TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
***
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Chuyên ngành: Thương mại quốc tế TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN QUAN HỆ THƯƠNG MẠI
VÀ ĐẦU TƯ SONG PHƯƠNG VIỆT NAM – CHLB ĐỨC
VÀ CÁC GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY Họ và tên sinh viên: Phạm Tài Nguyên
Mã sinh viên: 0851020167
Lớp: Nhật 4 – Khối 5 KT
Khóa: 47
Người hướng dẫn khoa học: Th.S Nguyễn Thị Xuân Hường
Hà Nội, tháng 05 năm 2012
triển kinh tế xã hội của Việt Nam. 46
2.4.1. Tác động tương hỗ thúc đẩy hoạt động kinh tế phát triển. 46
2.4.2. Thúc đẩy phát triển khoa học - công nghệ. 49
2.4.3. Thúc đẩy phát triển và nâng cao hiệu quả, sức cạnh tranh của các doanh
nghiệp Việt Nam. 50
2.4.4. Thúc đẩy giao lưu văn hóa, giáo dục. 51
Chương 3. Tiềm năng phát triển quan hệ thương mại và đầu tư song phương Việt
Nam – CHLB Đức. 53
3.1. Mục tiêu và phương hướng phát triển quan hệ thương mại và đầu tư song phương giữa
hai nước trong thời gian tới. 53
3.1.1. Những quan điểm cơ bản. 53
3.1.2. Những mục tiêu và phương hướng phát triển quan hệ thương mại và đầu tư
song phương giữa hai quốc gia trong thời gian tới. 54
3.2. Một số giải pháp từ phía Việt Nam nhằm thúc đẩy quan hệ thương mại và đầu tư song
phương giữa hai nước. 58
3.2.1. Những giải pháp, chính sách vĩ mô 58
3.2.2. Những giải pháp, chính sách vi mô 63
3.2.3. Một số giải pháp khác. 67
Kết luận 69
Tài liệu tham khảo 70
Danh sách các từ viết tắt
Special and Differencial
Treatment
Đối xử đặc biệt và khác biệt
TNHH
Trách nhiệm hữu hạn
VCCI
Vietnam Chamber of
Commerce and Industry
Phòng Thương mại và công
nghiệp Việt Nam
WB World Bank Ngân hàng thế giới
WTO World Trade Organization Tổ chức Thương mại thế giới
1
Lời mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế đang là xu thế tất yếu định hình nên
nền kinh tế và thương mại toàn cầu. Không nằm ngoài xu hướng đó, Việt Nam –
một quốc gia đang phát triển đã có những bước đi mạnh mẽ và dần dần hội nhập sâu
rộng hơn với kinh tế toàn cầu. Điều đó đang tạo đà thúc đẩy cho Việt Nam đạt được
mức tăng trưởng kinh tế vô cùng nhanh chóng trong thập kỷ vừa qua, đưa Việt Nam
trở thành nước có thu nhập trung bình thấp với GDP bình quân mỗi người đạt 1.400
USD/năm (số liệu từ Tổng cục thống kê công bố ngày 29/12/2011). Đóng góp vào
sự phát triển đầy ấn tượng đó thì không thể không kể đến mối quan hệ thương mại,
đầu tư với liên minh châu Âu (EU), một đối quan trọng bậc nhất của Việt Nam.
Trong số 27 quốc gia thành viên EU thì không thể không nhắc tới nền kinh tế lớn
Chương 1: Khái quát về quan hệ kinh tế, thương mại giữa Việt Nam – CHLB
Đức.
Chương 2: Thực trạng quan hệ thương mại và đầu tư song phương Việt Nam –
CHLB Đức từ 2005 – nay.
Chương 3: Tiềm năng phát triển quan hệ thương mại và đầu tư song phương
Việt Nam – Đức.
Do khuôn khổ đề tài và khả năng bản thân còn giới hạn nên bài khóa luận sẽ
không tránh khỏi những thiếu sót nhất định, em mong thầy cô thông cảm và đóng
góp ý kiến để bài nghiên cứu được hoàn thiện hơn.
Em xin cảm ơn thạc sĩ Nguyễn Thị Xuân Hường, giảng viên khoa Kinh tế và
kinh doanh quốc tế trường đại học Ngoại Thương đã tận tình giúp đỡ em hoàn thành
đề tài khóa luận tốt nghiệp này.
3
Chương 1. Khái quát về quan hệ kinh tế, thương mại giữa Việt
Nam – CHLB Đức.
1.1. Vài nét về lịch sử quan hệ kinh tế, thương mại, đầu tư giữa Việt
Nam và CHLB Đức.
1.1.1. Vài nét về lịch sử quan hệ ngoại giao, kinh tế - xã hội giữa hai nước.
Việt Nam và CHLB Đức chính thức thiết lập quan hệ Ngoại giao cấp Đại sứ
ngày 23/9/1975. Thời gian đầu mối quan hệ chính trị giữa hai nước chỉ phát triển
một cách chậm chạp, vì trong các vấn đề liên quan đến CHLB Đức và châu Âu Việt
Nam theo đường lối của Liên Xô trước kia. Từ đầu những năm 1990 đến nay, quan
hệ giữa hai nước phát triển rất tốt khi có nhiều đoàn cấp cao giữa chính phủ hai
nước tích cực viếng thăm, giao lưu lẫn nhau. Nhiều năm qua, CHLB Đức và Việt
Nam đã xây dựng và duy trì mối quan hệ hợp tác song phương hết sức bền chặt.
Ngay từ năm 1955, những thiếu niên Việt Nam đầu tiên đã sang CHLB Đức học
tập. Đến nay, cộng đồng người Việt đang sinh sống và làm việc tại CHLB Đức đã
định hợp tác hàng hải, hàng không… Cũng từ đầu thập niên 1990, các đối tác
CHLB Đức đã bắt đầu quan tâm tới đầu tư tại Việt Nam với một số dự án của các
tập đoàn hàng đầu của Đức như Siemens, DHL.
CHLB Đức hiện nay là đối tác thương mại lớn nhất trong các nước thành viên
EU của Việt Nam, với kim ngạch thương mại hai chiều tăng trưởng khoảng 15%
mỗi năm trong giai đoạn 2007-2009, khi mà kinh tế toàn cầu gặp không ít khó khăn
khi phải đối mặt với cuộc khủng hoảng tài chính. Những năm gần đây kim ngạch
thương mại hai chiều bắt đầu tăng mạnh, cụ thể năm 2009 đạt 3,4 tỷ USD, năm
2010 đạt trên 4,1 tỷ USD, và đạt 5,5 tỷ USD trong năm 2011 (số liệu của Tổng cục
thống kê), bằng tổng kim ngạch thương mại hai chiều giữa Việt Nam và nhiều nước
châu Âu khác cộng lại. Theo số liệu của Đức có tính cả sự trung chuyển qua nước
thứ ba, kim ngạch song phương thậm chí lên tới 6 tỷ USD.
Cho tới nay với gần 40 năm thiết lập quan hệ ngoại giao, CHLB Đức luôn là
đối tác thương mại hàng đầu của Việt Nam trong liên minh châu Âu, mặc dù kim
ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Đức còn nhỏ so với nhiều nước khác trong khu
vực tuy nhiên mức độ tăng trưởng đạt khá, cùng với sự nâng tầm quan hệ đối tác
chiến lược giữa hai nước vào năm 2011 sẽ hứa hẹn một mức độ phát triển tốt trong
5
quan hệ hai nước, giúp mở rộng hợp tác trên tất cả các lĩnh vực ở tầm cao chiến
lược mới.
Về lĩnh vực đầu tư, từ những năm 1990 khi bắt đầu mở cửa, Việt Nam đã thu
hút được mối quan tâm lớn từ các nhà đầu tư CHLB Đức với các dự án hợp tác đầu
tư trong lĩnh vực cơ sở hạ tầng, thủy điện, thiết bị y tế… đến nay đầu tư của CHLB
Đức khá đa dạng trên nhiều lĩnh vực khác như chế biến chế tạo, công nghiệp phụ
trợ, công nghệ thông tin, các ngành dịch vụ… Những dự án đầu tư của CHLB Đức
có tầm quan trọng trong sự phát triển các ngành kinh tế Việt Nam theo hướng hiện
đại. Có thể kể đến các đại diện tiêu biểu như:
được lựa chọn cung cấp các thiết bị và vật liệu chính (gồm thiết bị sơ cấp và thứ
cấp) lắp đặt Trạm biến áp 500 KV Quảng Ninh phục vụ kết nối truyền tải điện;
cung cấp trạm đóng, cắt trung thế cách điện khí (GIS) Tây Hồ 220 KV lớn nhất và
đầu tiên tại Hà Nội, góp phần đảm bảo an toàn và ổn định điện cho thủ đô chào
mừng 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội. Trong năm tài khóa 2010, bộ phận giải
pháp công nghiệp của Siemens Việt Nam cũng đã thắng thầu cung cấp toàn bộ các
sản phẩm thuộc hệ thống tối ưu hóa xi măng cho dây chuyền sản xuất mới tại Nhà
máy Xi măng Công Thanh (Thanh Hóa) công suất 12.000 tấn clinker/ngày, là dây
chuyền xi măng sản xuất đơn có công suất lớn nhất châu Á từ trước đến nay; bộ
phận công nghệ tòa nhà đã ký được hợp đồng cung cấp các hệ thống thanh dẫn
Sivacon 8PS và tủ điện Sivacon 8PS có độ an toàn và chính xác cao theo tiêu chuẩn
châu Âu cho Dự án Tòa nhà trụ sở Bộ Công an; bộ phận hệ thống vận chuyển ký
được hợp đồng cung cấp hệ thống xử lý hàng hóa cho Sân bay Tân Sơn Nhất với
các hạng mục thiết kế kỹ thuật, cung cấp, bàn giao, lắp đặt, chạy thử, đưa vào vận
hành thiết bị cơ khí, xe nâng tự hành (ETV), băng tải, phần mềm điều khiển, phần
mềm quản lý và các cụm thiết bị điện tử PLC. Năm 2011, Công ty Trách nhiệm hữu
hạn Siemens Việt Nam giành được giấy phép kinh doanh đầy đủ. Giành được hợp
đồng cung cấp hàng loạt các thiết bị chẩn đoán hình ảnh cho bệnh viện Vinmedicare
- bệnh viện 5 sao đầu tiên tại Hà Nội. Trong năm 2010, doanh thu của Siemens Việt
Nam đã đạt 241 triệu euro, lợi nhuận thu được 4,7 triệu euro, lưu lượng tiền mặt đạt
9,8 triệu euro…, góp phần đáng kể vào thành công của Siemens toàn cầu.
- Công ty TNHH Metro Cash & Carry Việt Nam.
Metro Cash & Carry là bộ phận kinh doanh của tập đoàn Metro, một trong
những công ty thương mại quốc tế lớn hoạt động trong lĩnh vực phân phối bán lẻ có
trụ sở tại Dusseldorf CHLB Đức. Metro Cash & Carry hiện đang có mặt tại 29 quốc
gia với hơn 650 trung tâm bán sỉ. Với hơn 100.000 nhân viên trên toàn thế giới,
năm 2008 công ty đạt doanh số 33.1 tỷ Euro. Tiếp theo sự thành công của mô hình
Tập đoàn bao gồm Công ty Robert Bosch GmbH và 300 chi nhánh, công ty ở 50
quốc gia. Năm 2007, Bosch đạt doanh số 46,1 tỉ euro.
8
Ngày 23-4, Tập đoàn Bosch (Đức) đã ra mắt Công ty TNHH Robert Bosch
Việt Nam, đồng thời công bố dự án xây dựng nhà máy sản xuất linh kiện ô tô tại
khu công nghiệp Long Thành, Đồng Nai. Đây là dự án đầu tiên của Bosch tại Việt
Nam. Nhà máy đặt tại khu công nghiệp Long Thành này sẽ có diện tích 160.000 m
2
,
sản xuất dây truyền lực dùng trong hộp số tự động biến đổi liên tục CVT
(Continuously Variable Transmission), phù hợp cho động cơ của các loại xe từ cỡ
nhỏ cho đến xe địa hình thể thao chạy bằng dầu diesel, xăng hoặc nhiêu liệu hỗn
hợp. Từ tháng 6/2008, Công ty Robert Bosch Việt Nam đã bắt đầu triển khai lắp ráp
sản phẩm dây truyền lực tại một phân xưởng thuê ở khu công nghiệp Long Thành.
Trong năm đầu tiên, sản lượng của nhà máy dự kiến đạt 100.000 sản phẩm và theo
kế hoạch, con số sẽ tăng lên 2,3 triệu sản phẩm/năm vào năm 2015. Tổng vốn đầu
tư cho dự án tính đến năm 2015 là 55 triệu euro. Theo như tiến sĩ Rudolf Colm, phụ
trách hoạt động của Bosch tại khu vực châu Á Thái Bình Dương, sản phẩm làm ra
tại Việt Nam hướng đến phục vụ cho thị trường châu Á và sẽ được xuất khẩu toàn
bộ ra khu vực.
Đến ngày 11/5/2011, tại TP.HCM, Tập đoàn Bosch chính thức thành lập Công
ty TNHH Robert Bosch Engineering and Business Solutions Việt Nam (RBVH).
Đây là Trung tâm công nghệ và phần mềm đầu tiên của Tập đoàn Bosch ở Khu vực
Đông Nam Á. RBVH là cơ sở mở rộng của Công ty Robert Bosch Engineering and
Business Solutions (RBEI) tại Ấn Độ, có vốn đầu tư ban đầu là 4,5 triệu USD.
RBVH chủ yếu cung cấp phần mềm kỹ thuật cao và các giải pháp kỹ thuật như phần
mềm nhúng, thiết kế cơ khí và nhiều dịch vụ khác trong lĩnh vực công nghệ thông
bên mong muốn tăng cường quan hệ hợp tác đối tác nhằm hỗ trợ quá trình chuyển
đổi kinh tế tại Việt Nam, với mục tiêu tăng cường giá trị cho ngành công nghiệp
Việt Nam, tạo điều kiện tốt hơn cho doanh nghiệp vừa và nhỏ, thúc đẩy tiến trình cổ
phần hóa, cải thiện cơ sở hạ tầng của Việt Nam và góp phần vào tăng trưởng mang
lại lợi ích xã hội, bền vững môi trường và thân thiện với khí hậu.
1.2. Phát triển quan hệ kinh tế, thương mại Việt Nam – CHLB Đức
là xu thế tất yếu.
1.2.1. Vài nét lịch sử về nền kinh tế CHLB Đức.
Sau chiến tranh thế giới thứ 2, nền kinh tế Đức bị ảnh hưởng nghiêm trọng,
hơn một nửa năng lực công nghiệp của nước Đức đã bị phá huỷ, đất nước chia làm
hai miền. Ở Đông Đức, kinh tế phát triển rất chậm chạp. Còn Tây Đức bước vào
giai đoạn tái thiết đất nước chủ yếu được trang trải bằng cách vay nợ nước ngoài
10
đặc biệt từ Mỹ. Nhờ đó là kinh tế Tây Đức đã vượt qua những khó khăn và trải qua
giai đoạn phát triển kinh tế thần kỳ trong những năm 1950. Kết quả là nền kinh tế
Tây Đức bước vào thời ổn định, nạn thất nghiệp được giải quyết vào năm 1959, đến
cuối thập niên 1950, sản xuất công nghiệp tăng 130%. Một số nhân tố góp phần vào
sự thành công này như: kế hoạch Marshall do Mỹ khởi xướng đã bơm một lượng
viện trợ rất cần thiết trong suốt thời kỳ tái thiết, một cuộc cải cách tiền tệ mạnh dạn
đã khôi phục lại giá trị đồng tiền và chống được lạm phát, chế độ kiểm soát giá cả
và tiền lương bị huỷ bỏ, cơ sở hạ tầng được phục hồi và cuộc chiến Triều Tiên
những năm 1950 đã làm gia tăng nhu cầu đối với các hàng hóa của Đức. Từ những
năm 1990 tỷ lệ tăng trưởng kinh tế thần kỳ của Đức đã bị suy giảm, do ảnh hưởng
của sự suy thoái toàn cầu và do những chi phí rất lớn để sắp xếp lại dân cư và
những ngành công nghiệp không hiệu quả của Đông Đức cũ khi hai miền được hợp
nhất.
Hiện nay, CHLB Đức là nền kinh tế lớn nhất khối EU và thứ 4 thế giới, là
Nguồn: WTO – 10/2011
Về cơ cấu các ngành trong nền kinh tế có sự phân bố không đồng đều, trong
khi lĩnh vực nông nghiệp chiếm chưa đến 1% tổng sản lượng thì các ngành công
nghiệp và dịch vụ chiếm lần lượt 27,9% và 71,3% tổng sản lượng.
11
Phân bố GDP theo ngành.
Nguồn: theo VCCI – hồ sơ thị trường Đức.
- Nông nghiệp: Cũng như hầu hết các nuớc phương Tây khác, tỉ lệ lao động trong
nông nghiệp của CHLB Đức ngày càng giảm đi. Nhiều trang trại vừa và nhỏ ngày
càng bị thu hẹp do lợi nhuận thấp. Các trang trại ngày càng lớn hơn và thường liên
kết với nhau, mặc dù nhiều trang trại nhỏ vẫn làm thêm nhiều công việc phụ bán
thời gian nữa. Phần lớn diện tích nước Đức được dùng cho nông nghiệp, nhưng chỉ
có 2% - 3% dân số Đức làm việc trong ngành này. Các vùng đất được chuyên môn
hoá vào các lĩnh vực canh tác. Vùng bờ biển phía bắc rất thích hợp cho việc nuôi bò
sữa và ngựa. Vùng chân núi Anpơ có nhiều cánh đồng cỏ, nơi đây các ngành chăn
nuôi gia cầm, lợn, bò và cừu rất phát triển. Dải đất màu mỡ dọc theo sườn nam
vùng đất thấp là nơi gieo trồng lúa mì, lúa mạch, ngũ cốc, củ cải đường, cây ăn trái,
khoai tây và nho. Đức là một trong số các nước sản xuất sữa, sản phẩm bơ sữa và
thịt nhiều nhất thế giới. Nông nghiệp ở Đức được điều tiết theo chính sách nông
nghiệp của liên minh châu Âu.
- Công nghiệp: cũng như lĩnh vực nông nghiệp, tỉ lệ lao động trong công nghiệp ở
Đức đã giảm do sự phát triển nhanh của các ngành dịch vụ. Đức phải nhập khẩu hầu
hết nguyên vật liệu và năng lượng, mặc dù có những mỏ than đá ở vùng Ruhr và
dọc theo sông Saar. Đức cũng có quặng sắt, dầu mỏ và khí đốt, song trữ lượng
kinh tế Đức. Đức là một trong số các quốc gia xuất khẩu hàng hóa lớn nhất thế giới ,
xuất khẩu đóng vai trò thiết yếu trong nền kinh tế Đức chiếm 1/3 sản lượng quốc
gia. Các mặt hàng xuất khẩu chính của Đức gồm máy móc, hàng điện tử, ô tô, các
sản phẩm hoá chất, thực phẩm, hàng dệt may, dụng cụ quang học và điện năng. Là
một nước phụ thuộc nhiều vào ngoại thương nên Đức đồng thời cũng nhập nhiều
loại hàng hoá và là một trong số nước nhập khẩu lượng hàng hóa lớn trên thế giới.
Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu là máy móc, phương tiện vận chuyển, hoá chất,
thuốc lá, lương thực, đồ uống, kim loại và các sản phẩm dầu mỏ.
13
Trong cơn bão nợ công đang “càn quét” khắp khu vực sử dụng đồng tiền
chung châu Âu (Eurozone) thì Đức là một trong số ít ỏi các nền kinh tế còn đứng
vững và là trụ cột trong việc giải cứu các quốc gia đang ngập chìm trong nợ nần tại
khu vực.
1.2.2. Xu thế tất yếu của quan hệ kinh tế, thương mại Việt Nam – CHLB Đức.
Việt Nam là một nền kinh tế đang nổi trong khu vực và thế giới với tiềm năng
phát triển vô cùng to lớn, là điểm đến đầy hứa hẹn trong mắt các nhà đầu tư, kinh
doanh quốc tế. Kể từ khi gia nhập WTO (01/2007), cánh cửa ấy đang dần mở rộng
hơn rất nhiều. Với dân số khoảng 90 triệu người, sức tiêu dùng cao, các doanh
nghiệp Việt Nam còn non trẻ, quy mô nhỏ và lợi thế cạnh tranh còn thấp thì đây
chắc chắn là “mảnh đất màu mỡ” cho các công ty nước ngoài, công ty đa quốc gia
muốn thâm nhập và phát triển sản phẩm của mình. Đặc biệt, với các doanh nghiệp
Đức với lợi thế trong ngành sản xuất các sản phẩm công nghệ và kỹ thuật cao như
hóa chất, xe hơi, máy móc, thiết bị điện, điện tử… những ngành công nghiệp mà
Việt Nam còn rất hạn chế và yếu kém thì việc thâm nhập và chiếm lĩnh thị trường là
một xu thế tất yếu. Không những thế, với những cam kết khi gia nhập WTO, những
rào cản thâm nhập thị trường được hạn chế rất nhiều, những cải cách trong hệ thống
luật pháp và sự mở cửa thu hút đầu tư của chính phủ Việt Nam đã, đang và sẽ là
và chính sách luôn mở cửa đón đầu tư thì cơ hội cho các nhà đầu tư CHLB Đức là
rất lớn. Hơn nữa với trình độ phát triển cao, nằm trong số các quốc gia phát triển
nhất thế giới, với một nền tảng công nghiệp, khoa học kỹ thuật cao thì các đối tác
CHLB Đức sẽ có rất nhiều lợi thế về kiến thức, kinh nghiệm và khả năng thích nghi
khi đầu tư tại một thị trường còn mới mẻ và đang phát triển như Việt Nam.
Với những điều kiện và lợi thế riêng của từng nước, trong bối cảnh toàn cầu
hóa và hội nhập ngày càng sâu rộng vào kinh tế thế giới thì củng cố và phát triển
quan hệ kinh tế, thương mại, đầu tư song phương của hai quốc gia là một xu thế tất
yếu. Đặc biệt, khi nền kinh tế thế giới còn đầy rẫy những khó khăn như hiện tại thì
thúc đẩy quan hệ song phương có thể là một trong số các nhân tố quan trọng giúp
hai quốc gia nhanh chóng thoát ra được những khó khăn hiện tại và có những bước
phát triển mạnh mẽ và vững chắc.
15
1.3. Những cơ sở cho sự phát triển quan hệ kinh tế, thương mại và
đầu tư giữa Việt Nam – CHLB Đức.
Nằm trong khối thị trường chung châu Âu, những cơ sở cho sự phát triển quan
hệ kinh tế, thương mại, đầu tư với CHLB Đức cũng bắt đầu từ những cơ sở từ mối
quan hệ với EU.
1.3.1. Những cơ sở chung cho mối quan hệ hợp tác giữa Việt Nam – EU.
1.3.1.1. Hiệp định khung về quan hệ hợp tác Việt Nam - Ủy ban châu Âu (EC).
Việt Nam và Liên minh Châu Âu (EU) chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao
vào tháng 10-1990. Năm năm sau, vào ngày 17-07-1995, Hiệp định khung về quan
hệ hợp tác giữa Việt Nam và Ủy ban Châu Âu (EC) được ký kết và bắt đầu có hiệu
lực vào ngày 01-06-1996, cung cấp cơ sở pháp lý và từng bước mở rộng quan hệ
thương mại và đầu tư song phương. Hiệp định khung đề ra bốn mục tiêu:
- Tăng cường đầu tư và thương mại song phương.
- Hỗ trợ phát triển kinh tế lâu dài của Việt Nam và cải thiện các điều kiện sống cho
hướng tới sớm công nhận Việt Nam có nền kinh tế thị trường. PCA sẽ tạo điều kiện
thuận lợi để hai bên có thể khai thác được tốt hơn lợi thế so sánh và bổ sung lẫn
nhau.
Với các thỏa thuận trong PCA, hai bên có thể hợp tác trên phạm vi rộng lớn
hơn nhiều so với Hiệp định khung 1995. Hiệp định PCA đã thực sự thể hiện bước
phát triển to lớn, sâu rộng của quan hệ Việt Nam - EU sau 20 năm, đưa quan hệ
bước sang một giai đoạn mới với phạm vi rộng lớn và mức độ hợp tác sâu sắc hơn.
1.3.1.3. Đàm phán ký kết Hiệp định thương mại tự do (FTA) Việt Nam – EU.
EU là một đối tác thương mại quan trọng nhất của Việt Nam. Năm 2010, EU
đứng thứ hai trong các nước xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam và đứng thứ năm
trong nhập khẩu vào Việt Nam. Ngược lại Việt Nam vẫn là một đối tác nhỏ của EU,
đứng thứ 31 trong nhập khẩu vào EU và đứng thứ 41 trong xuất khẩu vào thị trường
này (theo số liệu của “Hội thảo đàm phán Hiệp định thương mại tự do (FTA) Việt
Nam – EU” do VCCI tổ chức). Nhưng EU lại coi Việt Nam là một thị trường tiềm
năng và phát triển năng động nhất thế giới, một thị trường dân số trẻ với sức hấp thụ
hàng hóa, dịch vụ lớn, một địa chỉ đầu tư hấp dẫn, ổn định. Chính vì những điều này
đã thúc đẩy mạnh mẽ hai bên tiến tới đàm phán nhằm ký kết Hiệp định thương mại
tự do (FTA) với cơ sở tiền đề là Hiệp định đối tác và hợp tác toàn diện (PCA).
Trong năm qua, cả hai phía đã có các cuộc thảo luận nhằm xác định những lĩnh vực,
17
vấn đề để đàm phán, và quá trình này sắp kết thúc. Hiện cả hai phía đang gấp rút
cho các khâu chuẩn bị kỹ thuật cho các vòng đàm phán FTA, và các cuộc thảo luận
chuẩn bị và mang tính xây dựng cũng liên quan đến quy chế nền thị kinh tế thị
trường và ưu đãi thuế quan phổ cập (GSP) cho Việt Nam nhằm đi đến thống nhất
các vấn đề đàm phán cho hiệp định FTA để có thể bắt đầu vòng đàm phán một cách
sớm nhất, dự kiến có thể khởi động trong năm 2012 này.
Nếu FTA giữa Việt Nam và EU được ký kết thì sẽ là động lực thúc đẩy cả xuất
CHLB Đức mở ra một chương mới trong quan hệ kinh tế hai nước. Đây cũng là cơ
sở pháp lý quan trọng điều chỉnh mối quan hệ về đầu tư nhằm giúp các doanh
nghiệp hai nước xúc tiến các cơ hội đầu tư. Những nội dung chính của hiệp định:
- Đối xử công bằng với các hoạt động đầu tư thuộc sở hữu của công dân hay công ty
của Bên ký kết kia (Đối xử không kém thuận lợi hơn so với công dân, công ty nước
mình hoặc bên thứ 3).
- Đảm bảo sự an toàn cho hoạt động đầu tư của Bên ký kết kia.
- Đảm bảo cho các bên khi đầu tư được tư do luân chuyển các khoản thanh toán.
- Các nội dung liên quaan tới giải quyết tranh chấp.
1.3.2.2. Một số văn bản quan trọng khác.
Trên cơ sở quan hệ hợp tác của Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư lẫn
nhau năm 1993 thì Việt Nam và CHLB Đức còn ký kết nhiều văn bản mở rộng
quan hệ hợp tác khác như:
- Tuyên bố chung về tăng cường mở rộng và tăng cường quan hệ Việt Nam - CHLB
Đức (năm 1995).
- Nghị định thư về hợp tác và phát triển (năm 1995).
- Hiệp định tránh đánh thuế hai lần (năm 1995).
- Hiệp định hợp tác hàng hải, hàng không.
Ngoài những hiệp định và văn bản tăng cường và mở rộng quan hệ giữa hai nước
thì mộ sự kiện quan trọng không thể không kể đến là chuyến viếng thăm của thủ
tướng Đức, bà Angela Merkel tới Việt Nam hồi tháng 10/2011. Đứng trên phương
diện song phương, có thể dễ dàng nhận thấy chuyến thăm Việt Nam của nữ Thủ
tướng Đức Merkel không nằm ngoài mục đích thúc đẩy quan hệ giữa hai nước tiếp
tục phát triển tích cực và sâu rộng trên nhiều lĩnh vực. Thực tế cho thấy tiềm năng
hợp tác giữa Việt Nam và Đức hiện là rất lớn và mức độ hợp tác hiện nay vẫn chưa
tương xứng. Trong khuôn khổ chuyến thăm, bà Merkel còn thúc đẩy việc ký kết
Hiệp định tự do thương mại (FTA) giữa EU và Việt Nam. Và thành quả quan trọng
năm 2001 đạt mức 1,1 tỷ USD đến năm 2004 đạt 1,5 tỷ USD. Tuy nhiên từ năm
2005 trở đi kim ngach thương mại hai chiều gia tăng mạnh mẽ từ mức 1,7 tỷ USD
năm 2005 lên 5,5 tỷ USD năm 2011, tăng 5 lần so với năm 2001, chiếm 2,7% tổng
kim ngạch thương mại của cả nước năm 2011. Đi liền với đó thì Đức cũng là một
trong số các thị trường xuất siêu quan trọng của Việt Nam, năm 2011 Việt Nam
xuất siêu sang Đức hơn 1,1 tỷ USD trong khi kim ngạch thương mại của Việt Nam
thâm hụt tới hơn 9,8 tỷ USD (theo số liệu của Tổng cục thống kê).
Kim ngạch thương mại Việt Nam – CHLB Đức (Đơn vị: triệu USD).
Chỉ tiêu 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011
Việt Nam xuất 1.086,7
1.445,3
1.855,0
2.073,4
1.885,4
2.372,7
3.366,9
Việt Nam nhập 662,5
914,5
1.308,4
1.480,0
kim ngạch thương mại hai chiều tăng hơn 1,4 tỷ USD so với năm trước. Giải thích
cho điều này có thể xuất phát từ những vấn đề nội tại của liên minh châu Âu và
Eurozone(khu vực sử dụng đồng tiền chung châu Âu), đó là tình hình nợ công tại
Hy Lạp và nhiều nước lớn tại châu Âu đang diễn ra phức tạp, nhiều nước buộc phải
áp dụng chính sách “thắt lưng buộc bụng” dẫn tới nhu cầu tiêu dùng của người dân
trong nước giảm và giảm nhập khẩu hàng hóa. Do đó mà các doanh nghiệp xuất
khẩu Việt Nam phải tìm những thị trường thay thế mà Đức là một thị trường quan
trọng trong EU vẫn đứng vững trước cơn bão nợ công tại khu vực này, nhu cầu đối
với hàng hóa vẫn tăng.
Trong liên minh châu Âu EU, CHLB Đức là đối tác thương mại số một của
Việt Nam, chiếm hơn 20% tổng lượng hàng hóa xuất khẩu sang EU và hơn 28%
tổng lượng hàng nhập khẩu từ EU năm 2011. Trong khi đó, Việt Nam hiện vẫn chỉ
chiếm một tỷ trọng tương đối nhỏ trong tổng kim thương mại của Đức, khoảng gần
0.2% trong năm 2010, được Đức xếp hạng đối tác thương mại thứ 40/144 nước xuất
khẩu hàng hóa vào Đức, hạng 55/144 nước nhập khẩu hàng hóa từ Đức và hạng
47/144 nước đối tác thương mại chính trên kim ngạch hai chiều. Tuy nhiên Việt
Nam hiện đang là điểm hướng đến quan trọng khi mà EU nói chung và CHLB Đức
nói riêng đang thúc đẩy quan hệ với các nước thuộc khu vực ASEAN, khu vực kinh
tế năng động bậc nhất của châu Á và thế giới với hơn 600 triệu người và nhiều nước
có tốc độ phát triển kinh tế trung bình nhiều năm gần đây đạt trên 5% và vẫn vững
vàng trước cuộc khủng hoảng tài chính thế giới 2008.
2.1.2. Cơ cấu hàng hóa xuất nhập khẩu.
2.1.2.1. Cơ cấu hàng hóa xuất khẩu.
Cơ cấu hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam sang CHLB Đức khá đa dạng, các mặt
hàng có giá trị xuất khẩu cao tập trung vào các lĩnh vực có thể mạnh của Việt Nam
như hàng dệt may, giày dép, hàng nông thủy sản…