Nghiên cứu giải pháp tránh rủi ro pháp lý trong hoạt động thương mại quốc tế của doanh nghiệp việt nam - Pdf 13

bộ t pháp

báo cáo phúc trình
đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ

nghiên cứu giải pháp tránh rủi ro
pháp lý trong hoạt động thơng mại
quốc tế của doanh nghiệp việt nam

Chủ nhiệm đề tài: TS. Bùi Xuân Nhự
Chủ nhiệm Khoa Pháp luật Quốc tế
- Trờng Đại học Luật Hà Nội 7532
22/10/2009

WB Ngân hàng thế giới
WTO Tổ chức thương mại thế giới MỤC LỤC
Mục Trang
PHẦN THỨ NHẤT: TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 01
1. Sự cần thiết phải nghiên cứu đề tài 01
2. Tình hình nghiên cứu đề tài 03
3. Mục đích, phạm vi nghiên cứu của đề tài 03
4. Phương pháp nghiên cứu 05
5. Nội dung nghiên cứu 05

PHẦN THỨ HAI: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 07
Chương I. Khái niệm rủi ro pháp lý trong hoạt
động thương mại quốc
tế của doanh nghiệp 08
I. Định nghĩa rủi ro pháp lý trong hoạt động thương mại quốc tế của doanh
nghiệp 08
II. Đặc điểm và phân loại rủi ro pháp lý trong hoạt động thương mại quốc tế
của doanh nghiệp 13

Chương II. Thực trạng, nguyên nhân phát sinh rủi ro pháp lý của
doanh nghiệp Việt Nam trong hoạt
động thương mại quốc tế 25
I. Thực trạng rủi ro pháp lý trong hoạt động thương mại quốc tế của doanh
nghiệp Việt Nam 25
II. Nguyên nhân phát sinh rủi ro pháp lý trong hoạt động thương mại quốc tế
của doanh nghiệp Việt Nam 67


6. Chuyên đề 6: Rủi ro pháp lý đố
i với doanh nghiệp Việt Nam liên quan đến
quy định của WTO 198

7. Chuyên đề 7: Phân tích thực trạng rủi ro pháp lý của doanh nghiệp Việt
Nam trong ký kết và thực hiện các hợp đồng thương mại quốc tế và giải
pháp phòng tránh 207

8. Chuyên đề 8: Phân tích các rủi ro pháp lý của doanh nghiệp Việt Nam
liên quan đến các quy định về xác lập quyền và chuyển dịch quyền sở
hữu theo pháp luật nước ngoài và gi
ải pháp phòng tránh 221

9. Chuyên đề 9: Nghiên cứu phân tích thực trạng rủi ro pháp lý của doanh
nghiệp Việt Nam trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ và giải pháp phòng tránh 242

10. Chuyên đề 10: Phân tích rủi ro pháp lý đối với doanh nghiệp Việt Nam
liên quan đến việc chọn luật áp dụng và giải pháp phòng tránh 257

11. Chuyên đề 11: Phân tích rủi ro pháp lý đối với doanh nghiệp Việt Nam liên
quan đến việc lựa chọn cơ quan giải quyết tranh chấp và thi hành án 270

12. Chuyên đề 12: Nhu cầu đào tạo và vấn đề nâng cao năng lực của các
doanh nghiệp Việt Nam về giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế 284

13. Chuyên đề 13: Nghiên cứu cơ chế hỗ trợ pháp lý đối với doanh nghiệp
trong nước của một số nước trên thế giới (Hoa Kỳ, EU, ASEAN, Trung
Quốc) và đề xuất xây dựng cơ chế tương tự ở Việt Nam 297

PHẦN THỨ TƯ: BÁO CÁO ĐIỀU TRA XÃ HỘI HỌC 317

Hiệp định về Khuyến khích và Bảo hộ đầu tư, gần 40 Hiệp định tránh đánh
thuế hai lần; khai thông quan hệ với các tổ chức tài chính tiền tệ quốc tế như
IMF, WB, ADB từ năm 1993. Ngày 28/7/1995 Việt Nam đã trở thành thành
viên thứ 7 của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), bắt đầu tiến
trình thực hiện Khu vực mậu d
ịch tự do ASEAN (AFTA); Tháng 3/1996
tham gia Diễn đàn Hợp tác Á- Âu (ASEM); Tháng 11/1998 gia nhập Diễn
đàn Hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC); bình thường hóa
quan hệ và ký kết Hiệp định thương mại song phương với Hợp chủng quốc
Hoa Kỳ. Một trong những bước đi quan trọng trong quá trình hội nhập của
Việt Nam vào nền kinh tế toàn cầu là việc đàm phán và đi đến ký kết với
Hoa Kỳ Hiệp định thương mại song phươ
ng. Ngày 13/07/2000 Việt Nam và
Hoa Kỳ đã chính thức ký kết Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ tại
 2
thủ đô Washington. Hiệp định này đã được Quốc hội hai nước phê chuẩn và
chính thức có hiệu lực thực hiện từ ngày 10/12/2001, tạo ra một bước phát
triển mới trong quan hệ kinh tế giữa hai nước. Đặc biệt ngày 11/01/2007
Việt Nam chính thức là thành viên thứ 150 của Tổ chức thương mại thế giới,
đánh dấu bước phát triển mới của Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế
quốc t
ế.
Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế này tạo tiền đề cho việc phát triển
chiến lược kinh tế - xã hội mà Đảng và Nhà nước ta đã đề ra. Tuy nhiên hội
nhập kinh tế quốc tế cũng đặt ra nhiều thách thức cho Việt Nam, trước hết là
đối với các doanh nghiệp Việt Nam. Khi tham gia thương mại quốc tế, các
doanh nghiệp Việt Nam sẽ không tránh khỏi các tranh chấp thương mại
quốc tế. Nói
đến tranh chấp thương mại, chúng ta vẫn còn nhớ ngay trước và
tại thời điểm Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ có hiệu lực pháp lý

Xét ở phạm vi quốc tế, đây là đề tài nghiên cứu về các rủi ro pháp lý
đặt ra đối với doanh nghiệp Việt Nam, do đó hiện nay chưa có đề tài nước
ngoài nào nghiên cứu về vấn đề
này.
Ở Việt Nam, trong thời gian qua có một số bài báo, hội thảo đã đề cập
đến một số rủi ro pháp lý cụ thể mà một số doanh nghiệp Việt Nam đã gặp
phải khi tham gia thương mại quốc tế. Các bài báo, nghiên cứu nêu trên sẽ
có giá trị tham khảo cho việc nghiên cứu đề tài. Ngoài ra các cán bộ tham
gia nghiên cứu đề tài đã có các bài viết phân tích về cơ chế giải quyết tranh
chấp của WTO về chố
ng bán phá giá, yêu cầu về minh bạch hóa đối với hệ
thống pháp luật của Việt Nam, các qui tắc trong thương mại quốc tế và kinh
doanh quốc tế, lựa chọn luật áp dụng cho hợp đồng thương mại quốc tế,
những điểm cần lưu ý khi ký kết hợp đồng thương mại quốc tế Các kết quả
nghiên cứu này sẽ được kế thừa và phát huy trong quá trình thực hiện
đề tài
này.

III. Mục đích, phạm vi nghiên cứu của đề tài
3.1. Mục đích nghiên cứu
(1) Làm rõ thực trạng rủi ro pháp lý mà các doanh nghiệp Việt Nam đã
và đang gặp phải trong hoạt động thương mại quốc tế;
(2) Phân tích nguyên nhân của các dạng rủi ro này;
(3) Phân tích kinh nghiệm của một số nước về hỗ trợ doanh nghiệp
phòng tránh rủi ro pháp lý trong thương mại quốc tế;
(4) Đề xuất các giải pháp nhằm giúp doanh nghi
ệp Việt Nam tránh
hoặc giảm thiểu rủi ro trong điều kiện hội nhập.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Việc nghiên cứu đề tài tập trung vào 13 vấn đề cơ bản sau đây:

đến việc chọ
n luật áp dụng và giải pháp phòng tránh.
(12) Nghiên cứu phân tích so sánh pháp luật Việt Nam và một số nước là
đối tác thương mại chính của các doanh nghiệp Việt Nam như Mỹ,
EU, Trung Quốc, các nước ASEAN điều chỉnh hoạt động thương
mại có yếu tố nước ngoài.
 5
(13) Nhu cầu đào tạo và vấn đề nâng cao năng lực các doanh nghiệp
Việt Nam về giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế.

IV. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được tiến hành nghiên cứu dựa trên quan điểm của Đảng và Nhà
nước và tư tưởng Hồ Chí Minh, tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của các
nước có điều kiện tương tự Việt Nam bằng các phươ
ng pháp nghiên cứu đặc
thù của việc nghiên cứu khoa học xã hội như: Phương pháp điều tra xã hội
học, phương pháp biện chứng lịch sử; so sánh, phân tích qui nạp; phân tích
diễn dịch; hệ thống hóa, phân tích dự đoán.

V. Nội dung nghiên cứu
Để đạt được mục đích và yêu cầu trên, đề tài bao gồm các nội dung
nghiên cứu sau đây:

PHẦN THỨ NHẤT
Tổng quan nghiên cứu đề tài
I. Sự
cần thiết phải nghiên cứu đề tài
II. Tình hình nghiên cứu đề tài
III. Mục đích, phạm vi nghiên cứu của đề tài
IV. Phương pháp nghiên cứu

rủi ro pháp lý trong hoạt động thương mại quốc tế
II. Một số giải pháp phòng tránh rủi ro pháp lý trong hoạt động thương
mại quốc tế cho doanh nghiệp Việt Nam

PHẦN THỨ
BA
CÁC NGHIÊN CỨU CHUYÊN ĐỀ

PHẦN THỨ TƯ
BÁO CÁO ĐIỀU TRA XÃ HỘI HỌC
 7

PHẦN THỨ HAI
TỔNG THUẬT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI

 8
Chương I
KHÁI NIỆM RỦI RO PHÁP LÝ TRONG HOẠT ĐỘNG

.
Ngay ở Việt Nam, cũng tồn tại khá nhiều cách định nghĩa về rủi ro.
Theo Từ điển Tiếng Việt do Giáo sư Hoàng Phê chủ biên thì “rủi ro là điều
không lành, không tốt bất ngờ xảy đến”
7
. Trong tác phẩm của mình, Nguyễn

1
Willett, Alan H., The Economic Theory of Risk and Insurance (Philadelphia: University of Pennsylvania
Press, 1951).
2
C. O. Hardy, Risk and Risk Bearing (Chicago: The University of Chicago Press); Albert H. Mowbray and
Ralph H. Blanchard, Insurance (5
th
ed.; New York: Mc. Graw - Hill Book Company, Inc.); Clyde J.
Crobough and Amos E. Redding, Casualty Insurance (New York: Prentice-Hall, Inc.); C. A. Kulp,
Casualty Insurance (New York: The Ronald Press Company); Frank Joseph Angell, Insurance, Principles
and Practices (New York: The Ronald Press Company).
3
John Haynes, “Risk as an Economic Factor”, The Quarterly Journal of Economics, IX No. 4 (7/1985).
4
Xem Preffer Irving, Insurance and Economic Theory (Homewood, Illinois: Richard D.Irwin, Inc., 1956);
J. Edward Hedges and Walter Williams, Practical Fire and Casualty Insurance (Cincinnati: The National
Underwriter Company); Albert H. Mowbray, Insurance (1
st
ed.; New York: Mc Graw-Hill book Company,
Inc.); Insurance Department, Chamber of Commerce of the United States, Dictionary of Insurance Terms.
5
Xem John H. Magee, General Insurance (6
th

Nếu định nghĩa “rủi ro là sự không chắc chắn về tổn thất” thì sẽ dẫn đến
tình trạng thiếu rõ ràng và thống nhất trong việc xác định rủi ro. “Sự không
chắc chắn” thường được hiểu là sự hoài nghi của con người về tổn thất. Tuy
nhiên, nhận thức của mỗi cá nhân là khác nhau và thậm chí của bản thân của
mỗi con người cũng thay đổ
i theo thời gian. Như vậy thì cùng với một sự
vật, hiện tượng khách quan có người cho rằng có thể có tổn thất, có người
thì cho rằng không hay bản thân một người lúc thì cho rằng có thể có và lúc
khác lại cho rằng không thể. Ví dụ: có hai gia đình sinh sống gần một trạm
bán gas. Một gia đình thì lo ngại về khả năng trạm bán gas bị cháy nổ sẽ gây
thiệt hại cho nhà mình. Gia đình kia thì không hề quan tâm và cho rằng điều
đ
ó không thể xảy ra vì các bình gas đã được kiểm tra rất kỹ lưỡng. Như vậy,
với một nhà thì việc cháy nổ gas là một rủi ro, còn nhà khác thì lại không coi
là vậy.
Định nghĩa “rủi ro là khả năng xảy ra tổn thất” được coi là khắc phục
được tính chất chủ quan trong định nghĩa nói trên. Bởi lẽ “khả năng” ở đây
đề cập đến trạng thái khách quan của sự vậ
t, hiện tượng, nó tồn tại không

8
Phương pháp mạo hiểm và phòng ngừa rủi ro trong kinh doanh, Nguyễn Hữu Thân - Trường chuyên
nghiệp Marketing, Nxb Thông tin, 1991.
9
TS. Nguyễn Anh Tuấn, Quản trị rủi ro trong kinh doanh ngoại thương, Nxb Lao động - xã hội, 2006, tr.
17.
10
PGS. TS. Đoàn Thị Hồng Vân, Quản trị rủi ro và khủng hoảng, Nxb Thống kê, 2005, tr. 27.
 10
phụ thuộc vào nhận thức của con người. Với những người đánh đồng 2 định

a nói trên. Tuy thế
vẫn còn tồn tại vài điểm cần bàn: thứ nhất, nếu nói “rủi ro là tình huống của
thế giới khách quan trong đó tồn tại khả năng ” thì với ví dụ về “2 ngôi
nhà gần trạm bán gas” nêu ở trên rủi ro chính là “tình huống 2 ngôi nhà ở
gần trạm bán gas” chứ không phải là “việc xảy ra cháy nổ gas”. Như thế vô
hình trung chúng ta đánh đồng “rủi ro” với “tình huống hàm chứa rủi ro”.

11
Xem Quản trị rủi ro trong doanh nghiệp, PGS.TS. Nguyễn Thị Quy (chủ biên), Nxb Văn hóa - Thông tin,
Hà Nội, 2008, tr.18.
 11
Thứ hai, về mặt câu chữ thì “dự tính” và “mong chờ” có nghĩa tương đương
nhau.
Với các nhận định nêu trên, trên cơ sở đồng thuận cao với định nghĩa
cuối cùng, có thể đưa ra một định nghĩa về rủi ro như sau: “rủi ro là khả
năng khách quan xảy ra sự sai lệch bất lợi so với kết quả dự tính”.
Tùy thuộc vào từng tiêu chí phân loại mà có thể chia thành nhiều dạng
rủi ro khác nhau. Dựa vào phạm vi ảnh hưởng của rủi ro, có thể chia rủi ro
thành rủi ro cơ bản (rủi ro phát sinh từ những nguyên nhân ngoài tầm kiểm
soát của mọi người: núi lửa phun, động đất ) và rủi ro riêng biệt (rủi ro xuất
phát từ các biến cố chủ quan và khách quan của từng cá nhân, tổ chức: rủi ro
trong thanh toán, cháy nổ, đắm tàu ). Nếu căn cứ vào tác động môi trường
vĩ mô gây nên rủi ro có thể chia rủi ro thành: rủ
i ro do điều kiện tự nhiên, rủi
ro chính trị, rủi ro kinh tế, rủi ro văn hóa và rủi ro pháp lý. Nhưng cũng
giống như rủi ro, hiện có không ít quan điểm khác nhau về nội hàm khái
niệm rủi ro pháp lý. TS. Nguyễn Anh Tuấn cho rằng: “rủi ro pháp lý là
những rủi ro có nguồn gốc từ sự thay đổi về luật pháp liên quan đến kinh
doanh; sự mập mờ, chồng chéo, không thống nhất của các văn bản pháp
quy, sự

lý. Như trên đã nói, tiêu chí đưa ra chính là dựa vào tác động môi trường vĩ
mô gây nên rủi ro. Điều đó cho thấy rằng rủ
i ro pháp lý chính là rủi ro liên
quan tới các quy định pháp luật. Chính điểm này đã được nêu khá rõ trong
định nghĩa của TS. Nguyễn Anh Tuấn - với các luận giải về một số nguyên
nhân gây nên rủi ro pháp lý như sự thay đổi của pháp luật, sự thiếu thông tin
về pháp luật Kết nối với định nghĩa về rủi ro đưa ra ở trên, theo chúng tôi
có thể định nghĩa về rủi ro pháp lý như sau: “rủi ro pháp lý là khả năng
khách quan x
ảy ra sự sai lệch bất lợi so với dự tính liên quan tới các quy
định pháp luật”. Định nghĩa như vậy sẽ vừa đảm bảo sự kế thừa của định
nghĩa về rủi ro ở trên vừa chỉ ra được bản chất của rủi ro pháp lý - rủi ro liên
quan tới các quy định của pháp luật (chứ không phải là chính trị hay động
đất, sóng thần ).
Về khái niệm thương mạ
i quốc tế, theo suốt chiều dài lịch sử, với tính
đa dạng và sự phát triển ngày càng cao của các hoạt động giao thương trong
thực tế đã làm cho quan niệm về nội hàm của khái niệm này cũng có sự biến
chuyển. Hiện nay cả về lý luận cũng như pháp luật thực định, quan niệm về
thương mại được hiểu rất rộng, bao hàm cả thương mại hàng hóa, thương
m
ại dịch vụ, đầu tư và quyền sở hữu trí tuệ. Tính quốc tế của hoạt động
thương mại cũng được hiểu khác nhau tùy thuộc vào quan điểm của mỗi học
giả, tinh thần của mỗi hệ thống pháp luật, thậm chí mỗi văn bản quy phạm
pháp luật. Nếu dựa vào quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành
14
thì có
thể thấy rằng hoạt động thương mại quốc tế được hiểu là hoạt động thương
mại vượt ra khỏi biên giới quốc gia hoặc biên giới hải quan
15

quốc tế của doanh nghiệp
2.1. Đặc điểm rủi ro pháp lý trong hoạt động thương mại quốc tế của
doanh nghiệp
Với định nghĩa nêu trên có thể rút ra các đặc điểm cơ bản của rủi ro
pháp lý trong thương mại quốc tế của doanh nghiệ
p như sau:
Thứ nhất, đó là khả năng xảy ra sự sai lệch bất lợi so với dự tính của
doanh nghiệp. Sai lệch bất lợi so với dự tính có thể là về vật chất (giảm sút
lợi nhuận) nhưng cũng có thể là về những giá trị phi vật chất (ví dụ mất uy
tín trên thương trường do vướng phải kiện tụng).
Thứ hai, sai lệch bấ
t lợi mà doanh nghiệp gặp phải xảy ra trong lĩnh
vực thương mại quốc tế. Điều đó có nghĩa là phạm vi các sai lệch bất lợi
được bàn tới chỉ liên quan đến hoạt động thương mại quốc tế của doanh
nghiệp mà không đề cập tới hoạt động thương mại nội địa.
Thứ ba, các sai lệch bất lợi mà doanh nghiệp gặp phải có liên quan tớ
i
các quy định của pháp luật. Đây là đặc điểm khẳng định dạng rủi ro mà
doanh nghiệp gặp phải chính là rủi ro pháp lý. Các quy định của pháp luật
chính là nguyên nhân đưa tới khả năng xảy ra sai lệch bất lợi. Đó có thể là
sự thay đổi của pháp luật, các quy định khó hiểu của pháp luật, sự khó tiếp
cận các quy định pháp luật

 14
2.2. Phân loại rủi ro pháp lý trong hoạt động thương mại quốc tế của
doanh nghiệp
Với định nghĩa đưa ra về rủi ro pháp lý trong thương mại quốc tế của
doanh nghiệp thì có thể chia ra nhiều dạng rủi ro pháp lý khác nhau mà
doanh nghiệp có thể gặp phải trong thương mại quốc tế.
Nếu dựa vào ý thức chủ quan của doanh nghiệp thì có thể chia thành:

hữu dẫn tới hậu quả là quyền sở hữu không được thừa nhận, hoặc không
chứ
ng minh được từ đó không thể chuyển giao được tài sản, làm phát sinh
 15
nhiều chi phí lưu kho, lưu bãi các chi phí khác để theo đuổi giải trình…
thậm chí có trường hợp mất không tài sản.
2.2.2. Rủi ro pháp lý từ việc lựa chọn mô hình pháp lý không phù hợp
Khi tiến hành lựa chọn mô hình pháp lí trong thương mại quốc tế, các
doanh nghiệp đến từ các nước nói chung và các doanh nghiệp Việt Nam nói
riêng có thể gặp phải những rủi ro sau đây:
Một là, rủi ro do lựa chọn mô hình pháp lý không phù hợp với các qui
định pháp lý và các cam kết qu
ốc tế của nước nhận đầu tư. Trong trường
hợp đó, nhà đầu tư nước ngoài có thể bị cơ quan có thẩm quyền của quốc gia
sở tại từ chối cấp phép, không cấp giấy chứng nhận đầu tư, giấy chứng nhận
hoạt động do không phù hợp với qui định của pháp luật. Ví dụ như, nhà đầu
tư nước ngoài M muốn thành lập doanh nghiệ
p có vốn nước ngoài ở quốc
gia N; nhà đầu tư M muốn có đối tác cùng chia sẻ lợi nhuận và rủi ro nhưng
đồng thời lại không muốn liên kết với quá nhiều đối tác, do vậy, nhà đầu tư
M chỉ chọn thêm 2 đối tác nữa cùng góp vốn để thành lập doanh nghiệp liên
doanh dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn (nhà đầu tư tư duy rằng 3
cổ đông là số lượng đủ để được phép thành l
ập công ty trách nhiệm hữu hạn
nhiều thành viên); mặc dù mọi công đoạn chuẩn bị đã hoàn thành, nhưng khi
hồ sơ được gửi tới cơ quan cấp phép đầu tư của quốc gia N thì hồ sơ đã bị từ
chối vì theo pháp luật của nước N, công ty trách nhiệm hữu hạn có vốn nước
ngoài, tại bất kỳ thời điểm nào trong quá trình tồn tại của nó, luôn luôn phải
có ít nh
ất là 7 cổ đông.

Luật pháp của các nước cũng như các định chế thương mại toàn cầu hay khu
vực đều có hệ thống qui định pháp lý b
ảo hộ quyền sở hữu trí tuệ và ngày
một trở nên nghiêm ngặt. Tham gia quan hệ thương mại quốc tế, doanh
nghiệp có thể tận dụng được các lợi thế về quyền sở hữu trí tuệ nhưng cũng
phải đối mặt với các rủi ro liên quan tới vấn đề này. Rủi ro về quyền sở hữu
trí tuệ có thể đến từ bất kỳ loại đố
i tượng nào như nhãn hiệu, sáng chế hay
bản quyền.
Rủi ro pháp lý liên quan tới nhãn hiệu
Thực tế cho thấy, không chỉ có các doanh nghiệp nước ngoài, các nhãn
hiệu lớn của nước ngoài mới bị vi phạm hoặc bị đánh cắp tại Việt Nam mà
có nhiều nhãn hiệu của các doanh nghiệp lớn ở Việt Nam cũng bị đánh cắp
hoặc bị sử dụng trước hoặc đăng ký bảo h
ộ trước ở nước ngoài bởi các chủ
thể khác.
Chẳng hạn, vừa qua một số nhãn hiệu có tiếng của Việt Nam bị các
công ty nước ngoài đăng ký bảo hộ trước tại thị trường nước ngoài, do đó
việc xuất khẩu các hàng hoá này vào một số thị trường nước ngoài gặp phải
không ít khó khăn. Một số vụ kiện tụng giữa các doanh nghiệp Việt Nam và
nước ngoài đ
ã xảy ra dẫn đến thiệt hại lớn về chi phí tranh tụng, phạt hợp
đồng cũng như mất đi cơ hội kinh doanh. Đặc biệt, trong trường hợp
không bảo vệ được, các doanh nghiệp Việt Nam có thể bị mất quyền sở hữu
và sử dụng đối với các nhãn hiệu ở nước ngoài hoặc nếu muốn sử dụng thì
 17
phải mua lại với giá cao. Về thực tế này, chúng ta có thể thấy rõ thông qua
các ví dụ của nhãn hiệu cà phê Trung Nguyên hay nhãn hiệu thuốc lá
Vinataba.
Cũng về vấn đề nhãn hiệu, trong xu thế hội nhập và toàn cầu hoá về

kiểm tra cũng như không ràng buộc trách nhiệm của nhà cung cấp thì rất có
thể bị thiệt hại lớn khi bị phát hiện và bị kiện về việc sử dụng máy móc, thiết
bị hoặc dây chuyền sản xuất không hợp pháp để sản xuất hàng hoá. Nghiêm
trọng hơn nữa là nếu hàng hoá được xuất khẩu thì còn có nguy cơ gặp nhiều
rủi ro hơn.
 18
Rủi ro pháp lý liên quan đến bí quyết kỹ thuật và chuyển giao công
nghệ
Kinh nghiệm thực tế trong một số giao dịch quốc tế gần đây ở Việt
Nam cho thấy, một số đơn vị nhập khẩu dây chuyền sản xuất với chi phí lớn
nhưng đã không quan tâm và không ràng buộc điều kiện là chuyển giao kèm
theo các bí quyết kỹ thuật và các thông tin công nghệ. Điều này thường xảy
ra ở
những trường hợp các doanh nghiệp Việt Nam đi mua lại dây chuyền
sản xuất cũ hoặc mua của các doanh nghiệp nước ngoài đang hoặc đã bị phá
sản mà dây chuyển sản xuất trước đây họ cũng đi mua từ nhà sản xuất hoặc
cung cấp khác. Bởi vì trong các tình huống này, người bán có thể chưa có
quyền hoặc khả năng làm chủ các bí quyết kỹ thuật và công nghệ. Do vậy,
họ thường lẩn tránh các nghĩa vụ về chuyển giao công nghệ kèm theo. Hậu
quả là, sau khi nhập dây chuyền sản xuất về Việt Nam, doanh nghiệp của
chúng ta vẫn không có khả năng đưa dây chuyền đó hoạt động bình thường
và thường là mất rất nhiều thời gian, công sức và chi phí bổ sung để nhận
được công nghệ kèm theo máy móc và dây chuyền sản xuất. Trong khi đó,
nếu thoả thuận trong hợp đồng như là m
ột bộ phận hoặc một điều kiện để
mua máy móc thì giá có thể rẻ hơn rất nhiều.
Rủi ro pháp lý liên quan đến vấn đề bản quyền
Vấn đề bản quyền tác giả là chủ đề ngày càng nóng bỏng gắn liền với
việc gia nhập WTO và hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế thế giới
của Việt nam.

trường và tiêu chuẩn lao động. Trong trường hợp không hiểu biết đầy đủ
hoặc không đáp ứng được các tiêu chuẩn đó, các hàng hoá của Việt Nam sẽ
không được nhập khẩu vào các thị trường này.
Loại rủi ro nói trên thường xảy ra đối với các doanh nghiệp trong lĩnh
vực may mặc, giày dép hoặc thực phẩm.
Một ví dụ khác liên quan đến việc áp dụ
ng các rào cản kỹ thuật của các
Chính phủ, đó là theo qui định của một số nước (chẳng hạn như Hoa Kỳ và
Châu Âu), khi chuyển giao các thiết bị và công nghệ cao ra nước ngoài trong
lĩnh vực nhạy cảm, thì phải được sự phê chuẩn của Chính phủ và/hoặc việc
chuyển giao các công nghệ đó phải phù hợp với các cam kết song phương,
đa phương hoặc quốc tế. Tuy nhiên, thực tế cho thấy nhi
ều nhà cung cấp các
loại thiết bị và công nghệ này ra nước ngoài chưa tiến hành xin các phê
chuẩn cần thiết từ Chính phủ của mình trong giai đoạn đấu thầu, mà chỉ đến
khi thắng thầu và đàm phán hợp đồng xong thì họ mới xin phê chuẩn. Điều
này có thể gây ra rủi ro là mặc dù bên mua của Việt Nam đã hoàn thành quá
trình đấu thầu và quyết định chọn thầu, nhưng các nhà cung cấp vẫn có thể
không xin đượ
c các phê chuẩn từ Chính phủ hoặc chậm trễ trong việc xin
các phê chuẩn đó, dẫn tới hoặc gói thầu bị đổ bể hoặc tiến độ bị chậm trễ.
2.2.5. Rủi ro pháp lý liên quan đến các qui định về thuế
Các thỏa thuận về vấn đề thuế cũng là nội dung có thể gây ra rủi ro đối
với các doanh nghiệp Việt Nam trong hoạt động thương mại quốc tế.
 20
Nói chung, hệ thống luật pháp của từng nước đều qui định ai là chủ thể
phải nộp các loại thuế, phí và lệ phí trong một quan hệ kinh tế nhất định có
liên quan đến quốc gia đó. Tuy nhiên, do không nắm bắt được rõ luật pháp
của đối tác nên doanh nghiệp ở các nền kinh tế chuyên nghiệp có xu hướng
yêu cầu các đối tác Việt Nam phải chịu tất cả các loại thuế, phí và lệ phí,

thẩm định tư cách pháp lý của đối tác cũng không hề dễ dàng. Chủ yếu hiện
nay, khi giao kết, các đối tác Việt Nam yêu cầu cung cấp các Giấy tờ chứng
minh tư cách pháp lý và năng lực tài chính nhưng không có gì đảm bảo chắc
ch
ắn rằng các giấy tờ này không bị làm giả, nhất là khi các giấy tờ được cấp


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status