Khóa luận tốt nghiệp cử nhân luật chế độ sở hữu đối với tài nguyên rừng ở việt nam - Pdf 29



BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP. HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT THƯƠNG MẠI


PHẠM THANH NGA

CHẾ ĐỘ SỞ HỮU ĐỐI VỚI TÀI NGUYÊN RỪNG
Ở VIỆT NAM
CHUYÊN NGÀNH LUẬT THƯƠNG MẠI
TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2015

TP HỒ CHÍ MINH – 2015

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan: Khóa luận tốt nghiệp này là kết quả nghiên cứu của riêng tôi,
được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của Thạc sĩ Nguyễn Thị Ngọc Lan,
đảm bảo tính trung thực và tuân thủ các quy định về trích dẫn, chú thích tài liệu
tham khảo. Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan này. TP. Hồ Chí Minh, tháng 7 năm 2015

Tác giả
Phạm Thanh Nga


MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1. KHÁI QUÁT VỀ CHẾ ĐỘ SỞ HỮU ĐỐI VỚI TÀI NGUYÊN
RỪNG Ở VIỆT NAM 4
1.1 Một số khái niệm 4

cộng đồng, từng quốc gia riêng lẻ mà nó còn có ý nghĩa trên phạm vi toàn thế giới.
Để bảo vệ tốt nguồn tài nguyên này, Nhà nước Việt Nam đặc biệt chú trọng đến
việc xây dựng hệ thống pháp luật trong lĩnh vực lâm nghiệp nhằm thiết lập hệ thống
các cơ quan quản lý chuyên ngành từ trung ương đến địa phương - một trong những
công cụ hữu hiệu thay mặt Nhà nước thực thi các quy định của pháp luật vào thực tế
quản lý và bảo vệ tài nguyên rừng. Và đề thực hiện thống nhất trên toàn quốc một
cơ chế quản lý, từ Hiến pháp 1980 trở đi, Nhà nước ta chỉ công nhận duy nhất một
chế độ sở hữu đối với tài nguyên rừng, đó là chế độ sở hữu toàn dân. Qua một quá
trình phát triển cho đến nay, chế độ sở hữu toàn dân đối với tài nguyên rừng vẫn
khẳng định được tính tất yếu phù hợp của nó, đương nhiên, về mặt nội hàm phải có
ít nhiều thay đổi để thích ứng với tình hình kinh tế - văn hóa - xã hội điển hình của
giai đoạn công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước.
Lựa chọn nghiên cứu đề tài chế độ sở hữu đối với tài nguyên rừng ở Việt Nam,
tác giả mong muốn khẳng định lại một lần nữa về sự cần thiết của chế độ sở hữu
toàn dân đối với tài nguyên rừng với vai trò chủ đạo của hình thức sở hữu Nhà nước
trong khâu quản lý và bảo vệ rừng, cùng với đó là đẩy mạnh hoàn thiện pháp luật về
sở hữu tài nguyên rừng ở nước ta.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Chế độ sở hữu toàn dân ở Việt Nam nói chung là một vấn đề thu hút được rất
nhiều sự chú ý của các nhà học giả, các nhà khoa học. Tuy nhiên, số lượng đề tài
nghiên cứu chuyên sâu về chế độ sở hữu đối với tài nguyên rừng nói riêng chưa
thực sự đáng chú ý. Qua tìm hiểu, có một số bài viết và công trình có đề cập trực
tiếp hoặc gián tiếp đến vấn đề sở hữu tài nguyên rừng ở Việt Nam đáng quan tâm
như sau:
 Trên các tạp chí khoa học:
 Hoàng Huy Tuấn (2013), "Sự phân quyền và quyền sở hữu trong quản lý tài
nguyên thiên nhiên: Tiếp cận lý thuyết và bối cảnh hóa trong quản lý rừng ở Việt
Nam", Tạp chí Khoa học lâm nghiệp, số 1/2013, tr.2657-2669.
 Vũ Long (2005), "Về quyền sở hữu rừng tự nhiên" đăng trên website của
Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam.

Đối tượng nghiên cứu chủ yếu mà đề tài muốn hướng đến đó chính là chế độ sở
hữu đối với tài nguyên rừng ở Việt Nam, cụ thể hơn đó là các quy định pháp lý về
chế độ sở hữu toàn dân đối với tài nguyên rừng ở Việt Nam với hai hình thức sở
hữu: sở hữu tư nhân và sở hữu Nhà nước.
 Phạm vi nghiên cứu
Tác giả tìm hiểu cơ chế sở hữu đối với tài nguyên rừng ở Việt Nam thông qua
việc nghiên cứu các quy định của pháp luật hiện hành như Hiến pháp 2013, Luật
Bảo vệ và phát triển rừng 2004, Bộ luật dân sự 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2011)
3

và các văn bản pháp luật của Chính phủ, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn,
các ban ngành liên quan đến lĩnh vực lâm nghiệp…
Bên cạnh đó, để phục vụ cho công tác nghiên cứu, tác giả cũng tham khảo các
văn bản, tài liệu liên quan của nhiều tác giả, nhà nghiên cứu hoặc tổ chức khác có
công trình nghiên cứu hoặc báo cáo chuyên môn trong lĩnh vực lâm nghiệp về các
hình thức sở hữu rừng, công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng tại Việt Nam.
5. Phương pháp tiến hành nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu chủ đạo là phương pháp phân tích, tổng hợp và
phương pháp nghiên cứu lý thuyết.
 Phương pháp phân tích, tổng hợp: đây là phương pháp được sử dụng xuyên
suốt đề tài nhằm tổng hợp các quy phạm pháp luật quy định về chế độ sở hữu cũng
như phương thức thực hiện quyền sở hữu đối với tài nguyên rừng ở Việt Nam, phân
tích cách thức thực hiện mô hình sở hữu đối với tài nguyên rừng từ đó chỉ ra các ưu
điểm và nhược điểm của pháp luật Việt Nam về quản lý và bảo vệ rừng.
 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: tác giả thu thập nhiều tài liệu trong và
ngoài nước từ sách tham khảo, mạng điện tử, tạp chí,… để nghiên cứu nhằm đưa ra
các cơ sở lý luận vững chắc, xác thực cho đề tài.
Ngoài ra, tác giả cũng kết hợp với nhiều phương pháp khác để đạt được hiệu
quả cao cho cho đề tài nghiên cứu như phương pháp so sánh, so sánh giữa quy định
về sở hữu đối với tài nguyên rừng ở Việt Nam với mô hình sở hữu tài nguyên rừng

Khái niệm này được kết hợp từ các yếu tố như mật độ cây, chiều cao của cây,
cách thức sử dụng đất rừng và chức năng sinh thái để đưa ra một khái niệm về rừng
thiên về liệt kê các đặc trưng của rừng để dễ dàng xác định một diện tích cây cối có
phải là rừng trên thực tế hay không.
Theo khoản 1 Điều 3 Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 (Luật BVPTR)
của Việt Nam thì "Rừng là một hệ sinh thái bao gồm quần thể thực vật rừng, động
vật rừng, vi sinh vật rừng, đất rừng và các yếu tố môi trường khác, trong đó cây gỗ,
tre nứa hoặc hệ thực vật đặc trưng là thành phần chính có độ che phủ của tán rừng
từ 0,1 trở lên.". Như vậy, theo quy định của pháp luật Việt Nam thì rừng được xác
định dựa theo ba tiêu chí
2
:
(1) Là một hệ sinh thái với thành phần chính là các cây lâu năm thân gỗ, cau
dừa, tre nứa có chiều cao trung bình từ 5m trở lên (trường hợp rừng mới
trồng hoặc rừng ngập mặn ven biển độ cao của cây được quy định thấp
hơn nhưng phải đảm bảo mật độ 1000 cây/ha trở lên), đủ khả năng cung
cấp lâm sản, bảo vệ môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học.
(2) Độ tàn che của tán cây (độ che phủ của tán rừng) là thành phần chính của
rừng phải từ 0,1 trở lên. Độ che phủ của tán rừng được hiểu là mức độ
che kín của tán cây rừng đối với đất rừng, được biểu thị bằng tỷ lệ phần
mười giữa diện tích đất rừng bị tán cây rừng che bóng và diện tích đất
rừng
3
.
(3) Diện tích rừng liền khoảnh tối thiểu từ 0,5 ha trở lên hoặc là dải rừng có
chiều rộng tối thiểu 20 mét và có từ 3 hàng cây trở lên. Với những hệ
sinh thái nông nghiệp, diện tích nuôi trồng thủy sản có cây lâu năm là cây

1
http://www.fao.org/docrep/005/y4171e/y4171e10.htm, truy cập ngày 03/6/2015

hậu, bảo đảm cân bằng sinh thái và an ninh môi trường. RPH bao gồm 4 loại là
RPH đầu nguồn; RPH chắn gió, chắn cát bay; RPH chắn sóng, lấn biển; RPH bảo
vệ môi trường.
 Rừng đặc dụng: được sử dụng chủ yếu để bảo tồn thiên nhiên, mẫu chuẩn hệ
sinh thái rừng của quốc gia, nguồn gen sinh vật rừng, nghiên cứu khoa học, bảo vệ
di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh, phục vụ nghỉ ngơi du lịch, kết hợp
phòng hộ, góp phần bảo vệ môi trường. RĐD bao gồm: vườn quốc gia, khu bảo tồn
thiên nhiên, khu bảo vệ cảnh quan, khu rừng nghiên cứu thực nghiệm khoa học.
 Rừng sản xuất: là rừng được sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh gỗ, các
lâm sản ngoài gỗ và kết hợp phòng hộ, bảo vệ môi trường. RSX bao gồm RSX là
rừng trồng, RSX là rừng tự nhiên và rừng giống.
Để phục vụ cho công tác điều tra, kiểm kê, thống kê rừng, quy họach bảo vệ và
phát triển rừng, quản lý tài nguyên rừng và xây dựng các chương trình, dự án lâm
nghiệp ngày 10/6/2009, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thông (Bộ NNPTNT)

4
Điều 4 Luật BVPTR
6

đã ban hành Thông tư 34/2009/TT-BNNPTNT quy định tiêu chí xác định và phân
loại rừng (TT 34/2009/TT-BNNPTNT). Theo đó, ngoài tiêu chí mục đích sử dụng,
rừng còn có thể được phân loại căn cứ vào nguồn gốc hình thành, trữ lượng, loài
cây hoặc điều kiện lập địa
5
. Theo tiêu chí điều kiện lập địa, rừng ở nước ta bao gồm
rừng núi đất, rừng núi đá, rừng ngập nước, rừng trên đất cát. Theo tiêu chí loài cây
có rừng gỗ, rừng tre nứa, rừng cau dừa, rừng hỗn giao gỗ và tre nứa. Dựa vào trữ
lượng, phân biệt được đâu là rừng rất giàu, rừng giàu, rừng trung bình, rừng nghèo,
rừng chưa có trữ lượng. Nếu căn cứ vào nguồn gốc hình thành, rừng được chia làm
hai loại

5
Chương II TT 34/2009/TT-BNNPTNT
6
Điều 5 TT 34/2009/TT-BNNPTNT
7
Quyết định 3322/QĐ-BNN-TCLN của Bộ trưởng Bộ NNPTNT ngày 28 tháng 7 năm 2014 công bố
hiện trạng rừng toàn quốc năm 2013 (QĐ 3322/QĐ-BNN-TCLN)
8
Tô Xuân Phúc & Trần Hữu nghị (2014), Báo cáo giao đất giao rừng trong bối cảnh tái cơ cấu ngành
lâm nghiệp: Cơ hội phát triển rừng và cải thiện sinh kế vùng cao, Huế, tr.12
7

cho việc quy định quyền và nghĩa vụ pháp lý của từng loại chủ rừng đối với mỗi
loại rừng nhất định. Có thể thấy nguồn gốc hình thành và mục đích sử dụng của
từng loại rừng quyết định hình thức sở hữu đối với khu rừng đó có thể là hình thức
sở hữu nào và phương thức thực hiện các quyền sở hữu của chủ sở hữu rừng.
1.1.1.2 Khái niệm tài nguyên rừng
Tài nguyên rừng là một loại tài nguyên thiên nhiên hữu hạn có khả năng tái tạo
được bao gồm thực vật rừng, động vật rừng và những yếu tố tự nhiên có liên quan
đến rừng (cảnh quan rừng, vi sinh vật, thổ nhưỡng…)
9
.
Như đã đề cập, tài nguyên rừng được cấu thành từ nhiều thành phần tự nhiên vô
cùng phong phú, đa dạng. Trong đó có hàng triệu loài động vật, thực vật và vi sinh
vật, mà đời sống của chúng đều liên quan chặt chẽ với nhau, tạo thành quần xã đa
dạng sinh học. Không giống như không khí, gió hay năng lượng mặt trời là những
nguồn tài nguyên vô hạn, tài nguyên rừng có giới hạn nhất định về trữ lượng, sẽ
giảm dần cùng với hoạt động khai thác, sử dụng của con người. Tuy nhiên, rừng lại
là loại tài nguyên có thể tái tạo, phục hồi, thậm chí nâng cao chất lượng và trữ lượng
thông qua quá trình tái sinh tự nhiên hoặc do con người gây trồng lại nếu như nhận

11
, trữ lượng gỗ - một trong các nguồn tài nguyên rừng quan trọng hàng đầu là
813,3 triệu m
3
(rừng tự nhiên chiếm 94%, rừng trồng 6%) và khoảng 8,5 tỷ cây tre,
nứa. Trữ lượng gỗ bình quân của rừng tự nhiên là 76,5 m
3
/ha và rừng trồng là 40,6
m
3
/ha. Gỗ tập trung chủ yếu ở 3 vùng là Tây Nguyên chiếm 33,8%, Bắc Trung Bộ
23% và Nam Trung Bộ 17,4% tổng trữ lượng
12
. Về đa dạng sinh học của rừng, Việt
Nam được coi là một trong những nước thuộc vùng Đông nam Á giàu về đa dạng
sinh học với hệ thực vật rừng phong phú về chủng loại. Cho đến nay đã thống kê
được 10.484 loài thực vật bậc cao có mạch, khoảng 800 loài rêu và 600 loài nấm.
Theo dự đoán của các nhà thực vật học số loài thực vật bậc cao có mạch ít nhất sẽ
lên đến 12000 loài, trong đó có khoảng 2300 loài đã được người dân dùng làm
nguồn lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, thức ăn cho gia súc, lấy gỗ, tinh
dầu và nhiều nguyên vật liệu khác. Cũng như thực vật, giới động vật rừng Việt Nam
không những giàu về thành phần loài mà còn có nhiều nét độc đáo, đại diện cho
vùng Đông Nam Á với 275 loài thú, 828 loài chim, 180 loài bò sát, 80 loài ếch nhái,
trong đó hơn 100 loài và phân loài chim và 78 loài và phân loài thú là đặc hữu có
giá trị thực tiễn cao
13
.
1.1.2 Khái niệm chủ rừng
Chủ rừng là tổ chức, hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao rừng, cho thuê
rừng, giao đất để trồng rừng, cho thuê đất để trồng rừng, công nhận quyền sử

Có thể thấy Nhà nước khuyến khích các tổ chức kinh tế, hộ gia đình và cá nhân
tiếp cận khai thác và sử dụng nguồn tài nguyên rừng khi quy định các nhóm chủ
rừng bao gồm nhiều thành phần trong xã hội, không hạn chế chủ rừng trong nước
hay nước ngoài và không quy định các cơ quan quản lý Nhà nước là một trong
những đối tượng chủ rừng.
Về nguyên tắc, Nhà nước (đại diện cho toàn dân) sẽ đóng vai trò là chủ sở hữu
tuyệt đối đối với rừng. Bên cạnh đó còn có các đối tượng được Nhà nước công nhận
quyền sở hữu đối với RSX là rừng trồng – chủ sở hữu tương đối đối với rừng. Theo
đó, khái niệm “chủ rừng” quy định tại Điều 3 Luật BVPRT bao gồm cả hai đối
tượng là người có quyền sở hữu tương đối đối với RSX là rừng trồng và người
không có quyền sở hữu rừng mà chỉ được Nhà nước giao rừng, cho thuê rừng, giao
đất để trồng rừng, cho thuê đất để trồng rừng; nhận chuyển nhượng quyền sử dụng
rừng từ chủ rừng khác. Như vậy khái niệm “chủ rừng” và “chủ sở hữu rừng” không
đồng nhất với nhau.
Mỗi loại chủ rừng có những đặc điểm riêng, quyền lợi và nghĩa vụ riêng phụ
thuộc vào loại rừng mà họ được giao hoặc được thuê theo quy định của Luật
BVPTR. Điều kiện để trở thành chủ rừng đối với mỗi loại đối tượng chủ thể cũng
có nhiều điểm không giống nhau nhưng trước hết họ phải thuộc một trong các nhóm
đối tượng được nêu như trên (trừ Ban quản lý RPH, RĐD được thành lập sau khi
giao RPH, RĐD); tiếp theo họ phải được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xem xét,
cấp quyết định giao rừng, cho thuê rừng, giao đất, cho thuê đất để trồng rừng căn cứ
trên dự án đầu tư về lâm nghiệp được phê duyệt theo pháp luật về đầu tư (đối với tổ
chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư tại nước ngoài), khu vực sinh
sống tại địa phương có rừng (thường áp dụng đối với hộ gia đình, cá nhân) hoặc nhu
cầu sử dụng vào mục đích kinh doanh (đối với tổ chức kinh tế), nghiên cứu (đối với
tổ chức nghiên cứu khoa học), lí do an ninh – quốc phòng (đối với đơn vị vũ trang
nhân dân). Khi hoàn thành các thủ tục cần thiết họ sẽ trở thành chủ rừng và được
công nhận quyền sử dụng rừng hoặc quyền sở hữu RSX là rừng trồng.
1.2 Cơ sở xác lập chế độ sở hữu toàn dân đối với tài nguyên rừng ở Việt Nam
1.2.1 Cơ sở lý luận

và Việt Nam cũng không là ngoại lệ. Hiện nay, trên thế giới tồn tại hai chế độ sở
hữu rừng: công hữu (sở hữu Nhà nước, sở hữu tập thể) và tư hữu (sở hữu tư nhân)
dưới nhiều mô hình sở hữu khác nhau. Mô hình phổ biến nhất là thừa nhận nhiều
hình thức sở hữu ở các quốc gia có diện tích rừng lớn hàng đầu thế giới như Mỹ,
Canada, Bazil, Argentina, Trung Quốc, Australia, Ấn độ, Việt Nam… đều quy định
rừng thuộc sở hữu Nhà nước và tư nhân. Ví dụ, Mỹ có 56,3% diện tích rừng thuộc
sở hữu tư nhân, Thụy Điển chỉ có 20,2% rừng thuộc sở hữu Nhà nước,… Bên cạnh
đó là mô hình chỉ thừa nhận hình thức sở hữu Nhà nước đối với rừng với ý nghĩa là
hình thức sở hữu duy nhất như ở Liên bang Nga, Indonesia, Myanmar, Cộng hòa
Trung Phi
19
.
Là một quốc gia nằm trong hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa, Việt Nam công
nhận tài nguyên thiên nhiên, trong đó có tài nguyên rừng là nguồn tư liệu sản xuất
thuộc sở hữu chung của toàn xã hội. Chủ nghĩa Mác- xít đã chỉ ra mục tiêu và bản
chất của chủ nghĩa xã hội chính là xóa bỏ chế độ tư hữu và thiết lập chế độ công
hữu về tư liệu sản xuất, ai cũng được hưởng ngang bằng như nhau, cùng với đó là

16
https://openknowledge.worldbank.org/bitstream/handle/10986/6455/446400PUB0Fore101OFFICIAL
0USE0ONLY1.pdf?sequence=1, truy cập ngày 5/6/2015
17
Đỗ Hương, "GDP ngành lâm nghiệp có thể đạt 6%", http://baodientu.chinhphu.vn/Hoat-dong-Bo-
nganh/GDP-nganh-Lam-nghiep-co-the-dat-6/214260.vgp, truy cập ngày 5/6/2015
18
https://www.worldwildlife.org/threats/deforestation, truy cập ngày 6/6/2015.
19
Phụ lục 2 - Thống kê số liệu sở hữu rừng theo hai hình thức của 24 trên 30 quốc gia có diện tích rừng
lớn nhất trên thế giới - Andy White & Alejandra Martin (2002), Who owns the world's forest?- Forest
tenure and public forests in transition, USA, pp.5 (Phụ lục 2)

sở hữu toàn dân là một yêu cầu bắt buộc, tất yếu phát sinh.
1.2.2 Cơ sở pháp lý
Chế độ sở hữu toàn dân đối với tài nguyên rừng được quy định trong đạo luật
tối cao của Nhà nước Việt Nam, Hiến pháp năm 2013 khẳng định:
Đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển,
vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư,

20
Đỗ Thế Tùng, "Quan điểm cơ bản của C. Mác về sở hữu và việc vận dụng vào các văn kiện Đại hội
XI của Đảng", http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/Quan-triet-thuc-hien-nghi-quyet-dai-hoi-dang-
XI/Noi-dung-co-ban-van-kien/2011/12442/Quan-diem-co-ban-cua-C-Mac-ve-so-huu-va-viec.aspx, truy
cập ngày 5/6/2015.
12

quản lý là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở
hữu và thống nhất quản lý
21
.
Tài nguyên rừng được xem là một trong các loại "tài nguyên thiên nhiên khác"
do vậy đương nhiên thuộc sở hữu của toàn thể nhân dân do Nhà nước đại diện chủ
sở hữu và thống nhất quản lý.
Tìm hiểu lịch sử lập hiến của Việt Nam, có thể dễ dàng nhận thấy, do hoàn cảnh
chiến tranh nên trong Hiến pháp 1946 chế độ về sở hữu chưa có thay đổi gì nhiều so
với thời kỳ Pháp thuộc. Đến Hiến pháp 1959, tuy chưa có quy định về chế độ sở
hữu toàn dân đối với tài nguyên rừng nhưng so với bản Hiến pháp đầu tiên của nước
ta, Hiến Pháp 1959 đã đặt nền móng công nhận quyền sở hữu các tư liệu sản xuất
của người dân là quy định Hiến định: "Các hầm mỏ, sông ngòi, và những rừng cây,
đất hoang, tài nguyên khác mà pháp luật quy định là của Nhà nước, đều thuộc sở
hữu của toàn dân.
22

cơ sở phục vụ quốc phòng; hệ thống thông tin liên lạc, phát thanh, truyền hình, điện ảnh; cơ sở nghiên
cứu khoa học, kỹ thuật, cơ sở văn hoá và xã hội cùng các tài sản khác mà pháp luật quy định là của Nhà
nước - đều thuộc sở hữu toàn dân."
13

Các bản Hiến pháp sau này, Hiến pháp 1992
25
hay Hiến pháp 2013 là những bản
Hiến pháp khẳng định và củng cố chế độ sở hữu toàn dân đối với tài nguyên rừng
thì ở Việt Nam.
Chế độ sở hữu toàn dân đối với tài nguyên rừng được cụ thể hóa trong pháp
luật chuyên ngành về quản lý và bảo vệ rừng hiện hành. Luật BVPTR 2004 quy
định Nhà nước thay mặt toàn thể nhân dân thống nhất quản lý và bảo vệ tài nguyên
rừng
26
, trên cơ sở đó Nhà nước trao quyền sử dụng rừng, quyền sở hữu rừng sản
xuất là rừng trồng cho các chủ rừng thông qua các hoạt động giao rừng, cho thuê
rừng, giao đất, cho thuê đất để trồng rừng…. Tính chất sở hữu toàn dân đối với tài
nguyên rừng được thể hiện qua hình thức sở hữu Nhà nước đối với rừng.
Nhà nước thống nhất quản lý và định đoạt đối với rừng tự nhiên và rừng
được phát triển bằng vốn của Nhà nước, rừng do Nhà nước nhận chuyển
quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng từ các chủ rừng; động vật rừng
sống tự nhiên, hoang dã; vi sinh vật rừng; cảnh quan, môi trường rừng
27
.
Bên cạnh đó, Nhà nước cũng công nhận quyền sở hữu RSX là rừng trồng của tổ
chức, hộ gia đình, cá nhân
28
nhưng các chủ rừng này phải có kế hoạch đầu tư cụ thể
và cam kết thực hiện theo kế hoạch, quy hoạch phát triển rừng của Nhà nước, tuân

Điều 2 Luật BVPTR 1991
30
Điều 3 Luật BVPTR 1991
31
Điều 2 Luật BVPTR 1991
14

Như vậy, cơ sở pháp lý của chế độ sở hữu toàn dân đối với tài nguyên rừng ở
Việt Nam đã được ghi nhận ngay trong Hiến pháp và luật BVPTR qua các thời kỳ.
Điều này góp phần tạo cơ sở pháp lý vững chắc trong việc áp dụng quyền sở hữu
toàn dân đối với tài nguyên rừng trên thực tế.
1.3 Đặc trưng của chế độ sở hữu toàn dân đối với tài nguyên rừng ở Việt Nam
Thứ nhất, quyền sở hữu toàn dân đối với tài nguyên rừng được thực hiện thông
qua cơ chế đại diện.
Tài nguyên rừng thuộc sở hữu toàn dân nhưng chủ sở hữu toàn dân là một khái
niệm trừu tượng, "toàn dân" không thể trực tiếp thực hiện quyền sở hữu của mình
đối với rừng mà phải thực hiện thông qua cơ chế đại diện với chủ thể đại diện
không ai khác ngoài Nhà nước. Theo đó, Nhà nước thay mặt nhân dân thống nhất
quản lý đối với tài nguyên rừng thông qua hệ thống các cơ quan quản lý hành chính
Nhà nước chuyên môn trong lĩnh vực lâm nghiệp được tổ chức chặt chẽ từ trung
ương tới địa phương và xây dựng các quy định pháp lý về bảo vệ và phát triển tài
nguyên rừng. Nhà nước là chủ thể đặt ra chiến lược phát triển rừng cho cả nước, lập
các quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng; quyết định giao rừng cho ai, cho
đối tượng nào thuê rừng, thu hồi rừng hay chuyển mục đích sử dụng rừng khi cần
thiết; ngoài ra Nhà nước, cụ thể là Chính phủ sẽ quy định đâu là các loài thực vật
rừng, động vật rừng cần được quản lý và bảo vệ đặc biệt, các chủ thể khác không
được phép xâm hại khi chưa đáp ứng được các điều kiện bắt buộc do Nhà nước đặt
ra.
Một trong những hoạt động quan trọng thể hiện tính đại diện của Nhà nước đó
là hoạt động lập quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng. Bởi lẽ, việc xây

soát lại kế hoạch trong lĩnh vực của mình Đây là một ví dụ cụ thể và thiết thực
thể hiện mối quan hệ chiến lược giữa các lĩnh vực kinh tế - xã hội của đất nước nói
chung cũng như giữa quy hoạch, kế hoạch phát triển rừng với các lĩnh vực còn lại
nói riêng.
Hai là, đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ với quy hoạch, kế hoạch bảo vệ rừng
của các cấp. Kỳ quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng là mười (10) năm, kỳ kế hoạch
bảo vệ và phát triển rừng là năm (5) năm và được cụ thể hoá thành kế hoạch hàng
năm
33
; pháp luật Việt Nam quy định chặt chẽ trình tự, thủ tục lập, điều chỉnh, phê
duyệt quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng của cả nước cũng như của cấp
tỉnh, cấp huyện và cấp xã
34
. Theo đó, quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng
mang tính chu kỳ và được thiết kế thành một hệ thống từ trung ương đến địa
phương theo chiều dọc, mỗi địa phương (nơi có rừng) sẽ dựa trên quy hoạch, kế
hoạch chung cho cả nước đã được Thủ tướng chính phủ phê duyệt trước đó để xây
dựng cho địa phương mình một kế hoạch, quy hoạch chi tiết và phù hợp trong một
giai đoạn cụ thể để bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn quản lý
35
. Bên cạnh đó, để
đáp ứng tính dân chủ, công khai của chế độ sở hữu toàn dân, trong thời hạn không
quá 30 (ba mươi) ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản phê duyệt quy
hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; các
quy hoạch, kế hoạch đó phải được công bố công khai theo quy định của pháp luật
36
.
Ba là, đảm bảo khai thác, sử dụng tiết kiệm, bền vững, có hiệu quả tài nguyên
rừng, đất rừng, bảo vệ hệ sinh thái rừng, bảo vệ di tích lịch sử, văn hóa và danh lam


hữu: sở hữu tư nhân và sở hữu Nhà nước
 Sở hữu tư nhân đối với rừng là việc tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sở hữu
RSX là rừng trồng do chủ rừng tự đầu tư trong thời hạn được giao đất, được thuê
đất để trồng rừng theo quy định của pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng và các
quy định khác của pháp luật có liên quan
37
.
Trong các loại rừng, Nhà nước chỉ công nhận quyền sở hữu của tư nhân đối với
một loại rừng duy nhất, đó là RSX là rừng trồng. Hơn nữa, vốn để trồng rừng là vốn
do chủ rừng tự đầu tư. Cũng vì nguyên nhân nguồn gốc vốn mà Nhà nước cho tư
nhân sở hữu RSX là rừng trồng như một loại tài sản thông thường, một đối tượng
kinh doanh do chính họ đầu tư nên đương nhiên họ phải là chủ sở hữu hợp pháp của
diện tích rừng đó. Mặt khác, Nhà nước đang khuyến khích phát triển thương mại và
kinh tế lâm nghiệp từ việc khai thác hợp lý tài nguyên rừng, RĐD, RPH đa phần là
các khu rừng tự nhiên có vai trò quan trọng trong việc giữ cân bằng sinh thái, bảo
vệ môi trường và an ninh lâm nghiệp do đó cần đảm bảo sự quản lý, bảo vệ chặt chẽ
từ phía các cơ quan Nhà nước trong khi RSX là rừng trồng với chức năng vốn có
của mình là để phục vụ phát triển ngành lâm nghiệp đồng thời dễ dàng tái sinh,
phục hồi nếu được khai thác hợp lý mà không gây bất kỳ ảnh hưởng tiêu cực nào

37
Khoản 5 Điều 3 Luật BVPTR
17

đến môi trường. Chính vì thế, Nhà nước trao quyền sở hữu RSX là rừng trồng cho
các đối tượng phù hợp bởi nhắm tới mục đích kinh doanh, làm giàu cho chính bản
thân mình thì không chủ rừng nào có thể lơ là việc chăm sóc tài sản của chính mình
cả.
Quyền sở hữu đối với RSX là rừng trồng chỉ mang tính tương đối. Điều 4 Luật
Đất đai 2013 quy định rõ "Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ

Như vậy, căn cứ vào mục đích sử dụng để phân loại rừng, các diện tích RĐD,
RPH, RSX là rừng tự nhiên, RSX là rừng trồng nhưng được phát triển bằng vốn

38
Danh mục động, thực vật rừng nguy cấp, quý, hiếm – Ban hành kèm Nghị định 32/2006/NĐ-CP của
chính phủ ngày 30/3/2006 về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp quý hiếm (NĐ
32/2006/NĐ-CP)
39
Quyết định số 4961/QĐ-BNN-TCLN của Bộ trưởng Bộ NNPTNT ngày 17/11/2014 ban hành danh
mục các loài cây chủ lực cho rừng sản xuất và danh mục các loài cây chủ yếu cho trồng rừng theo các
vùng sinh thái lâm nghiệp.
40
Điều 200 Bộ luật dân sự
18

Nhà nước hoặc do Nhà nước nhận chuyển quyền sở hữu từ các chủ rừng đều thuộc
sở hữu Nhà nước. Ngoài ra, các loài thực vật- động vật nguy cấp, quý hiếm thuộc
danh mục do Chính phủ ban hành, tài nguyên vi sinh vật, cảnh quan rừng ở bất cứ
khu rừng nào, đất rừng… cũng do Nhà nước thống nhất quản lý. Đây cũng là lí do
giải thích vì sao quyền sở hữu rừng của Nhà nước mang tính chất tuyệt đối.
Việc quy định tài nguyên thuộc sở hữu toàn dân của Việt Nam có sự tương đồng
với Trung Quốc và Liên Bang Nga. Trung Quốc coi tài nguyên rừng do Nhà nước
thống nhất quản lý
41
và Nhà nước Trung Quốc đã thực thi rất thành công pháp luật
lâm nghiệp trong nhiều thập niên vừa qua, diện tích rừng của Trung Quốc đều giữ
đà tăng trưởng trong khi tình hình tài nguyên rừng của thế giới tiếp tục giảm xuống,
Cơ quan môi trường Liên hợp quốc đã xếp Trung Quốc vào danh sách một trong 15
nước có diện tích rừng nhiều nhất thế giới
42

http://www.china.org.cn/english/environment/207457.htm, truy cập ngày 29/6/2015.
42
Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam, "Trung Quốc: Kế hoạch phát triển rừng tới năm 2020",
http://www.cpv.org.vn/cpv/modules/news/newsdetail.aspx?cn_id=407826&c0_id=30480, truy cập ngày
29/6/2015
43
Article 8 Forest Code of the Russian Federation 2006
44
Nguyễn Thị Thanh Huyền, tlđd (9), tr.121
19

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Về nguyên tắc, mọi loại tài nguyên thiên nhiên trong đó có tài nguyên rừng đều
thuộc sở hữu của toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý. Bên cạnh các cơ sở lý
luận vững chắc khẳng định sự cần thiết, phù hợp, chế độ sở hữu toàn dân đối với tài
nguyên rừng còn được đảm bảo sự tồn tại lâu bền thông qua các quy định hiến định
và các quy phạm pháp luật có liên quan.
Đặc trưng nổi bật của chế độ sở hữu toàn dân đối với tài nguyên rừng ở Việt
Nam là tính đại diện, Nhà nước thay mặt nhân dân lập quy hoạch, kế hoạch bảo vệ
và phát triển rừng trên cả nước và thông qua các chủ rừng để thực hiện các kế hoạch
đó trên thực tế.
Giới thiệu khái quát hai hình thức sở hữu đối với tài nguyên rừng, bao gồm:
hình thức sở hữu tư nhân đối với RSX là rừng trồng và hình thức sở hữu Nhà nước
đối với rừng.

có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước.
Thứ hai, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân phải đảm bảo có giấy tờ chứng minh theo
quy định của pháp luật về đất đai hoặc pháp luật về đầu tư. Quy định loại giấy tờ
nào tùy thuộc vào từng đối tượng chủ rừng
45
.
 Đối với tổ chức kinh tế, ngoài các tổ chức kinh tế trong nước, pháp luật còn
cho phép doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài khi bỏ vốn đầu tư vào Việt Nam
được sở hữu RSX là rừng trồng khi có quyết định phê duyệt dự án hoặc quyết định
đầu tư dự án hoặc giấy chứng nhận đầu tư để trồng RSX theo quy định của pháp
luật về đầu tư.
 Đối với hộ gia đình có nhu cầu sở hữu RSX là rừng trồng sinh sống trên địa
bàn thuộc cấp xã nơi có rừng nếu họ có giấy tờ chứng nhận hợp pháp xác định Nhà
nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất để trồng RSX; giấy tờ về
giao RSX là rừng trồng; hợp đồng hoặc văn bản về việc mua bán hoặc tặng cho
hoặc thừa kế đối với RSX là rừng trồng đã được công chứng hoặc chứng thực theo
quy định của pháp luật; bản án, quyết định của Tòa án nhân dân hoặc giấy tờ của cơ
quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết được quyền sở hữu RSX là rừng trồng đã
có hiệu lực pháp luật thì được cấp Chứng nhận quyền sở hữu RSX là rừng trồng.
 Đối với cá nhân là công dân Việt Nam muốn trở thành chủ sở hữu rừng phải
đáp ứng các điều kiện tương tự như đối với hộ gia đình. Bên cạnh đó, pháp luật
cũng không hạn chế quyền được sở hữu RSX là rừng trồng của người Việt Nam
định cư tại nước ngoài, cá nhân nước ngoài có dự án trồng RSX tại Việt Nam với
những yêu cầu về thủ tục áp dụng như doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại
Việt Nam.

45
Điều 33 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP của Chính phủ ngày 15/5/2014 quy định chi tiết thi hành một
số điều của Luật Đất đai


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status