Pháp luật về phí môi trường đối với chất thải
rắn ở Việt Nam
Bùi Đức Nhật
Khoa Luật
Luận văn Thạc sĩ ngành: Luật kinh tế; Mã số: 60 38 50
Người hướng dẫn: PGS.TS. Phạm Hữu Nghị
Năm bảo vệ: 2011
Abstract: Nghiên cứu làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận cơ bản về phí và pháp luật về
bảo vệ môi trường nói chung và phí bảo vệ môi trường đối với chất thải rắn nói riêng.
Tìm hiểu một cách đầy đủ và có hệ thống các của pháp luật về phí bảo vệ môi trường
đối với chất thải rắn. Luận giải về yêu cầu hoàn thiện quy định của pháp luật bảo vệ
môi trường về phí bảo vệ môi trường đối với chất thải rắn, đồng thời đề ra các giải
pháp để hoàn thiện các quy định này.
Keywords: Luật kinh tế; Pháp luật Việt Nam; Phí môi trường; Chất thải rắn
Content
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Môi trường và phát triển có mối quan hệ khăng khít với nhau. Môi trường là địa bàn và
đối tượng của phát triển. Phát triển là nguyên nhân tạo nên những biến đổi tích cực và tiêu cực
đối với môi trường. Phát triển kinh tế - xã hội là nhu cầu tất yếu của loài người và tất nhiên
trong quá trình phát triển kinh tế con người sẽ phải khai thác môi trường, nhưng nếu vì phát
triển kinh tế mà khai thác cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên không tái tạo được hoặc khai thác
quá khả năng phục hồi đối với tài nguyên tái tạo được thì sẽ không còn nguyên liệu, năng
lượng để phát triển, từ đó dẫn tới đình chỉ sản xuất, giảm sút hoặc triệt tiêu hệ thống kinh tế.
Mặt khác, trong quá trình phát triển kinh tế và trong cuộc sống sinh hoạt của con người lượng
chất thải thải ra môi trường ngày càng nhiều, tác động xấu đến không khí, nước, đất và các
thải ô nhiễm, hoặc áp dụng các công nghệ sạch hơn cho môi trường để đảm bảo tăng
trưởng đi đôi với duy trì chất lượng môi trường như chủ trương của Đảng và Nhà
nước ta đề ra.
Một trong các công cụ kinh tế quan trọng bên cạnh thuế bảo vệ môi trường là
phí bảo vệ môi trường. Đề tài tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực
tiễn pháp luật về phí bảo vệ môi trường đối với chất thải rắn, một vấn đề phổ biến
đang diễn ra thường xuyên, hàng ngày ở mọi nơi trong xã hội Việt Nam hiện nay.
Việc tìm hiểu và phân tích quy định của pháp luật trong lĩnh vực này đối với việc
bảo vệ môi trường là yêu cầu cấp thiết, có ý nghĩa vô cùng quan trọng để đảm bảo
sự phát triển bền vững của Việt Nam.
Với những lý do đó, việc nghiên cứu Pháp luật về phí môi trường đối với chất thải rắn ở
Việt Nam″ có ý nghĩa khoa học và có ý nghĩa thực tiễn.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Hiện nay các bài viết và các đề tài nghiên cứu về phí bảo vệ môi trường đối với
chất thải rắn còn rất ít, chủ yếu là các bài viết liên quan đến quản lý chất thải rắn là chủ
yếu, đó là bài viết của TS. Nguyễn Văn Phương: "Chất thải và các quy định về quản lý chất
thải", Tạp chí Luật học, số 4/2003; bài viết của TS. Nguyễn Văn Phương: "Một số vấn đề về
khái niệm chất thải", Tạp chí Luật học, số 10/2006; bài viết của Lê Kim Nguyệt: "Một cơ chế
phù hợp cho quản lý chất thải nguy hại ở Việt Nam", Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số
11/2002; đề tài "Một số vấn đề quản lý chất thải y tế tại Hà Nội", Khóa luận tốt nghiệp của
Nguyễn Kim Thoa, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2004; đề tài khoa học cấp trường
của TS. Nguyễn Văn Phương:"Hoàn thiện pháp luật về quản lý chất thải",2008; đề
tài "Pháp luật về quản lý chất thải nguy hại ở Việt Nam", khóa luận tốt nghiệp của
Nguyễn Thu Loan, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2009 v.v
Hầu hết các đề tài, bài viết này chỉ đi phân tích và đánh giá các vấn đề liên quan đến quản
lý chất thải rắn và chỉ có một số khía cạnh liên quan đến phí bảo vệ môi trường đối với chất
thải rắn mà chưa có một công trình nghiên cứu khoa học pháp lý nào đề cập một cách toàn
3
diện và có hệ thống, có tính chuyên sâu về vấn đề phí bảo vệ môi trường đối với chất thải rắn
Việt Nam hiện hành. Khi nghiên cứu các quy định cụ thể về phí bảo vệ môi trường đối với
chất thải rắn này, luận văn có đề các công cụ kinh tế để quản lý và bảo vệ môi trường được
quy định trong Luật Bảo vệ môi trường cũng như nghiên cứu một cách khái quát về các công
cụ kinh tế trong quản lý và bảo vệ môi trường hiện đang được áp dụng ở một số nước trên thế
giới. Tuy nhiên, cách tiếp cận những vấn đề này chỉ là cơ sở để nghiên cứu toàn diện và có hệ
thống về phí bảo vệ môi trường đối với chất thải rắn theo quy định của pháp luật Việt Nam.
4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện được mục tiêu nghiên cứu nói trên, việc nghiên cứu được tiến hành dựa trên
cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật,
các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về quản lý nhà nước, quản lý xã hội cũng như chủ
trương, quan điểm về việc bảo vệ môi trường phát triển bền vững.
4
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng
và chủ nghĩa duy vật lịch sử, sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu như: Phân tích,
tổng hợp, lôgíc, lịch sử, qui nạp, đối chiếu, so sánh, khảo sát thăm dò lấy ý kiến trong phạm vi
những người làm công tác thực tiễn, sử dụng kết quả thống kê nhằm làm sáng tỏ các vấn đề
trong nội dung luận văn.
5. Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu
Luận văn là một công trình nghiên cứu về phí bảo vệ môi trường đối với chất
thải rắn - một công cụ kinh tế trong quản lý và bảo vệ môi trường hiện mới được áp
dụng tại Việt Nam. Luận văn có ý nghĩa khoa học và thực tiễn ở chỗ: tìm ra được
những tồn tại trong công tác xây dựng và thi hành pháp luật về phí bảo vệ môi
trường đối với chất thải rắn. Từ đó đưa ra những đề xuất, kiến nghị để góp phần
vào việc hoàn thiện các quy định của pháp luật bảo vệ môi trường Việt Nam trên cả
hai phương diện lý luận và thực tiễn.
Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu giảng dạy ở
bậc Đại học, Trường Đào tạo nghề trong lĩnh vực pháp lý và là tư liệu tham khảo đối
với cơ quan và tổ chức hữu quan.
6. Kết cấu của luận văn
nhân hành động sao cho phù hợp với điều kiện của họ.
Thứ hai, công cụ kinh tế có tính hiệu quả về bảo vệ môi trường, nhất là trong nền kinh tế
thị trường; Công cụ kinh tế sử dụng lợi ích kinh tế để quản lý và bảo vệ môi trường do đó các
hành vi môi trường được điều chỉnh một cách tự giác; Sử dụng công cụ kinh tế sẽ đảm bảo
tiết kiệm tài nguyên, giảm thiểu ô nhiễm và nâng cao khả năng tái chế, tái sử dụng chất thải.
Thứ ba, công cụ kinh tế có tính công bằng về mặt xã hội, bởi lẽ, một trong những nguyên
tắc hình thành lên công cụ kinh tế trong quản lý và bảo vệ môi trường là nguyên tắc "Người
gây ô nhiễm phải trả tiền" và nguyên tắc "Người hưởng lợi phải trả tiền".
Thứ tư, công cụ kinh tế có tính kích thích lợi ích kinh tế.
Thứ năm, công cụ kinh tế bảo đảm bảo vệ môi trường gắn liền trong quá trình sản xuất,
kinh doanh.
1.1.3. Vai trò của công cụ kinh tế trong quản lý và bảo vệ môi trường
Thứ nhất, so với các công cụ quản lý và bảo vệ môi trường khác, công cụ kinh tế có một
số ưu điểm nhất định và chính điều này đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc áp dụng các công
cụ kinh tế trong quản lý và bảo vệ môi trường
Thứ hai, các công cụ kinh tế tạo ra nguồn lực tài chính cần thiết để quản lý và bảo vệ môi
trường.
Thứ ba, các công cụ kinh tế kích thích các chủ thể thực hiện những hoạt động có lợi cho
môi trường qua đó góp phần định hướng nền kinh tế phát triển thân thiện với môi trường.
1.2. Quan niệm về phí môi trường đối với chất thải rắn
* Quan niệm về phí bảo vệ môi trường
Phí bảo vệ môi trường là một khoản thu của ngân sách Nhà nước, được thu từ các tổ
chức, cá nhân xả thải ra môi trường hoặc có hoạt động làm phát sinh các nguồn tác động xấu
đối với môi trường nhằm hình thành lên nguồn tài chính để quản lý và bảo vệ môi trường.
Đặc trưng phí bảo vệ môi trường:
Thứ nhất, về đối tượng nộp phí. Theo quy định tại khoản 1 Điều 113 Luật Bảo vệ môi
trường 2005 thì "tổ chức, cá nhân xả thải ra môi trường hoặc có hoạt động làm phát sinh
nguồn tác động xấu đối với môi trường phải nộp phí bảo vệ môi trường".
Thứ hai, về đối tượng chịu phí bảo vệ môi trường là các chất thải như nước thải (Điều 2
Nghị định số 67/2003/NĐ-CP đã được sửa đổi, bổ sung) hoặc là các yếu tố vật chất là đối
Thứ nhất, chi phí quan trắc cao. Để tính toán được số phí phải nộp của mỗi chủ thể đòi hỏi
phải xác định được tổng lượng thải và nồng độ từng chất gây ô nhiễm trong dòng thải hoặc quy
mô ảnh hưởng của các tác động xấu đối với môi trường. Việc làm này đòi hỏi một khoản chi phí
không nhỏ.
Thứ hai, trong một số trường hợp phí bảo vệ môi trường không phát huy được tác dụng
bảo vệ môi trường. Đó là trường hợp mức phí thấp không đủ liều lượng để buộc các chủ thể
phải quan tâm hơn đến việc cải thiện dòng thải.
* Quan niệm về phí bảo vệ môi trường đối với chất thải rắn
Phí bảo vệ môi trường đối với chất thải rắn là một loại phí bảo vệ môi trường có đối
tượng chịu phí là các chất thải rắn theo quy định của pháp luật.
Có thể hiểu chất thải rắn là tất cả các loại vật chất tồn tại ở thể rắn được con người loại bỏ
trong các hoạt động kinh tế - xã hội của mình (bao gồm các hoạt động sản xuất, hoạt động
sống, và duy trì sự tồn tại của cộng đồng…). Chất thải rắn gồm các chất hữu cơ, nhựa, vải sợi,
đất, đá, cát và các tạp chất khác, so với các chất thải ở thể lỏng và thể khí, chất thải rắn có những
tính đặc tính riêng như dế phân loại, dễ thu gom, dễ xác định khối lượng Do đó, việc tính mức
phí bảo vệ môi trường đối với chất thải rắn phải nộp được xác định dựa trên khối lượng chất thải
và loại chất thải rắn (chất thải rắn thông thường hay chất thải rắn nguy hại).
1.3. Cơ sở của việc xây dựng các quy định pháp luật về phí môi trường đối với chất
thải rắn
1.3.1. Xuất phát từ nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền (Polluter Pays Principle
- PPP)
Cụ thể hóa nguyên tắc này, khoản 5 Điều 4 Luật Bảo vệ môi trương quy định: "Tổ chức,
7
hộ gia đình, cá nhân gây ô nhiễm, suy thoái môi trường có trách nhiệm khắc phục, bồi thường
thiệt hại và chịu trách nhiệm khác theo quy định của pháp luật".
1.3.2. Xuất phát từ quan điểm của Đảng về bảo vệ môi trường
Đảng ta đã khẳng định: "Áp dụng các biện pháp kinh tế trong bảo vệ môi trường là giải
pháp phù hợp với bối cảnh kinh tế thị trường, đảm bảo người gây ra thiệt hại và được hưởng
lợi từ môi trường phải trả tiền"
nói riêng ở Việt Nam:
Kinh nghiệm của nước ngoài về sử dụng các công cụ kinh tế vào hoạch định chính sách
môi trường cho thấy: đối với các nước đang phát triển và các nước trong quá trình chuyển đổi
sang cơ chế thị trường như Việt Nam, do điều kiện luật pháp, thể chế chưa hoàn thiện, trình
độ dân trí chưa cao, nên có nhiều vấn đề đặt ra cần cân nhắc kỹ trước khi xây dựng và vận
dụng các công cụ kinh tế trong việc bảo vệ môi trường:
8
- Các vấn đề kỹ thuật: Cơ sở để xác định mức thuế là cần phải nắm được chi phí hoạt
động của người gây ô nhiễm, phải có hệ thống giám sát ô nhiễm (monitoring), các điều kiện
địa lý, tỷ lệ lạm phát
- Các vấn đề chính trị: Đó là sự phản ứng của công chúng, các nhóm xã hội khi đánh thuế
môi trường do nhận thức về môi trường còn thấp. Các doanh nghiệp có thể phản đối thuế môi
trường vì chúng làm tăng thêm gánh nặng chi phí sản xuất đối với họ, làm tăng khả năng cạnh
tranh trên thương trường.
- Các tác động về mặt phân phối, trợ cấp: Từ kinh nghiệm của các nước đã và đang sử
dụng công cụ kinh tế nhằm bảo vệ môi trường cho thấy nó có thể gây tác động tiêu cực tới
nhóm dân cư thu nhập thấp. Để khắc phục tình trạng đó, chúng ta có thể áp dụng các biện
pháp đặc biệt để giảm nhẹ gánh nặng này, chẳng hạn thông qua các ngành có mức độ giảm
thuế, ưu đãi, tín dụng hoặc trợ cấp nhất định.
Các vấn đề về thể chế, trách nhiệm pháp lý môi trường: Sử dụng các công cụ kinh tế đòi
hỏi phải có các cơ cấu thể chế phù hợp, đặc biệt là giám sát thi hành chính sách.
Đối với Việt Nam, khi vận dụng các công cụ kinh tế vào hoạch định chính sách môi
trường cần phải xem xét đến các yếu tố tác động sau đây:
Bổ sung và hoàn thiện các chính sách Nhà nước
- Cần phải thừa nhận và phổ cập nguyên tắc "người gây ô nhiễm phải trả tiền" và nguyên
tắc "người hưởng lợi phải trả tiền".
- Xây dựng một hệ thống các công cụ kinh tế ngày càng hoàn chỉnh cho bảo vệ môi
trường với những đặc điểm và tính chất của cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước
theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
định 174/2007/NĐ-CP của Chính phủ ngày 29 tháng 11 năm 2007 quy định về phí bảo vệ môi
trường đối với chất thải rắn (sau đây gọi là Nghị định 174/2007/NĐ-CP) và thông tư số
39/2008/TT-BTC của Bộ Tài chính ngày 19/5/2008 hướng dẫn thực hiện Nghị định số
174/2007/NĐ-CP ngày 29/11/2007 của Chính phủ về phí bảo vệ môi trường đối với chất thải
rắn (sau đây gọi là Thông tư 39/2008/TT-BTC); Nghị định số 57/2002/NĐ-CP ngày
03/6/2002 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh phí và lệ phí; Nghị định số
24/2006/NĐ-CP ngày 06/3/2006 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định
số 57/2002/NĐ-CP ngày 03/6/2002 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh phí và
lệ phí; Thông tư số 63/2002/TT-BTC ngày 24/7/2002 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện
các quy định pháp luật về phí và lệ phí và Thông tư số 45/2006/TT-BTC ngày 25/5/2006 sửa
đổi, bổ sung Thông tư số 63/2002/TT-BTC ngày 24/7/2002 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực
hiện các quy định pháp luật về phí và lệ phí; Nghị định số 59/2007/NĐ-CP ngày 09/4/2007
của Chính phủ về quản lý chất thải rắn là toàn bộ các cơ sở pháp lý liên quan đến pháp luật về
phí bảo vệ môi trường đối với chất thải rắn. Trong đó Nghị định 174/2007/NĐ-CP và thông tư
39/2008/TT- BTC là những văn bản điều chỉnh trực tiếp vấn đề này. Với những quy định và
hướng dẫn cụ thể về việc thực hiện phí bảo vệ môi trường đối với chất thải rắn này đã tạo điều
kiện thuận lợi cho công tác tiến hành thu cũng như quản lý, sử dụng phí bảo vệ môi trường
đối với chất thải rắn.
2.1.2. Quy định về đối tượng nộp phí bảo vệ môi trường đối với chất thải rắn
Tại Điều 3 Nghị định 174/2007/NĐ-CP và Mục 3 Phần I Thông tư 39/2008/TT- BTC thì
đối tượng nộp phí bảo vệ môi trường đối với chất thải rắn là các tổ chức, cá nhân có thải chất
thải rắn thuộc đối tượng chịu phí quy định tại Điều 2 Nghị định này, trừ những đối tượng tự
xử lý hoặc ký hợp đồng dịch vụ xử lý chất thải rắn đảm bảo tiêu chuẩn môi trường theo quy
định của pháp luật.
Các đối tượng không phải nộp phí bảo vệ môi trường đối với chất thải rắn được quy định
tại Điều 2 Nghị định 174/2007/NĐ-CP và Mục 4 Phần I Thông tư 39/2008/TT-BTC.
2.1.3. Quy định về mức thu và chế độ thu phí bảo vệ môi trường đối với chất thải rắn
Mức thu phí bảo vệ môi trường đối với chất thải rắn được quy định tại Điều 5 Nghị định
số 174/2007/NĐ-CP và Mục 1, 2 Phần II Thông tư 39/2008/ TT - BTC.
2.1.4. Quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong mối quan hệ về phí bảo vệ môi trường
2.2. Thực tiễn thực hiện pháp luật về phí môi trường đối với chất thải rắn và những
vấn đề đặt ra
2.2.1. Những kết quả đạt được
Thứ nhất, từ khi pháp luật quy định về thu phí bảo vệ môi trường đối với chất thải rắn và
các địa phương triển khai thu loại phí này đã tạo thêm một công cụ mới trong hệ thống các
công cụ kinh tế trong quản lý môi trường nói chung, và phí bảo vệ môi trường đối với chất
thải rắn đã góp phần tạo nên sự công bằng đối với thiên nhiên môi trường theo lối có vay, có
trả.
Thứ hai, việc pháp luật hiện hành quy định mức phí bảo vệ môi trường đối với chất thải
rắn: đối với chất thải rắn thông thường là 40.000đ/tấn và chất thải rắn nguy hại là
6.000.000đ/tấn đã khuyến khích người gây ô nhiễm giảm phát thải. Phí bảo vệ môi trường đối
với chất thải tạo cơ hội cho người nộp phí giảm số phí phải nộp bằng cách giảm lượng chất
thải rắn ra môi trường, từ đó giảm tác hại tới môi trường.
Thứ ba, việc tiến hành thu phí bảo vệ môi trường đối với chất thải rắn đã khuyến khích
các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp tại khu vực Thành phố Hồ Chí Minh và Đồng
Nai nghiên cứu, đổi mới công nghệ kiểm soát ô nhiễm và sử dụng công nghệ sạch để giảm
lượng chất thải rắn ra môi trường, có tác động tích cực trong công tác bảo vệ môi trường.
Thứ tư, việc Nghị định 174/NĐ-CP và thông tư 39/2008/TT-BTC quy định giao cho Ủy
ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương xây dựng mức phí bảo vệ môi trường áp
dụng cho từng địa bàn, từng loại đối tượng cụ thể tại địa phương để trình Hội đồng nhân dân
tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết định là tạo ra tính linh hoạt và phù hợp.
11
2.2.2. Những vấn đề đặt ra
Khoản tài chính thu được từ phí bảo vệ môi trường đối với chất thải rắn không đủ đầu tư
cho khắc phục ô nhiễm, hoàn nguyên môi trường, do hành vi phát thải chất thải rắn gây ra.
Tác dụng của phí bảo vệ môi trường đối với chất thải rắn còn thấp, nhất là tác dụng răn đe,
cùng với trình độ dân trí thấp và nhận thức không đầy đủ nên nhiều doanh nghiệp, người dân
đã chây ỳ trong việc nộp phí này.
Việc ban hành và thực thi chính sách thu phí bảo vệ môi trường đối với chất thải rắn ở nước
kinh tế - xã hội của đất nước.
Hai là, giải quyết vấn đề xác định phạm vi và đối tượng điều chỉnh của pháp luật về phí
bảo vệ môi trường đối với chất thải rắn.
12
Ba là, sửa đổi Luật Bảo vệ môi trường và các quy định liên quan đến phí bảo vệ môi
trường đối với chất thải rắn trong các lĩnh vực pháp luật, chú trọng các yếu tố môi trường trong
các văn bản pháp luật, chú trọng đến các yếu tố liên quan đến nguồn nước, đồng thời giải quyết
mối quan hệ giữa Luật bảo vệ môi trường và các văn bản luật chuyên ngành điều chỉnh về môi
trường, phát huy đồng bộ sức mạnh của các biện pháp được quy định trong luật hành chính,
hình sự, dân sự, kinh tế trong việc xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về môi trường, đặc biệt
là các biện pháp kinh tế để bảo đảm sự hài hòa giữa phát triển kinh tế và yêu cầu bảo vệ môi
trường
Bốn là, xây dựng cơ chế bảo đảm thực thi pháp luật và các thiết chế khác liên quan đến
việc bảo đảm thực thi pháp luật về phí bảo trường đối với chất thải rắn.
Năm là, hoàn thiện các quy định về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ môi
trường trong đó có vấn đề xử lý vi phạm trong lĩnh vực nộp phí bảo vệ môi trường đối với
chất thải rắn, hoàn thiện các quy định xử lý về mặt dân sự đối với các hành vi vi phạm pháp luật
môi trường
Sáu là, để đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường trước tình hình mới,
cần sớm hoàn thiện chế định quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường trong việc thu phí bảo vệ
môi trường đối với chất thải rắn, phân công, phân cấp chức năng, nhiệm vụ rõ ràng giữa các
bộ ngành và địa phương trong quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường; xác định rõ nội dung
của quản lý nhà nước về môi trường, xác định rõ chức năng, quyền hạn và quan hệ phối hợp
giữa Cơ quan quản lý Nhà nước về môi trường và Cơ quan quản lý Nhà nước trong các lĩnh
vực khác để tạo thuận lợi cho việc quản lý mà không gây phức tạp cho cơ sở.
Bảy là, trong thời gian tới cần tăng cường hơn nữa công tác kiểm tra, thanh tra và giám
sát việc thực hiện các quy định của pháp luật về phí bảo vệ môi trường đối với chất thải rắn.
Tám là, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về bảo vệ môi
trường nhằm nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường cho các tổ chức, cá nhân và đẩy mạnh
tranh vì hòa bình và tiến bộ xã hội trên phạm vi toàn thế giới". Đó là mục tiêu, là nhiệm vụ
mà Đảng đã đề ra. Để thực hiện được nhiệm đó đòi hỏi phải sử dụng hữu hiệu các công cụ kinh tế
trong quản lý và bảo vệ môi trường, trong đó có phí bảo vệ môi trường đối với chất thải rắn. Để
phí bảo vệ môi trường đối với chất thải rắn phát huy được hiệu quả của mình trong quản lý và bảo
vệ môi trường đòi hỏi pháp luật về phí bảo vệ môi trường đối với chất thải rắn phải được hoàn
thiện cùng với đó yếu tố con người cũng là một trong những nhân tố cực kỳ quan trọng giúp cho
việc nâng cao hiệu quả của việc sử dụng phí bảo vệ môi trường đối với chất thải rắn trong
quản lý và bảo vệ môi trường.
KẾT LUẬN
Việt Nam đang trong quá trình hoàn thiện cơ chế kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà
nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong cơ chế kinh tế đó, để hoạt động bảo vệ môi
trường không mâu thuẫn hay đi ngược lại các mục tiêu của kinh tế thị trường thì việc nghiên
cứu và áp dụng các công cụ kinh tế để quản lý và bảo vệ môi trường là hết sức cần thiết, trong
đó có phí bảo vệ môi trường nói chung và phí bảo vệ môi trường đối với chất thải rắn nói
riêng.
Hiện nay, các quy định của pháp luật về phí bảo vệ môi trường đối với chất thải rắn đã tạo
ra cơ sở pháp lý cho việc thu và sử dụng tiền phí bảo vệ môi trường đối với chát thải rắn thu
được. Tuy nhiên, nhiều quy định của pháp luật về phí bảo vệ môi trường còn mang tính khái
quát, chưa cụ thể, rõ ràng. Vì vậy, việc nghiên cứu là làm rõ hơn các quy định của pháp luật
về phí bảo vệ môi trường đối với chất thải rắn là hết sức cần thiết. Do vậy, tác giả đã lựa chọn
đề tài ″Phí môi trường đối với chất thải rắn ở Việt Nam″ làm Luận văn thạc sĩ Luật học của
mình.
Qua ba chương nội dung của luận văn, tác giả đã cố gắng trình bày những vấn đề liên
quan tới phí và pháp luật về phí bảo vệ môi trường đối với chất thải rắn ở Việt Nam, bao gồm:
những vấn đề lý luận, kinh nghiệm quốc tế, nội dung pháp luật về phí bảo vệ môi trường đối
với chất thải rắn ở Việt Nam, những đề xuất kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật về phí
bảo vệ môi trường đối với chất thải rắn ở Việt Nam. Bên cạnh đó, tác giả cũng đưa ra một số
giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của việc thực thi pháp luật về phí bảo vệ môi trường đối
với chất thải rắn.
quy định pháp luật về phí và lệ phí. Hà Nội.
5. Bộ Tài chính (2006), Thông tư số 45/2006/TT-BTC ngày 25/5 về sửa đổi, bổ sung Thông
tư số 63/2002/TT-BTC ngày 24/7/2002 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện các quy
định pháp luật về phí và lệ phí, Hà Nội.
6. Bộ Tài chính (2008), Thông tư số 39/2008/TT-BTC ngày 19/5 hướng dẫn thực hiện Nghị
định số 174/2007/NĐ-CP ngày 29/11/2007 của Chính phủ về phí bảo vệ môi trường đối
với chất thải rắn, Hà Nội.
7. Bộ Tài chính - Bộ Công nghiệp - Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường (1999), Thông
tư liên tịch số 126/1999/TTLT-BTC-BCN-BKHCNMT ngày 22/10 hướng dẫn việc ký quỹ
15
để phục hồi môi trường trong khai thác khoáng sản, Hà Nội.
8. Bộ Xây dựng (2007), Thông tư 13/2007/TT-BXD ngày 31/12 hướng dẫn một số điều của
Nghị định 59/2007/NĐ-CP ngày 09/4/2007 của Chính Phủ về quản lý chất thải rắn, Hà
Nội.
9. Các Công ước quốc tế về môi trường (1995), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
10. "Cán bộ quản lý môi trưởng thiếu và yếu - Những lỗ hổng cần lấp sớm",
www.baomoi.com/Info.
11. Nguyễn Thế Chinh (Chủ biên) (1999), Áp dụng các công cụ kinh tế để nâng cao năng lực
quản lý môi trường ở Hà Nội, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
12. Chính phủ (2002), Nghị định số 57/2002/NĐ-CP ngày 03/06 quy định chi tiết thi hành
Pháp lệnh Phi và lệ phí, Hà Nội.
13. Chính phủ (2003), Nghị định số 67/2003/NĐ-CP ngày 13/06 về phí bảo vệ môi trường
đối với nước thải, Hà Nội.
14. Chính phủ (2003), Quyết định số 256/2003/QĐ-TTg ngày 02/12 của Thủ tướng chính phủ
về việc phê duyệt chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2010 và định hướng
đến năm 2020, Hà Nội.
15. Chính phủ (2006), Nghị định số 24/2006/NĐ-CP ngày 06/3 về sửa đổi, bổ sung một số
điều của Nghị định số 57/2002/NĐ-CP ngày 03/6/2002 của Chính phủ quy định chi tiết
thi hành Pháp lệnh phí và lệ phí, Hà Nội.
Đại học Luật Hà Nội.
29. Vũ Đức Khánh (2002), "Xử lý chất thải tại các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp tại
Việt Nam", Bảo vệ môi trường, (7).
30. Lê Văn Khoa (1995), Môi trường và ô nhiễm, Nxb Giáo dục, Hà Nội
31. Đặng Mộng Lân (2007), Các công cụ quản lý môi trường, Nxb Khoa học kỹ thuật, Hà
Nội.
32. Nguyễn Thu Loan (2009), Pháp luật về quản lý chất thải nguy hại ở Việt Nam,
Khóa luận tốt nghiệp đại học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội.
33. Hồ Chí Minh (1995), Toàn tập, Tập 4, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
34. Đặng Thị Thu Nga (2005), Những quy định pháp luật về quản lý chất thải, Khoá luận tốt
nghiệp đại học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội.
35. Ngân hàng thế giới (2008), Báo cáo về nguồn phí thu được từ bảo vệ môi trường.
17
36. Phạm Duy Nghĩa (2003), Cơ sở pháp luật kinh tế Việt Nam vì một nền kinh tế phát triển
bền vững và toàn cầu hóa, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
37. Nguyễn Văn Ngừng (2004), Một số vấn đề về bảo vệ môi trường với phát triển kinh tế ở
nước ta hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
38. Bùi Đường Nghiêu (2006), Thuế môi trường, Nxb Tài chính, Hà Nội.
39. Lê Kim Nguyệt (2002), Một cơ chế phù hợp cho quản lý chất thải nguy hại ở Việt
Nam, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 11/2002, Hà Nội.
40. Nguyễn Văn Phương (2003), "Chất thải và các quy định về quản lý chất thải",
Luật học, (4).
41. Nguyễn Văn Phương (2006), "Khái niệm chất thải và quy định về xuất nhập khẩu chất
thải của Cộng hoà liên bang Đức", Luật học, (4).
42. Nguyễn Văn Phương (2006), "Một số vấn đề về khái niệm chất thải", Luật học,
(10).
43. Quốc hội (2005), Luật Bảo vệ môi trường, Hà Nội.
44. Bùi Thiên Sơn (2002), Nghiên cứu sử dụng công cụ tài chính tài chính để bảo vệ môi
trường trong điều kiện công nghiệp hóa hiện đại hóa ở Việt Nam, Luận án tiến sĩ Kinh tế.
quan đến bảo vệ môi trường các năm 2004 -2008), Hà Nội
60. Ủy ban Tài chính - Ngân sách của Quốc hội (2010) Báo cáo số 1206/BC-UBTCNS12
ngày 12/3 về thẩm tra sơ bộ Dự án Luật Thuế môi trường, Hà Nội.
61. Ủy ban Thường vụ Quốc hội (2001), Pháp lệnh Phí và lệ phí, Hà Nội.
62. Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XII, Báo cáo số 369/BC-UBTVQH12 về giải trình, tiếp
thu, chỉnh lý dự án Luật thuế bảo vệ môi trường, Hà Nội.
63. Viện Ngôn ngữ học (2002), Từ điển tiếng Việt phổ thông, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh.
64. Phan Thị Uyên (2000), Nguyên tắc người gây thiệt hại phải trả giá, Khoá luận tốt nghiệp
đại học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội.