Pháp luật về quyền và nghĩa vụ của đương sự trong quá trình giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại bằng phương thức tòa án - Pdf 50

NGUYỄN THỊ THU HƯƠNG

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ

LUẬT KINH TẾ

PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA
ĐƯƠNG SỰ TRONG QUÁ TRÌNH GIẢI QUYẾT
TRANH CHẤP KINH DOANH, THƯƠNG MẠI
BẰNG PHƯƠNG THỨC TÒA ÁN

NGUYỄN THỊ THU HƯƠNG

2015- 2017

HÀ NỘI – 2017


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ

PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA
ĐƯƠNG SỰ TRONG QUÁ TRÌNH GIẢI QUYẾT
TRANH CHẤP KINH DOANH, THƯƠNG MẠI
BẰNG PHƯƠNG THỨC TÒA ÁN

Một lần nữa, tôi xin chân thành cảm ơn tất cả!
Học viên:

Nguyễn Thị Thu Hương


MỤC LỤC
Trang
LỜI MỞ ĐẦU

1

Chương 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ ĐƯƠNG SỰ VÀ QUYỀN,
NGHĨA VỤ CỦA ĐƯƠNG SỰ TRONG QUÁ TRÌNH GIẢI QUYẾT
TRANH CHẤP KINH DOANH, THƯƠNG MẠI TẠI TÒA ÁN

8

1.1 Khái quát về đương sự trong vụ án về tranh chấp kinh doanh,
thương mại

8

1.1.1. Khái niệm và đặc điểm của đương sự trong vụ án về tranh chấp
kinh doanh, thương mại

8

1.1.2. Thành phần đương sự trong vụ án về tranh chấp kinh doanh,
thương mại

31

2.1. Quyền và nghĩa vụ chung của đương sự trong quá trình giải

31


quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa án
2.1.1. Nhóm quyền thể hiện quyền tự định đoạt của đương sự trong quá
trình giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa án

32

2.1.2. Nhóm quyền và nghĩa vụ của đương sự trong hoạt động cung cấp
chứng cứ và chứng minh

42

2.1.3. Nhóm quyền và nghĩa vụ khác của đương sự trong quá trình giải
quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa án

47

2.2.

Quyền và nghĩa vụ riêng của từng đương sự trong quá trình
giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa án

57


luật về quyền và nghĩa vụ của đương sự trong quá trình giải
quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa án.

70

3.3. Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thực thi các quy định
của pháp luật về quyền và nghĩa vụ của đương sự trong quá trình
giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa án

82

3.2.

KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

88


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BLTTDS

:

Bộ luật Tố tụng dân sự

TTDS

:

các bên tranh chấp khi phát sinh những mâu thuẫn, bất đồng trong hoạt động kinh
doanh.
Để việc giải quyết tranh chấp trong kinh doanh, thương mại tại Tòa án đạt hiệu
quả cao nhất, thì bên cạnh vai trò to lớn của Tòa án, vai trò của các đương sự khi
tham gia vào quá trình tố tụng cũng quan trọng không kém. Bởi lẽ, trong vụ án dân
sự nói chung và các vụ tranh chấp kinh tế nói riêng, đương sự được xem là nhân vật
trung tâm trong quá trình tố tụng; có thể khẳng định không có sự tham gia đầy đủ
của đương sự thì công việc giải quyết tranh chấp của Tòa án gần như không đạt hiệu
quả. Đặc biệt, việc xác định quyền lợi, trách nhiệm và nghĩa vụ của đương sự trong
quá trình giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại là hết sức cần thiết. Pháp

1


luật tố tụng dân sự Việt Nam qua các thời kỳ đều đã đưa ra những quy định về
quyền và nghĩa vụ của đương sự trong quá trình tham gia tố tụng, như: Pháp lệnh
thủ tục giải quyết các vụ án dân sự 1989, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án
kinh tế 1994, Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) năm 2004 ( sửa đổi, bổ sung năm
2011) – những văn bản này đã có những quy định thiết thực nhằm nâng cao trách
nhiệm cũng như bảo vệ quyền của đương sự trong quá trình giải quyết tranh chấp
kinh doanh thương mại tại Tòa án. Tuy nhiên, những quy định này vẫn còn mang
tinh chung chung, chưa có sự chi tiết và cụ thể hóa khiến cho việc áp dụng trong
thực tiễn tố tụng dân sự còn gặp nhiều khó khăn.
Từ yêu cầu cấp bách trong bối cảnh các tranh chấp kinh doanh, thương mại
ngày càng phức tạp như hiện nay, các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự 2004
(sửa đổi, bổ sung năm 2011) chưa thực sự phát huy hiệu quả, đặc biệt là trong việc
xác định quyền và nghĩa vụ của đương sự, do đó, ngày 25 tháng 11 năm 2015, Quốc
Hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua Bộ luật Tố tụng dân sự
mới, chính thức có hiệu lực vào ngày 01 tháng 7 năm 2016; BLTTDS 2015 đã khắc
phục hạn chế, kế thừa và bổ sung nhiều quy định có tính khả thi hơn so với

này, mỗi công trình đều có những cách tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau:
Xét dưới góc độ nghiên cứu về các vấn đề pháp lý liên quan đến đương sự
trong tố tụng dân sự, không thể không kể đến Luận án Tiến sĩ Luật học “Đương sự
trong tố tụng dân sự - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” của tác giả Nguyễn Triều
Dương, Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2010; Luận án đã đem đến cái nhìn toàn
diện về các nội dung pháp lý quan trọng liên quan đến đương sự, từ đó đưa ra
những kiến nghị thiết thực nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật
tố tụng dân sự. Tiếp tục kế thừa những đóng góp của Luận án, tác giả Nguyễn Thị
Hiền, Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2012 với bài Khóa luận tốt nghiệp “Đương
sự trong vụ án dân sự - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” đã khai thác vấn đề pháp
lý về đương sự liên quan đến vụ án dân sự. Và dưới cấp độ một bài báo khoa học,
bài viết “Đương sự trong vụ án dân sự” của tác giả Nguyễn Việt Cường được đăng
trên Tạp chí Nghề luật số tháng 02 năm 2006 cũng đã khái quát được những nội

3


dung quan trọng của pháp luật tố tụng dân sự về đương sự trong các vụ án dân sự ở
Việt Nam.
Xét dưới góc độ nghiên cứu về quyền và nghĩa vụ của đương sự trong tố tụng
dân sự, có thể kể đến các công trình như: Luận văn Thạc sỹ Luật học “ Đảm bảo
thực hiện quyền và nghĩa vụ chứng minh của đương sự trong tố tụng dân sự Việt
Nam” của tác giả Nguyễn Thanh Nga, Trường ĐH Luật Hà Nội, năm 2013 và
“Quyền tố tụng của đương sự và thực tiễn thực hiện” của tác giả Đỗ Thị Hà, Trường
ĐH Luật Hà Nội, năm 2013. Những luận văn này đã tập trung vào việc phân tích
một số quyền quan trọng của đương sự trong tố tụng dân sự, từ đó đề ra các kiến
nghị và giải pháp nhằm bảo đảm quyền lợi cho các đương sự. Bên cạnh đó, bàn về
nghĩa vụ của đương sự trong quá trình tham gia tố tụng, không thể không kể đến
Luận văn Thạc sỹ Luật học “Nghĩa vụ của đương sự trong tố tụng dân sự Việt
Nam” của tác giả Phạm Thị Hoàng Phúc, Trường ĐH Luật Hà Nội, năm 2013; luận

của đương sự trong vụ án về tranh chấp kinh doanh thương mại; đồng thời luận văn
cũng phân tích những bất cập; hạn chế của pháp luật tố tụng dân sự gây khó khăn
cho các đương sự trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình trên thực tế; từ
đó đưa ra cái nhìn bao quát và đề xuất những kiến nghị, giải pháp nhằm góp phần
hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam.
Về không gian, luận văn nghiên cứu dựa trên phạm vi các quy định của pháp luật
tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành và hướng đến đối tượng chính là đương sự trong
các vụ tranh chấp kinh doanh, thương mại , chủ yếu là các quy định của BLTTDS
2015, ngoài ra, Luận văn còn có sự đối chiếu với các quy định của Bộ luật tố tụng dân
sự 2004 ( sửa đổi, bổ sung năm 2011) , các văn bản hướng dẫn, các văn bản pháp luật
chuyên ngành khác liên quan và đôi nét so sánh với pháp luật tố tụng dân sự của một số
quốc gian khác trên thế giới.
4. Phương pháp nghiên cứu đề tài
Để làm rõ các vấn đề cần nghiên cứu, luận văn sử dụng nhiều phương pháp
nghiên cứu khoa học khác nhau như: Chương 1 của luận văn được triển khai thông
qua phương pháp phân tích các vấn đề chung về đương sự và quyền, nghĩa vụ của
đương sự trong quá trình giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại Tòa án,
kết hợp với phương pháp so sánh, đối chiếu với pháp luật tố tụng dân sự một số

5


nước khác. Đối với chương 2, tác giả sử dụng phương pháp phân tích nhằm cụ thể
hóa và làm rõ những quy định của pháp luật tố tụng dân sự về quyền và nghĩa vụ
của đương sự trong quá trình giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa
án. Từ đó, ở chương 3, bằng phương pháp đối chiếu, phương pháp kết hợp nghiên
cứu lý luận với thực tiễn, tác giả đưa ra những kiến nghị góp phần hoàn thiện và
nâng cao hiệu quả thực thi các quy định của pháp luật tố tụng dân sự về quyền và
nghĩa vụ của đương sự.
Dù là sử dụng phương pháp nào để xây dựng các nội dung của luận văn thì

Trong khuôn khổ một Luận văn thạc sỹ, tác giả sẽ làm sáng tỏ một cách có hệ
thống những vấn đề lý luận về đương sự và quyền và nghĩa vụ của đương sự trong
quá trình giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại Tòa án. Trên cơ sở các
quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành, tác giả còn đi sâu bình luận, đánh
giá thực trạng các quy định pháp luật về quyền và nghĩa vụ của đương sự, có sự dẫn
chiếu so sánh với Bộ luật Tố tụng dân sự 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011) . Cuối
cùng, từ việc đánh giá những bất cập, hạn chế của pháp luật tác giả đưa ra những
quan điểm và kiến nghị góp phần hoàn thiện Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 về quyền
và nghĩa vụ của đương sự trong quá trình giải quyết tranh chấp kinh doanh thương
mại tại Tòa án .
7. Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần lời nói đầu và phần kết luận, luận văn được bố cục nội dung chính
gồm 3 chương:
Chương 1: Khái quát chung về đương sự và quyền, nghĩa vụ của đương sự
trong quá trình giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa án
Chương 2:Thực trạng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam về
quyền và nghĩa vụ của đương sự trong quá trình giải quyết tranh chấp kinh doanh
thương mại tại Tòa án;

7


Chương 3: Một số kiến nghị góp phần hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực
thi pháp luật về quyền và nghĩa vụ của đương sự trong quá trình giải quyết tranh
chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa án

8


Chương 1



quá trình giải quyết các khiếu nại, các tranh chấp phát sinh trong một số lĩnh vực cụ
thể. [5, tr.3]
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 68 BLTTDS 2015 thì: “Đương sự trong vụ án
dân sự là cơ quan, tổ chức, cá nhân bao gồm nguyên đơn, bị đơn, người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan.
Đương sự trong việc dân sự là cơ quan, tổ chức, cá nhân bao gồm người yêu
cầu giải quyết việc dân sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan”.
Có thể thấy, BLTTDS 2015 đã đưa ra định nghĩa về đương sự theo hướng liệt
kê các chủ thể là đương sự khi tham gia vào quá trình tố tụng. Kết hợp với cách giải
thích về đương sự trong các cuốn từ điển, có thể hiểu đương sự là chủ thể tham gia
vào quá trình tố tụng dân sự, thông qua Tòa án đề bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của mình, bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích hợp pháp của Nhà nước.
Vậy, đương sự trong vụ án về tranh chấp kinh doanh, thương mại là gì? Trước
hết, vụ án về tranh chấp kinh doanh, thương mại là một trong những vụ án dân sự
theo quy định của BLTTDS 2015: vụ án dân sự bao gồm: vụ án về tranh chấp dân
sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động. Việc tìm hiểu khái
niệm đương sự trong vụ án về tranh chấp kinh doanh, thương mại có ý nghĩa cụ thể
hóa một trong những nội dung quan trọng của vụ án dân sự. Tranh chấp kinh doanh,
thương mại được hiểu là những bất đồng, xung đột về quyền và lợi ích giữa các bên
chủ thể khi tham gia vào quan hệ thương mại, chủ yếu nhằm mục đích sinh lời.
Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường phát triển như hiện nay, hoạt động kinh
doanh, thương mại diễn ra ngày càng sôi nổi, khiến cho tranh chấp phát sinh trong
lĩnh vực này cũng gia tăng rõ rệt. Các bên tranh chấp trong kinh doanh, thương mại
thường là thương nhân, hay các tổ chức, cá nhân khác có tham gia quan hệ thương
mại với thương nhân.
Theo quy định tại Điều 30 BLTTDS 2015 thì nhóm các tranh chấp về kinh
doanh, thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án bao gồm:


cổ phần”. BLTTDS 2015 cũng đã thêm điều khoản loại trừ đối với “các tranh chấp

11


khác về kinh doanh, thương mại”: “Các tranh chấp khác về kinh doanh, thương mại,
trừ trường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức khác theo quy
định pháp luật”. Những quy định này đã cho thấy sự tiến bộ của BLTTDS 2015, thể
hiện sự tương thích và phù hợp với các văn bản pháp luật khác; từ đó làm rõ hơn về
nội dung các tranh chấp trong kinh doanh, thương mại.
Như vậy, các tranh chấp kinh doanh, thương mại được BLTTDS 2015 liệt kê
tại Điều 30 đều liên quan đến các chủ thể có tham gia vào quan hệ thương mại, chủ
yếu là giữa các thương nhân với nhau hoặc giữa thương nhân với các bên có liên
quan trong quan hệ thương mại. Từ đó, có thể hiểu vụ án về tranh chấp kinh doanh,
thương mại là những vụ việc xung đột, bất đồng về quyền và lợi ích phát sinh giữa
các bên trong quan hệ thương mại được giải quyết tại Tòa án. Với những phân tích
trên, có thể đưa ra khái niệm:
Đương sự trong vụ án về tranh chấp kinh doanh, thương mại là các cơ quan,
tổ chức, cá nhân tham gia tố tụng tại Tòa án để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của mình thông qua việc giải quyết mâu thuẫn, xung đột trong quan hệ thương mại;
bao gồm: nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
1.1.1.2. Đặc điểm của đương sự trong vụ án về tranh chấp kinh doanh, thương mại:
BLTTDS 2015 khi quy định về thành phần các đương sự trong vụ án dân sự
vẫn giữ nguyên cách phân loại như BLTTDS 2011. Vụ án về tranh chấp kinh doanh
thương mại là một dạng của vụ án dân sự, vì vậy, đương sự trong vụ án tranh chấp
kinh doanh, thương mại cũng mang những đặc điểm của các đương sự trong vụ án
dân sự nói chung, bên cạnh đó, cũng có những nét đặc thù:
- Đương sự trong vụ án tranh chấp kinh doanh, thương mại là chủ thể được
Tòa án chấp nhận tham gia vào quá trình giải quyết vụ án để bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp của mình.

quyền tự định đoạt, việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của đương sự là cơ sở để
phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quá trình giải quyết các vụ án đó.
Đương sự là chủ thể có vai trò đặc biệt quan trọng đối với quá trình giải quyết
tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa án. Đương sự có quyền quyết định việc
khởi kiện, yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ tranh chấp. Trong quá trình

13


giải quyết vụ án tranh chấp kinh doanh thương mại, các đương sự có quyền chấm
dứt, thay đổi các yêu cầu của mình hoặc thỏa thuận với nhau một cách tự nguyện,
không trái pháp luật và đạo đức xã hội.
Nếu như đương sự trong vụ án tranh chấp kinh doanh thương mại có quyền tự
định đoạt trong việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình thì các chủ thể khác
trong vụ án đó phải có nghĩa vụ tôn trọng và bảo đảm quyền tự định đoạt đó của
đương sự. Việc đương sự thực hiện hay không thực hiện các quyền và nghĩa vụ
trong vụ án tranh chấp kinh doanh, thương mại có thể làm phát sinh, thay đổi hoặc
chấm dứt hoạt động tố tụng trong vụ án đó.
- Đương sự trong vụ án tranh chấp kinh doanh, thương mại thường là thương
nhân và những chủ thể gắn liền với mục đích kinh tế.
Quan hệ thương mại theo pháp luật thương mại Việt Nam thường là quan hệ
giữa các thương nhân hoặc giữa thương nhân với các tổ chức, cá nhân khác có liên
quan. Do đó, một đặc trưng khá khác biệt của đương sự trong vụ án tranh chấp kinh
doanh, thương mại đó là thường ít nhất một bên là thương nhân – những tổ chức
kinh tế hoặc cá nhân có thực hiện hoạt động thương mại độc lập, thường xuyên và
có đăng ký kinh doanh.
Rõ ràng, thương nhân hay các tổ chức, cá nhân khác khi tham gia vào hoạt
động kinh doanh đều có một mục đích chung là tìm kiếm lợi nhuận, để đạt được
mục đích đó, họ phải cạnh tranh với nhau để phát triển. Trong quá trình cạnh tranh,
tất yếu sẽ phát sinh những xung đột về quyền, nghĩa vụ và lợi ích; khi đó, Tòa án

định khởi kiện vụ án để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người đó. Hoạt động
tố tụng của nguyên đơn có thể dẫn tới việc làm phát sinh, thay đổi hoặc đình chỉ tố
tụng. Trong một vụ án, có thể có một nguyên đơn và cũng có thể có nhiều nguyên
đơn.
Trong vụ án về tranh chấp kinh doanh thương mại, nguyên đơn thường là các
thương nhân, những tổ chức, cá nhân tham gia vào hoạt động kinh tế; khi quyền và
lợi ích của họ bị xâm hại; họ có quyền khởi kiện tại Tòa án với mong muốn tranh

15


chấp được giải quyết, quyền và lợi ích của họ sẽ được đảm bảo bằng cơ chế tài phán
của Nhà nước.
1.1.2.2. Bị đơn:
Theo quy định tại Khoản 3 Điều 68 BLTTDS 2015 : “Bị đơn trong vụ án dân
sự là người bị nguyên đơn khởi kiện hoặc bị cơ quan, tổ chức, cá nhân khác do Bộ
luật này quy định khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự khi cho rằng
quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn bị người đó xâm phạm”
Có nghĩa là, bị đơn trong vụ án dân sự nói chung và vụ án tranh chấp kinh
doanh, thương mại nói riêng là người tham gia tố tụng để trả lời về việc kiện do bị
nguyên đơn hoặc bị người khác khởi kiện theo quy định của pháp luật. Khác với
nguyên đơn, việc tham gia vào vụ án tranh chấp kinh doanh thương mại của bị đơn
mang tính bắt buộc, thụ động chứ không mang tính chủ động như nguyên đơn. Bị
đơn buộc phải tham gia tố tụng để trả lời cho việc kiện của nguyên đơn hoặc người
đại diện của họ. Tuy nhiên, trong hoạt động tố tụng, bị đơn cũng có thể làm thay đổi
quá trinh giải quyết vụ án tranh chấp. Như vậy, bị đơn là người bị nguyên đơn hoặc
bị người khác có thẩm quyền khởi kiện theo quy định của pháp luật TTDS khi họ bị
cho rằng đã xảy ra tranh chấp về quyền và lợi ích với nguyên đơn.
Trong vụ án về tranh chấp kinh doanh, thương mại, bị đơn thường là các tổ
chức, cá nhân có tham gia quan hệ kinh doanh với bên nguyên đơn, và khi phát sinh

làm hai loại: (i) Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập và (ii)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập.
+ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập là người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng độc lập với nguyên đơn và bị đơn. Trong vụ
án tranh chấp kinh doanh, thương mại; lợi ích pháp lý của người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan có yêu cầu độc lập luôn độc lập với lợi ích pháp lý của nguyên đơn, bị
đơn nên yêu cầu của họ có thể chống cả nguyên đơn, bị đơn.
+ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập là người
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng phụ thuộc vào nguyên đơn hoặc bị

17


đơn. Việc tham gia tố tụng của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu
cầu độc lập phụ thuộc vào nguyên đơn.
1.2. Khái quát về Quyền và nghĩa vụ của đương sự trong quá trình giải quyết
tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa án:
Với vai trò là trung tâm của quá trình tố tụng, đương sự thực hiện các quyền và
nghĩa vụ pháp lý của mình nhằm đạt được mục đích khi tham gia vào TTDS; từ đó
góp phần lớn vào hiệu quả giải quyết các tranh chấp kinh doanh thương mại tại Tòa
án. Bên cạnh đó, những quy định về quyền và nghĩa vụ của đương sự là một nội
dung hết sức quan trọng trong pháp luật TTDS Việt Nam, tạo nên địa vị pháp lý cho
đương sự. Để xác định được các quyền và nghĩa vụ pháp lý cơ bản của đương sự
trong quá trình giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại Tòa án, trước hết,
cần phải làm rõ các vấn đề lý luận về Quyền và nghĩa vụ của đương sự.
1.2.1. Khái niệm và đặc điểm của Quyền và nghĩa vụ của đương sự trong quá
trình giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa án:
1.2.1.1. Khái niệm Quyền và nghĩa vụ của đương sự trong quá trình giải quyết
tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa án:
Để đưa ra được khái niệm về Quyền và nghĩa vụ của đương sự trong quá trình


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status