyết hiệu quả các tranh chấp về kinh doanh thương mại, chia sẽ một
phần gánh nặng cho tòa án quốc gia
(8)
.
Tuy nhiên, để đạt được những mục tiêu đó cần có những cải tiến đặc biệt quan

tranh chấp đòi hỏi chuyên môn cao, doanh nghiệp hoàn toàn có quyền chủ động tìm
và lựa chọn những trọng tài viên đáp ứng yêu cầu nói trên. Thứ ba, việc xét xử tại
trọng tài được giữ bí mật. Điều này rất có lợi cho các bên, nhất là các tranh chấp liên
quan đến sở hữu trí tuệ, bí mật kinh doanh hay các yếu tố khác mà doanh nghiệp
không muốn cho người ngoài cuộc biết. Thứ tư, tính minh bạch cao trong xét xử.
Theo đó, tất cả các tài liệu, chứng cứ của một bên sẽ được trọng tài gửi ngay cho các
đương sự còn lại để họ phản biện hay kiện lại. Trong tố tụng dân sự của tòa án cũng
có quy định cho các bên quyền này nhưng trên thực tế hầu như không thực hiện được.
Cuối cùng là việc thuận lợi trong việc rút ngắn thời gian giải quyết tranh chấp. Nếu
giải quyết bằng con đường tòa án, đương sự có thể mất rất nhiều thời gian do phải
qua hàng loạt cấp xét xử như sơ thẩm, phúc thẩm, thậm chí giám đốc thẩm, tái thẩm.

9
Công ước New York về việc công nhận và thi hành quyết định của trọng tài nước ngoài
(năm 1958)LVTN: Pháp luật về Trọng tài thương mại quốc tế GVHD:Ths. Bùi Thị Mỹ
Hương
SVTH: Nguyễn Thúy Vi Trang 21
Trong khi đó, quyết định của trọng tài có giá trị chung thẩm và có hiệu lực cưỡng chế
ngay(10)
.
Có thể nhận thấy, trọng tài thương mại là phương thức giải quyết tranh chấp
hiệu quả các tranh chấp xảy ra trong kinh doanh thương mại, đặc biệt là đối với các
giao dịch có yếu tố nước ngoài. Tính ưu việt của phương thức giải quyết tranh chấp
này đã được các doanh nghiệp trên thế giới thừa nhận và lựa chọn.
Tuy nhiên, có một thực tế là các vụ tranh chấp về thương mại ở nước ta đều
thông qua tòa án mà rất ít trông cậy vào sự phán quyết của trọng tài thương mại. Đây
được xem là một điều trái ngược hẳn so với nhiều quốc gia trên thế giới, và được
đánh giá là bước cản trở lớn khi nước ta đã chính thức gia nhập tổ chức Thương mại
thế giới WTO. Có thể có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này như các quy định
pháp luật chưa phù hợp, tâm lý xã hội chưa quen với các tổ chức giải quyết tranh

Trọng tài không có thẩm quyền đương nhiên đối với các tranh chấp cụ thể mà
trọng tài chỉ có thẩm quyền xét xử vụ việc khi các bên đương sự thỏa thuận đưa tranh
chấp ra trọng tài giải quyết. Đồng thời, các tranh chấp này phải nằm trong phạm vi
các loại tranh chấp được phép giải quyết bằng trọng tài theo quy định của pháp luật.
Trong thương mại quốc tế các bên có thể thỏa thuận thành lập một trọng tài Ad-hoc,
hoặc các bên thỏa thuận thành lập một trọng tài thường trực. Như vậy, trọng tài nào
được các bên thỏa thuận lập ra hoặc chỉ định sẽ là trọng tài có thẩm quyền xét xử
tranh chấp giữa các bên.
Tuy nhiên, việc lập ra trọng tài Ad-hoc hoặc chỉ định trọng tài thường trực
được các bên ghi nhận trong điều khoản trọng tài. Điều khoản trọng tài có thể được
các bên ghi trong hợp đồng, hoặc có thể được các bên thỏa thuận trong một văn bản
do các bên lập ra sau khi ký kết hợp đồng. Một thỏa thuận trọng tài được coi là hợp
pháp khi thỏa thuận đó đáp ứng các yêu cầu của pháp luật về hình thức, nội dung và
tư cách pháp lý của các bên.
Về hình thức: Theo quy định pháp luật của các quốc gia cũng như Điều ước
quốc tế mà các quốc gia ký kết hoặc gia nhập đều ghi nhận thỏa thuận trọng tài phải
được lập thành văn bản. Tuy nhiên, trong một vài trường hợp mặc dù các bên khi ký
kết hợp đồng không thỏa thuận về điều khoản trọng tài. Nhưng khi tranh chấp xảy ra,
các bên thỏa thuận chọn phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thì đây
cũng được xem là một hình thức của thỏa thuận trọng tài và có giá trị buộc các bên
phải tuân thủ theo đúng thỏa thuận
Về nội dung thỏa thuận trọng tài: Pháp luật các quốc gia ghi nhận tương đối
giống nhau, có thể có trường hợp thỏa thuận trọng tài về vụ tranh chấp thuộc lĩnh vực
mà pháp luật quy định không thuộc thẩm quyền của trọng tài.
- Thỏa thuận trọng tài không đề cập đến tranh chấp mà nguyên đơn kiện;
- Thỏa thuận trọng tài không nêu rõ tên tổ chức trọng tài hoặc ghi rõ tên
nhưng lại chọn quy tắc tố tụng của trung tâm trọng tài khác.
Ta thấy rằng, trong lĩnh vực thương mại quốc tế việc áp dụng pháp luật ở mỗi
quốc gia có sự khác biệt nhau là điều dễ hiểu. Ví dụ: Trong trường hợp theo pháp luật
của quốc gia A, quy định tranh chấp không thuộc lĩnh vực mà trọng tài có thẩm

thỏa thuận trọng tài là không tồn tại hoặc vô hiệu, điều này không dẫn đến thỏa thuận
trọng tài cũng trở nên không tồn tại hoặc vô hiệu. Nguyên tắc phổ biến trong trọng tài
quốc tế là thỏa thuận trọng tài “độc lập” và “tách rời” với những điều khoản còn lại
của hợp đồng; vì vậy, ủy ban trọng tài sẽ tiếp tục có thẩm quyền quyết định quyền và
nghĩa vụ tương ứng của các bên và xem xét khiếu kiện giữa họ, thậm chí nếu chính
hợp đồng có thể không tồn tại, hoặc vô hiệu. Tuy nhiên, bất kỳ quy định do ủy ban
trọng tài ban hành về thẩm quyền thường bị kiểm soát bởi tòa án quốc tế.
Trên thực tế, có một số trường hợp tranh chấp liên quan đến vấn đề thẩm
quyền xét xử của trọng tài, điển hình là vụ tranh chấp trong hợp đồng mua bán trang

11
Khoản 1 Điều 1 Pháp lệnh số 08/2003/PL-UBTVOH11 ngày 25 tháng 02 năm 2003 về
trọng tài thương mạiLVTN: Pháp luật về Trọng tài thương mại quốc tế GVHD:Ths. Bùi
Thị Mỹ Hương
SVTH: Nguyễn Thúy Vi Trang 24
thiết bị. Nguyên đơn là một công ty tại New York, bị đơn là một công ty Ấn Độ hoạt
động trong các lĩnh vực bán sản phẩm được sản xuất bằng các trang thiết bị của
nguyên đơn tại Ấn Độ. Trong hợp đồng hai bên đã thỏa thuận ký kết đầy đủ các nội
dung, có cả thỏa thuận trọng tài và điều khoản trọng tài như sau: “Bất cứ tranh chấp
nào phát sinh từ hoặc liên quan đến hợp đồng này mà các bên không có khả năng giải
quyết thông qua đàm phán, thương lượng thì sẽ được giải quyết chung thẩm theo quy
tắc trọng tài ICC. Như quy định trong quy tắc này, mỗi bên chọn một trọng tài viên
và tòa án trọng tài của ICC sẽ chọn trọng tài viên thứ ba. Tố tụng trọng tài sẽ được
thực hiện vào thời gian và tại thời điểm do tòa trọng tài quyết định. Phán quyết trọng
tài có thể được cho thi hành tại bất kỳ tòa án có thẩm quyền nào”
(12)
. Nhưng khi tranh
chấp xảy ra, nguyên đơn đã kiện bị đơn ra trọng tài ICC, nhưng bị đơn lại phát đơn
kiện nguyên đơn lên tòa án tối cao Bombay yêu cầu tòa án ra quyết định tuyên bố
nguyên đơn đưa tranh chấp ra giải quyết tại tòa án trọng tài là vượt quá phạm vi điều

bên có nên xác định trước được vấn đề này hay không?. Câu trả lời đương nhiên là rất
cấn thiết, các bên phải thỏa thuận luật áp dụng trong quá trình giao kết hợp đồng. Bởi
vì, luật quy định phạm vi trách nhiệm tương ứng của các bên sẽ giúp bổ sung những
chỗ khiếm khuyết trong các điều khoản hợp đồng. Tầm quan trọng của việc quy định
trước luật áp dụng trong hợp đồng đã được nhấn mạnh, không làm như vậy sẽ dẫn
đến tình trạng không rõ ràng và nguy hiểm.
Vấn đề luật nào sẽ được áp dụng trong hợp đồng không chỉ phát sinh khi có
tranh chấp. Vấn đề này cũng phát sinh khi hợp đồng đang được ký kết và đôi khi,
thậm chí còn trước đó – bởi luật áp dụng sẽ xác định giá trị pháp lý của các quyền và
nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng. Khi thực hiện hợp đồng các bên cần phải biết
luật nào được áp dụng cho hợp đồng bởi các điều khoản hợp đồng không phải lúc nào
cũng quy định đầy đủ quyền và nghĩa vụ tương ứng của các bên.
Không quy định luật áp cho hợp đồng sẽ không chỉ làm phức tạp thêm việc
giải quyết những tranh chấp tiềm ẩn mà còn có thể dẫn tới phát sinh xung đột một
cách trực tiếp. Các bên có xu hướng thực hiện hợp đồng dựa trên luật quốc gia của
chính bên đó. Nếu các bên sau đó không tiếp tục thực hiện hợp đồng thì tranh chấp
hoàn toàn có thể xảy ra. Bên cạnh đó, ta thấy rằng mặc dù trong trường hợp luật pháp
của các quốc gia quy định khá giống nhau về hình thức, nội dung hợp đồng… nhưng
các vụ tranh chấp không phải lúc nào cũng giống nhau. Ví dụ như những nước theo
hệ thống luật Anh – Mỹ vấn đề thời hạn chỉ mang tính chất thủ tục thì ở những nước
theo hệ thống Châu Âu – Lục địa thì đây là một vấn đề mang tính chất nội dung. Do
vậy, việc xác định luật áp dụng trong quá trình xét xử trọng tài quốc tế là vô cùng
quan trọng, phức tạp và nó được xem xét ở hai vấn đề mang tính chất pháp lý. Đó là
xác định pháp luật áp dụng để xét xử đối với quyền và nghĩa vụ cụ thể của các bên
tranh chấp và xác định pháp luật để áp dụng trong quá trình tố tụng trọng tài. Có thể
nói đây là hai vấn đề pháp lý quan trọng và cơ bản nhất trong việc xác định luật trong
hoạt động trọng tài quốc tế.
* Xác định luật áp dụng để xét xử tranh chấp tại trọng tài thương mại quốc
tế:
Luật áp dụng để xét xử tranh chấp là luật mà trọng tài dùng để xem xét việc

lợi cho việc giải quyết tranh chấp nếu có xảy ra sau này, trong quá trình giao kết hợp
đồng, các bên thường thỏa thuận luật áp dụng cho hợp đồng trong điều khoản trọng
tài. Bởi vì, về mặt pháp lý thì thỏa thuận trọng tài được xem như một giao kết độc lập
với hợp đồng thương mại của các bên chủ thể. Do đó, trong trường hợp mặc dù hợp
đồng thương mại đã được thực hiện hoặc bị vi phạm, thậm chí bị vô hiệu thì điều
khoản thỏa thuận trọng tài của hợp đồng vẫn giữ nguyên giá trị pháp lý. Như vậy,
việc xây dựng thỏa thuận trọng tài mà trong đó bao gồm cả việc chọn luật áp dụng sẽ
là cơ sở pháp lý để bên bị vi phạm được bảo vệ quyền lợi trước cơ quan xét xử.
Việc xây dựng thỏa thuận trọng tài được tiến hành dưới hai hình thức: Hoặc

Trích đoạn Vấn đề liên quan tới quyền miễn trừ các quốc gia Một số vướng mắc theo quy định của pháp luật Việt Nam về trọng tài thương Quy định về chọn trọng tài viên Hướng hoàn thiện
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status