BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT
ĐÀO PHẠM THÙY DUNG
MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ TRONG
THANH TOÁN HỢP ĐỒNG NGOẠI THƯƠNG
TẠI NGÂN HÀNG TMCP SÀI GÒN
THƯƠNG TÍN – CHI NHÁNH PHƯƠNG NAM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT HỌC
CHUYÊN NGÀNH LUẬT KINH DOANH
TP. HỒ CHÍ MINH - NĂM 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT
ĐÀO PHẠM THÙY DUNG
MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ TRONG
THANH TOÁN HỢP ĐỒNG NGOẠI THƯƠNG
TẠI NGÂN HÀNG TMCP SÀI GÒN
THƯƠNG TÍN – CHI NHÁNH PHƯƠNG NAM
Xin chân thành cảm ơn!
i
LỜI CAM ĐOAN
“Tôi xin cam đoan khóa luận này là công trình nghiên cứu của riêng
tôi. Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong khóa luận là trung thực và chưa
từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Tôi cũng xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện khóa
luận này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong khóa luận đã được
chỉ rõ nguồn gốc”
Tác giả khóa luận
ii
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT
--- ---
PHIẾU ĐIỂM CỦA ĐƠN VỊ THỰC TẬP
Sinh viên thực tập: ĐÀO PHẠM THÙY DUNG. MSSV: 33131023255
Lớp: Luật kinh doanh
Khóa: 16
PHIẾU ĐIỂM CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
Sinh viên thực tập: ĐÀO PHẠM THÙY DUNG. MSSV: 33131023255
Lớp: Luật kinh doanh
Khóa: 16
Hệ: VB2CQ
Đơn vị thực tập: Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín – Chi nhánh
Phương Nam
Đề tài nghiên cứu:
MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ TRONG THANH TOÁN HỢP ĐỒNG
NGOẠI THƯƠNG TẠI NGÂN HÀNG TMCP SÀI GÒN THƯƠNG TÍN
– CHI NHÁNH PHƯƠNG NAM
Nhận xét chung:
…………………………………………………………………………..
……………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………
Đánh giá và chấm điểm quá trình thực tập
(1) Có tinh thần thái độ phù hợp, chấp hành kỷ luật tốt (tối đa 3 điểm)..…….
(2) Thực hiện tốt yêu cầu của GVHD, nộp KL đúng hạn (tối đa 7 điểm)……..
Tổng cộng điểm thực tập cộng (1) + (2)……………….
Điểm chữ:…………………………………………………
Kết luận của người hướng dẫn thực tập & viết khóa luận
…………………………………………………………………………..
……………………………………………………………………………
Tp.HCM, ngày …… tháng 10 năm 2015
Người hướng dẫn
(3) Nội dung khóa luận
- Tính phù hợp, thực tiễn và mới của đề tài (tối đa 1 điểm)……..…..
- Phần mở đầu (tối đa 0,5 điểm)…………………………………………
- Phần 1(tối đa 1,5 điểm)………………………………………..………..
- Phần 2 (tối đa 3 điểm)…………………………………………….…….
- Phần 3 (tối đa 1 điểm)……………………………….…………...…….
- Phần kết luận (tối đa 1 điểm)……………………………………..……
Điểm số tổng cộng (1) + (2) + (3)……………………….
Điểm chữ:……………………………………………….
Tp.HCM, ngày …… tháng 10 năm 2015
Người chấm thứ nhất
v
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT
--- ---
PHIẾU ĐIỂM CỦA NGƯỜI CHẤM THỨ HAI
Sinh viên thực tập: ĐÀO PHẠM THÙY DUNG. MSSV: 33131023255
Lớp: Luật kinh doanh
Khóa: 16
Hệ: VB2CQ
Đơn vị thực tập: Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín – Chi nhánh
LỜI NÓI ĐẦU..................................................................................1
1. Lý do chọn đề tài:.....................................................................1
2. Mục tiêu nghiên cứu:................................................................2
3. Phương pháp và phạm vi nghiên cứu:....................................2
4. Kết cấu đề tài:...........................................................................3
vii
LỜI NÓI ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Trước xu thế toàn cầu hóa, nền kinh tế thị trường của nước ta đã từng
bước hội nhập vào nền kinh tế thế giới. Sự giao lưu mua bán hàng hóa giữa
các quốc gia ngày càng được mở rộng. Sự phát triển của hoạt động ngoại
thương góp phần tạo ra những luồng dịch chuyển về hàng hóa và tiền tệ đóng
góp vào sự phát triển chung của thế giới. Kinh doanh xuất nhập khẩu không
chỉ đóng vai trò là cầu nối cho giao lưu kinh tế giữa Việt Nam và thế giới mà
còn là động lực phát triển cho các lĩnh vực kinh tế trong nước, góp phần nâng
cao sức cạnh tranh của toàn bộ nền kinh tế. Là một trong những lĩnh vực hoạt
động kinh doanh của ngân hàng thương mại, thanh toán quốc tế ra đời và phát
triển không ngừng như là một tất yếu khách quan. Hoạt động thanh toán quốc
tế là việc trao đổi các hoạt động kinh tế và thương mại giữa các quốc gia làm
phát sinh các khoản thu và chi bằng tiền của nước này đối với một nước khác.
Đó là hoạt động mang tính toàn cầu và chịu ảnh hưởng bởi rất nhiều yếu tố.
Tuy nhiên, trong quá trình hoạt động của mình, thanh toán quốc tế không chỉ
đơn thuần mang lại những lợi ích kinh tế mà còn phát sinh một số vấn đề
pháp lý có nguy cơ gây ra rủi ro. Rủi ro pháp lý phát sinh trong quá trình
thanh toán hợp đồng ngoại thương cho dù mang yếu tố khách quan hay chủ
quan cũng là hiện tượng khá phổ biến. Nguyên nhân là do sự khác biệt về chủ
lý phát sinh trong thanh toán hợp đồng ngoại thương tại Ngân hàng TMCP
Sài Gòn Thương Tín – Chi nhánh Phương Nam từ việc phân tích, đánh giá
quá trình thanh toán tại cơ quan thực tập.
3. Phương pháp và phạm vi nghiên cứu:
Phương pháp nghiên cứu: Tác giả sử dụng kết hợp các phương pháp
như phân tích, so sánh, tổng hợp, suy luận logic để nghiên cứu làm sáng tỏ
các vấn đề lý luận, nhận diện các vấn đề pháp lý có thể phát sinh trong quá
trình thanh toán, từ đó đưa ra giải pháp hạn chế những rủi ro pháp lý trong
thanh toán hợp đồng ngoại thương tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín
– Chi nhánh Phương Nam.
Phạm vi nghiên cứu: Tình hình thanh toán hợp đồng ngoại thương tại
Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín – Chi nhánh Phương Nam trong 3
năm gần đây.
2
4. Kết cấu đề tài:
Phần mở đầu: Lý do chọn đề tài, mục tiêu, phạm vi, ý nghĩa thực tiễn,
kết cấu đề tài.
Chương 1: Cơ sở lý luận và cơ sở pháp lý về thanh toán hợp đồng ngoại
thương.
Chương 2: Một số vấn đề pháp lý trong thanh toán hợp đồng ngoại
thương tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín – Chi nhánh Phương Nam.
Chương 3: Một số giải pháp hạn chế rủi ro pháp lý trong thanh toán hợp
đồng ngoại thương tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín – Chi nhánh
Phương Nam.
Phần kết luận
3
Ngoài ra, Công ước Viên 1980 của Liên Hiệp Quốc về Hợp đồng mua
bán hàng hóa quốc tế cũng đưa ra tiêu chuẩn để xác định tính chất quốc tế của
4
hợp đồng ngoại thương là các bên ký kết hợp đồng có trụ sở thương mại tại
các nước khác nhau.
Có rất nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm hợp đồng ngoại
thương. Tuy vậy, cho đến nay luật pháp các nước cũng như các điều ước quốc
tế chưa có khái niệm thống nhất về loại hợp đồng này. Do đó, từ các ý phân
tích phía trên có thể khái quát về hợp đồng ngoại thương như sau: Hợp đồng
ngoại thương hay còn gọi là hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là sự thỏa
thuận của bên mua và bên bán giữa hai nước khác nhau, trong đó quy định
bên bán phải cung cấp hàng hóa, chuyển giao các chứng từ có liên quan đến
hàng hóa và quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua, còn bên mua phải thanh
toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hóa.
1.1.2 Đặc điểm:
Một hợp đồng ngoại thương có những đặc điểm như sau:
• Chủ thể ký kết hợp đồng là các bên có trụ sở thương mại tại các nước
khác nhau. Trường hợp chủ thể ký kết là các bên không có trụ sở
thương mại thì sẽ căn cứ vào nơi cư trú của họ, vấn đề quốc tịch của
các bên không có ý nghĩa trong việc xác định yếu tố nước ngoài của
hợp đồng ngoại thương, dù người mua và người bán có quốc tịch khác
nhau nhưng nếu việc mua bán được thực hiện trên lãnh thổ của cùng
một quốc gia thì hợp đồng mua bán cũng không mang tính chất quốc tế.
• Đối tượng của hợp đồng là hàng hóa được chuyển từ nước này sang
nước khác.
• Chào hàng và chấp nhận chào hàng có thể được lập ở những nước khác
nhau.
+ Hợp đồng tái xuất khẩu: là hợp đồng xuất khấu những hàng mà trước kia
đã nhập từ nước ngoài, không qua tái chế hay sản xuất gì trong nước.
+ Hợp đồng tái nhập khẩu: là hợp đồng mua những hàng hóa do nước
mình sản xuất đã bán ra nước ngoài và chưa qua chế biến gì ở nước ngoài.
• Căn cứ theo hình thức của hợp đồng:
+ Hợp đồng bằng lời nói
6
+ Hợp đồng bằng văn bản
+ Hợp đồng theo hình thức mặc nhiên
1.1.5 Nội dung hợp đồng ngoại thương:
Nội dung của hợp đồng ngoại thương được thể hiện dưới dạng các điều
khoản cụ thể do các bên thỏa thuận về các vấn đề pháp lý liên quan đến việc
thực hiện quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ hợp đồng. Trong hoạt
động mua bán hàng hóa, các bên có quyền thỏa thuận các nội dung không trái
với quy định của pháp luật, phù hợp với nguyên tắc tự do, tự nguyện, thỏa
thuận. Tùy thuộc vào thực tiễn giao kết hợp đồng mà các bên có thể thỏa
thuận nội dung của hợp đồng bao gồm các nội dung về tên hàng, số lượng,
chất lượng, giá cả, thanh toán (thời hạn, địa điểm, phương thức thanh toán),
giao nhận (thời hạn, địa điểm, phương thức giao nhận), bảo hành, chuyển rủi
ro, chuyển quyền sở hữu, trách nhiệm do vi phạm hợp đồng và việc áp dụng
các chế tài trong thương mại, giải quyết tranh chấp và các nội dung khác có
liên quan.1
1.1.6 Thực hiện hợp đồng ngoại thương:
1.1.6.1
Giao, nhận hàng hóa:
Nghĩa vụ giao hàng là nghĩa vụ cơ bản nhất của bên bán theo đó bên
quản và các quy định khác trong hợp đồng. Như vậy, thỏa thuận trong hợp
đồng là căn cứ quan trọng để xác định hàng hóa được giao là hàng hóa phù
hợp với hợp đồng hay không. Trường hợp hợp đồng không có quy định cụ thể
thì hàng hóa được coi là không phù hợp với hợp đồng khi hàng hóa đó thuộc
một trong các trường hợp sau: thứ nhất là hàng hóa không phù hợp với mục
đích sử dụng thông thường của các hàng hóa cùng chủng loại; thứ hai là hàng
hóa không phù hợp với bất kỳ mục đích cụ thể nào mà bên mua đã cho bên
bán biết hoặc bên bán phải biết vào thời điểm giao kết hợp đồng; thứ ba là
hàng hóa không đảm bảo chất lượng như chất lượng của mẫu hàng hóa mà
bên bán đã giao cho bên mua; thứ tư là hàng hóa không được bảo quản, đóng
gói theo cách thức thông thường đối với loại hàng hóa đó hoặc không theo
cách thức thích hợp để bảo quản hàng hóa trong trường hợp không có cách
thức bảo quản thông thường.3
Bên cạnh đó, bên bán cũng có nghĩa vụ bảo đảm quyền sở hữu đối với
hàng hóa. Theo đó, bên bán phải đảm bảo quyền sở hữu của bên mua đối với
hàng hóa đã bán không bị tranh chấp bởi bên thứ ba, hàng hóa đó phải hợp
pháp và việc chuyển giao hàng hóa là hợp pháp. Bên bán cũng phải đảm bảo
2
Phan Huy Hồng (Chủ biên), (2014), Giáo trình pháp luật về thương mại và dịch vụ, NXB Hồng Đức – Hội
Luật Gia, tr.94, 95
3
Phan Huy Hồng (Chủ biên), (2014), Giáo trình pháp luật về thương mại và dịch vụ, NXB Hồng Đức – Hội
Luật Gia, tr.99, 100
8
quyền sở hữu trí tuệ đối với hàng hóa như không được bán hàng hóa vi phạm
quyền sở hữu trí tuệ và phải chịu trách nhiệm trong trường hợp có tranh chấp
Phan Huy Hồng (Chủ biên), (2014), Giáo trình pháp luật về thương mại và dịch vụ, NXB Hồng Đức – Hội
Luật Gia, tr.129,130
5
Phan Huy Hồng (Chủ biên), (2014), Giáo trình pháp luật về thương mại và dịch vụ, NXB Hồng Đức – Hội
Luật Gia, tr.131,132
9
quy định trong Luật thương mại và trong các luật khác thì áp dụng quy định
của Bộ luật dân sự (Khoản 3 Điều 4 Luật thương mại) vì về mặt nguyên tắc
Bộ luật dân sự được áp dụng đối với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, trừ
trường hợp Điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là
thành viên có quy định khác (Khoản 3 Điều 2 Bộ luật dân sự).6
Nghĩa vụ thanh toán hợp đồng mua bán tài sản nói chung được quy
định một cách khái quát tại Điều 438 Bộ luật dân sự 2005, theo đó bên mua
phải trả đủ tiền vào thời điểm và tại địa điểm đã thỏa thuận, nếu không có
thỏa thuận thì bên mua phải trả đủ tiền vào thời điểm và tại địa điểm giao tài
sản. Bên cạnh đó, bên mua phải trả lãi kể từ ngày chậm trả theo quy định trừ
trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.
Nếu như giao vật được coi là nghĩa vụ cơ bản của bên bán thì trả tiền là
nghĩa vụ cơ bản của bên mua. Chỉ khi nào hai nghĩa vụ trên được thực hiện
đúng và đầy đủ, quyền và lợi ích của các bên mới được thỏa mãn. Bên mua có
thể trả tiền vào thời điểm trước hoặc sau khi đã nhận vật tại nơi cư trú, trụ sở
của bên có quyền hay bất cứ nơi nào khác theo sự thỏa thuận giữa các bên về
thời điểm và địa điểm trả tiền. Nếu các bên không có thỏa thuận thì theo quy
định của pháp luật bên mua phải thanh toán đầy đủ cho bên bán vào thời điểm
và tại địa điểm bên mua được giao tài sản. Trong trường hợp bên mua chậm
trả tiền so với thời điểm mà các bên đã thỏa thuận, bên mua buộc phải trả lãi
trong trường hợp việc mất mát, hư hỏng hàng hóa xảy ra sau khi rủi ro chuyển
sang bên mua mà không do lỗi của bên bán gây ra không miễn trừ cho bên
mua nghĩa vụ thanh toán tiền hàng.
1.2.2 Phân tích một số quy định cụ thể:
1.2.2.1
Giá và phương thức thanh toán:
Giá cả và phương thức thanh toán là một trong những nội dung cơ bản
của hợp đồng ngoại thương. Về nguyên tắc, giá thanh toán trong hợp đồng do
các bên thỏa thuận xuất phát từ nguyên tắc tự do giao kết hợp đồng. Trường
hợp không có thỏa thuận về giá hàng hóa, không có thỏa thuận về phương
pháp xác định giá và cũng không có bất kỳ chỉ dẫn nào khác về giá thì theo
quy định tại Điều 52, 53 Luật thương mại, giá của hàng hóa được xác định
theo giá của loại hàng hóa đó trong các điều kiện tương tự về phương thức
giao hàng, thời điểm mua bán hàng hóa, thị trường địa lý, phương thức thanh
toán và các điều kiện khác có ảnh hưởng đến giá. Trừ trường hợp có thỏa
thuận khác, nếu giá được xác định theo trọng lượng của hàng hóa thì trọng
lượng đó là trọng lượng tịnh. 7 Theo đó, nếu không có thỏa thuận thì giá thanh
7
Phan Huy Hồng (Chủ biên), (2014), Giáo trình pháp luật về thương mại và dịch vụ, NXB Hồng Đức – Hội
Luật Gia, tr.133
11
toán sẽ được xác định theo giá của loại hàng hóa đó trong các điều kiện tương
tự về phương thức giao hàng, thời điểm mua bán hàng hóa, thị trường địa lý,
phương thức thanh toán và các điều kiện khác có ảnh hưởng đến đến giá,
Về phương thức thanh toán thì theo quy định tại Điều 431 Bộ luật dân
sự, phương thức thanh toán cụ thể sẽ phụ thuộc vào sự thỏa thuận của các
bên. Bên mua có thể giao tiền mua một lần vào thời điểm bên bán giao hàng
hoặc cũng có thể thanh toán làm nhiều lần, các lần thanh toán tiếp theo có thể
tính lãi hoặc không. Bên cạnh đó, trong Luật thương mại cũng không có bất
kỳ quy định nào về phương thức thanh toán bắt buộc đối với các bên trong
hợp đồng ngoại thương, bên mua chỉ cần tuân thủ các phương thức thanh
toán, thực hiện việc thanh toán theo trình tự, thủ tục đã thỏa thuận và theo quy
định của pháp luật.
1.2.2.2
Địa điểm thanh toán:
Địa điểm thanh toán theo sự thỏa thuận của các bên. Trường hợp không
có thỏa thuận về địa điểm thanh toán cụ thể thì theo Điều 54 Luật thương mại,
bên mua phải thanh toán cho bên bán tại địa điểm kinh doanh của bên bán
được xác định vào thời điểm giao kết hợp đồng, nếu không có địa điểm kinh
doanh thì tại nơi cư trú của bên bán. Ngoài ra, bên mua cũng có thể thanh toán
tại địa điểm giao hàng hoặc giao chứng từ, nếu việc thanh toán được tiến hành
đồng thời với việc giao hàng hoặc giao chứng từ. Theo pháp luật doanh
nghiệp Việt Nam, địa điểm kinh doanh là nơi hoạt động kinh doanh cụ thể của
doanh nghiệp được tổ chức thực hiện, địa điểm kinh doanh có thể ngoài địa
chỉ đăng ký trụ sở chính. 8
Như vậy, trong trường hợp không có thỏa thuận, bên mua phải thanh
toán cho bên bán tại nơi hoạt động kinh doanh cụ thể của bên bán, nơi này có
thể là nơi đăng ký trụ sở chính, nếu bên bán không có địa điểm kinh doanh cụ
thể thì bên mua có thể thanh toán tại nơi cư trú của bên bán. Ngoài ra, đối với
trường hợp việc thanh toán được tiến hành đồng thời với việc giao hàng thì
bên mua có thể thanh toán cho bên bán tại địa điểm giao hàng hoặc giao
trường hợp các bên ở cách xa nhau theo vị trí địa lý. Vì vậy, nếu không thỏa
thuận một thời điểm thanh toán xác định, trong trường hợp hợp đồng có quy
định về việc vận chuyển và kiểm tra hàng hóa, bên bán có thể cân nhắc việc
thỏa thuận một bên thứ ba đại diện cho bên mua thực hiện việc kiểm tra hàng
hóa trước khi hàng được giao cho người vận chuyển và cấp chứng nhận xác
nhận hàng hóa phù hợp với hợp đồng. Bên mua trên cơ sở này có thể thanh
toán cho bên bán khi bên bán giao vận đơn mà không nhất thiết phải hoãn
việc thanh toán cho đến khi hàng được chuyển tới địa điểm đến. Thỏa thuận
như vậy có thể cân bằng lợi ích của các bên.9
Bên cạnh đó, liên quan đến nghĩa vụ thanh toán đúng hạn của bên mua,
theo quy định tại Điều 306 Luật thương mại, trường hợp bên mua chậm thanh
toán tiền hàng và các chi phí hợp lý khác thì bên bán có quyền yêu cầu trả tiền
lãi trên số tiền chậm trả đó theo lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường
9
Phan Huy Hồng (Chủ biên), (2014), Giáo trình pháp luật về thương mại và dịch vụ, NXB Hồng Đức – Hội
Luật Gia, tr.134,135
14
tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chậm trả trừ trường hợp có
thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.
Pháp luật dân sự không có điều khoản cụ thể quy định về thời hạn
thanh toán tuy nhiên theo khoản 3 Điều 432 Bộ luật dân sự về thời hạn thực
hiện hợp đồng mua bán thì nếu các bên không có thỏa thuận về thời hạn thanh
toán thì bên mua phải thanh toán ngay khi nhận tài sản tức là về nguyên tắc
các bên phải thỏa thuận về thời hạn thanh toán, nếu không có thỏa thuận về
thời hạn này thì bên mua phải thanh toán cho bên bán ngay khi nhận tài sản.
Điều khoản này cũng hoàn toàn phù hợp và tương đồng với quy định tại Điều