TÓM LƯỢC
Trong nền kinh tế sản xuất hàng hóa, hoạt động trao đổi hàng hóa, dịch vụ giữa
các thương nhân với nhau thông qua việc mua bán là điều kiện quan trọng cho sự tồn
tại và phát triển của xã hội. Khi mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ trên thị trường,
tùy thuộc vào đối tượng giao dịch thị trường cũng như tính chất, thời cơ của từng
thương vụ, thương nhân có thể lựa chọn các phương thức giao dịch phù hợp. Một
trong những phương thức giao dịch được các thương nhân sử dụng phổ biến nhất hiện
nay là hình thức trung gian thương mại.
Giao dịch trung gian trong hoạt động thương mại là giao dịch trong đó mọi việc
thiết lập quan hệ giữa người mua và người bán (người sử dụng dịch vụ và nguời cung
ứng dịch vụ), việc giao dịch này sẽ thông qua một người trung gian. Có nhiều hình
thức trung gian khác nhau như : môi giới thương mại, đại diện cho thương nhân, ủy
thác mua bán hàng hóa, đại lý thương mại,….Trong bài viết này, em sẽ tìm hiểu sâu về
một trong các hình thức trung gian thương mại đó là đại lý thương mại, bằng việc phân
tích sâu pháp luật về quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng đại lý thương mại
tại Công ty cổ phần Bảo Toàn.
1
LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn T.s Trần Thị Thu Phương, giảng viên bộ môn Luật
chuyên ngành, khoa Kinh tế - Luật, trường Đại học Thương Mại trong thời gian qua đã
tận tình giúp đỡ em trong quá trình viết và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp với đề tài:
“Pháp luật về quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng đại lý thương mại –
Thực tiễn thực hiện tại Công ty cổ phần Bảo Toàn”.
Em xin cảm ơn Ban lãnh đạo cùng các anh chị cán bộ công nhân viên trong
Công ty cổ phần Bảo Toàn đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho em nắm bắt thông tin để
thực hiện đề tài.
Với thời gian thực tập và nghiên cứu có hạn, cùng khả năng của bản thân còn
hạn chế, bài viết của em không tránh khỏi gặp phải một số thiếu sót. Em rất mong có
Luật Thương mại
3
NĐ-CP
Nghị định - Chính Phủ
4
QĐ
Quyết định
5
CP
Cổ phần
4
LỜI MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Trong xu hướng phát triển của nền kinh tế thị trường cùng với tư tưởng đổi mới
về cơ chế thị trường của Đảng và Nhà nước, nền kinh tế nước ta đã nhanh chóng hội
nhập với nền kinh tế thế giới nói chung và các nước khu vực nói riêng - đánh dấu bằng
sự kiện nước ta gia nhập Tổ chức WTO năm 2006. Bởi thế mà sự cạnh tranh giữa các
5
thông, thủy lợi; phá dỡ, san lấp mặt bằng; ngoài ra còn kinh doanh, máy móc, thiết bị
điện, vật liệu điện, lắp đặt hệ thống điện, hệ thống cấp thoát nước, lắp đặt hệ thống xây
dựng khác; sản xuất kinh doanh, xuất nhập khẩu vật liệu xây dựng. Đặc biệt, hoạt
động đại lý thương mại là hoạt động chủ yếu của công ty. Tuy nhiên, trong quá trình kí
kết, thực hiện các hợp đồng đại lý thương mại, công ty vẫn gặp những khó khăn, trở
ngại về việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia cũng như cách thức khi
có tranh chấp xảy ra. Để bảo vệ quyền và lợi ích của các bên cũng như nghĩa vụ các
bên cần thực hiện một cách đầy đủ và tốt nhất, việc tìm hiểu, nghiên cứu các vấn đề lý
luận và thực tiễn thi hành pháp luật về quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng
đại lý thương mại là rất cần thiết và bổ ích. Chính vì vậy, em quyết định chọn đề tài “
Pháp luật về quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng đại lý thương mại –
Thực tiễn thực hiện tại Công ty cổ phần Bảo Toàn”. Em hy vọng kết quả của việc
nghiên cứu này sẽ mang lại cho bản thân những kiến thức, kỹ năng về pháp luật và có
thể giúp Công ty cổ phần Bảo Toàn nói riêng, các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh
vực đại lý thương mại nói chung hoạt động tốt hơn, thuận lợi hơn.
2. Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan
Trong quá trình nghiên cứu và tìm hiểu trên các tạp chí, thư viện, sách báo,
internet,...để hoàn thành đề tài, e thấy rằng có rất ít công trình, tài liệu nghiện cứu sâu
về hợp đồng đại lý nói chung và pháp luật điều chỉnh quyền và nghĩa vụ của các bên
trong hợp đồng đại lý nói riêng mà chủ yếu toàn thiên về pháp luật hợp đồng mua bán
hàng hóa. Một số chuyên đề, bài nghiên cứu, luận án liên quan đến khóa luận là:
- Bài nghiên cứu về “Hợp đồng thương mại dịch vụ và vai trò của nó đối với
doanh nghiệp” của Th.s Hà Công Anh Bảo. Bài viết đưa ra một khái niệm mới về hợp
đồng thương mại dịch vụ trên cơ sở phân tích những đặc điểm của loại hợp đồng này
để so sánh với cách gọi khác là hợp đồng cung ứng dịch vụ trong Luật Thương mại
2005. Từ đó phân tích những vai trò và tầm trọng của loại hợp đồng này đối với doanh
nghiệp Việt Nam hiện nay. Khi thị trường thương mại dịch vụ Việt Nam đang tiến
- Chuyên đề “Tìm hiểu khái niệm đại lý thương mại” của Nguyễn Thị Vân Anh
tại Tạp chí Luật Học ( 2006),
- Chuyên đề “Thực tiễn ký kết và thực hiện hợp đồng đại lý bán hàng tại công
ty TNHH Nhà nước một thành viên Thực phẩm Hà Nội”
Link tham khảo : http://www.zbook.vn/ebook/thuc-tien-ky-ket-va-thuc-hienhop-dong-dai-ly-ban-hang-tai-cong-ty-tnhh-nha-nuoc-1-thanh-vien-thuc-pham-ha-noi15614/
- Chuyên đề “Định hướng hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hoạt động trung
gian thương mại”
Link tham khảo : http://tailieu.ttbd.gov.vn:8080/index.php/tai-lieu/tai-lieu-bientap/item/284-dinh-huong-hoan-thien-phap-luat-dieu-chinh-hoat-dong-trung-gianthuong-mai
Tuy nhiên chưa có công trình khoa học chuyên sâu nào nghiên cứu hợp đồng
đại lý thương mại ở khía cạnh quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng đại lý
thương mại cũng như thực trạng ban hành và thực thi pháp luật về hợp đồng đại lý
thương mại ở Việt Nam.
7
Vậy nên pháp luật về hợp đồng đại lý thương mại, đặc biệt vấn đề quyền và
nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng đại lý thương mại cần được nghiên cứu nhiều
hơn, hoàn thiện hơn để từ đó đưa ra những định hướng, giải pháp thiết thực giúp cải
thiện hệ thống pháp luật hiện nay, đáp ứng được những yêu cầu của hoạt động đại lý
thương mại, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp ký kết và thực hiện hợp
đồng đại lý thương mại.
3. Xác lập và tuyên bố vấn đề nghiên cứu
Công ty cổ phần Bảo Toàn là công ty hoạt động kinh doanh trong nhiều lĩnh
vực, ngành nghề khác nhau, trong đó hoạt động đại lý thương mại là hoạt động chủ
yếu của công ty. Với mục đích đi sâu tìm hiểu về quyền và nghĩa vụ của các bên trong
hợp đồng đại lý thương mại để hiểu rõ những ưu điểm, hạn chế của hợp đồng này và
đặt ra vấn đề cần giải quyết, từ đó đưa ra các định hướng, giải pháp phù hợp nhằm
hoàn thiện hơn vấn đề pháp luật về quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng đại
lý thương mại của công ty. Qua đó, em quyết định chọn đề tài “Pháp luật về quyền và
Khóa luận tốt nghiệp nghiên cứu về những quy định của pháp luật về hợp đồng
đại lý thương mại, do không có nhiều thời gian nghiên cứu trong quá trình em thực tập
tại Công ty Cổ phần Bảo Toàn.Vì vậy, để đạt được kết quả nghiên cứu tốt nhất, em
quyết định thực hiện nghiên cứu “Pháp luật về quyền và nghĩa vụ của các bên trong
hợp đồng đại lý thương mại – Thực tiễn thực hiện tại công ty cổ phần Bảo Toàn” trong
phạm vi hoạt động kinh doanh đại lý thương mại của công ty.
5. Phương pháp nghiên cứu
Với đề tài : “Pháp luật về quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng đại lý
thương mại – Thực tiễn thực hiện tại công ty cổ phần Bảo Toàn”, từ việc thu thập
thông tin và dữ liệu từ các nguồn tài liệu, luận văn đã sử dụng một số phương pháp
sau:
Phương pháp thu thập dữ liệu:
- Nguồn dữ liệu sơ cấp:
Các văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt động mua bán hàng hóa. Chủ yếu là các
qui định về hợp đồng đại lý thương mại trong Luật Thương mại 2005, Bộ Luật Dân sự
năm 2005 và một số các văn bản pháp luật khác có liên quan.
- Nguồn dữ liệu thứ cấp:
+ Những bài báo mạng trên Internet từ những trang báo pháp luật, những bài
báo từ trang web của Chính phủ, bài báo viết liên quan đến hợp đồng đại lý thương
mại trên tạp chí để có được những thông tin chính xác nhất.
+ Tìm hiểu trực tiếp hoạt động của công ty để thấy được thực trạng hoạt động
mua bán hàng hóa của công ty.
Phương pháp xử lí dữ liệu
- So sánh: Phương pháp so sánh giúp bài nghiên cứu được rõ ràng hơnvà
phương pháp này được sử dụng nhằm cho người đọc hiểu rõ được sự khác biệt trong
vấn đề nghiên cứu.
- Liệt kê: Liệt kê các hệ thống và các văn bản có liên quan để làm căn cứ cho lý
luận.
-Phân tích: Phương pháp này với mục đích giúp cho việc phân tích thực trạng
áp dụng các quy định pháp luật khi tham gia hợp đồng đại lý thương mại tại Công ty
Để hiểu rõ khái niệm về hợp đồng đại lý thương mại, trước hết ta cần phải hiểu
rõ khái niệm hợp đồng thương mại.
Theo Điều 388 Bộ luật Dân sự năm 2005 định nghĩa: “Hợp đồng dân sự là sự
thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ
dân sự”. Các quy định về hợp đồng dân sự được áp dụng cho các hợp đồng nói chung
(trong các lĩnh vực dân sự, lao động, thương mại và đầu tư kinh doanh). Hợp đồng
thương mại là một dạng cụ thể của hợp đồng dân sự. Do đó, hợp đồng thương mại đều
là những giao dịch có bản chất dân sự, thiết lập trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng và
thỏa thuận của các bên; đều hướng tới lợi ích của mỗi bên và lợi ích chung khi tham
gia giao kết hợp đồng; đều có những vấn đề cơ bản như: giao kết hợp đồng, nguyên tắc
và các biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng, hợp đồng vô hiệu và xử lý hợp đồng vô
hiệu…Tuy nhiên, do xuất phát từ đặc điểm và yêu cầu của hoạt động thương mại nên
hợp đồng thương mại có những vấn đề được quy định có tính chất là sự phát triển tiếp
tục những quy định của dân luật truyền thống như: chủ thể, hình thức, quyền và nghĩa
vụ của các bên, chế tài và giải quyết tranh chấp hợp đồng…
Hiện nay, Luật thương mại năm 2005 không đưa ra định nghĩa về hợp đồng
thương mại nhưng có thể hiểu “Hợp đồng thương mại là sự thỏa thuận giữa các chủ
thể kinh doanh với nhau và với các bên có liên quan (ít nhất một trong các bên phải là
thương nhân hoặc các chủ thể có tư cách thương nhân) về việc xác lập, thay đổi, hoặc
chấm dứt các quyền và nghĩa vụ trong hoạt động thương mại”. Các hoạt động thương
mại ở đây được xác định theo Khoản 1 Điều 3 Luật Thương mại năm 2005 “là hoạt
động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc
tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác”.
Khái niệm đại lý thương mại được quy định tại Điều 166 Luật Thương mại
2005: “Đại lý thương mại là hoạt động thương mại, theo đó bên giao đại lý và bên đại
lý thoả thuận việc bên đại lý nhân danh chính mình mua, bán hàng hoá cho bên giao
đại lý hoặc cung ứng dịch vụ của bên giao đại lý cho khách hàng để hưởng thù lao”.
Mặc dù không được quy định trong luật nhưng căn cứ theo Điều 166 Luật
Thương mại 2005 có thể đưa ra khái niệm về Hợp đồng đại lý thương mại : Hợp đồng
đại lý thương mại là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên đại lý nhân danh chính
bắt buộc phải có quyền kinh doanh những hàng hóa đó, hay nói cách khác là phải có
ngành, nghề kinh doanh phù hợp với hàng hóa đại lý. Do bên đại lý thực hiện việc
mua, bán hàng hóa cho bên giao đại lý bằng chính danh nghĩa của mình nên phải có
ngành, nghề kinh doanh phù hợp với hàng hóa đại lý mua, đại lý bán. Từ nghĩa vụ cụ
thể của bên đại lý là nhân danh chính mình để thực hiện việc mua hoặc bán một khối
lượng hàng hóa nhất định cho bên giao đại lý nên bên giao đại lý phải có đăng ký kinh
doanh mặt hàng phù hợp với hàng hóa ghi trong hợp đồng .
Thứ ba, trong quan hệ hợp đồng đại lý thương mại, chủ sở hữu hàng hóa là bên
giao đại lý, đại lý chỉ là người được bên giao đại lý giao việc định đoạt hàng hóa. Bên
12
giao đại lý hoàn toàn không chuyển quyền sở hữu hàng hóa (trong trường hợp đại lý
bán) hoặc tiền (trong trường hợp đại lý mua).
Cơ sở để bên đại lý bán hoặc mua hàng hóa cho bên giao đại lý là sự ủy nhiệm
quyền mua, bán hàng hóa của bên giao đại lý. Đặc điểm này làm cho hợp đồng đại
lý mua bán hàng hóa hoàn toàn khác hợp đồng mua bán hàng hóa. Đặc trưng nổi bật
nhất của hợp đồng mua bán hàng hóa là có sự chuyển quyền sở hữu hàng hóa cũng
như chuyển giao rủi ro từ người bán sang cho người mua, trừ trường hợp các bên có
thỏa thuận khác. Trong quan hệ đại lý mua bán hàng hóa, bên đại lý chỉ giao hàng hóa
cho bên đại lý bán hàng mà không chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên đại lý (bên
giao đại lý chỉ chuyển quyền chiếm hữu hàng hóa cho bên đại lý). Khi bên đại lý giao
kết, thực hiện hợp đồng với khách hàng, quyền sở hữu hàng hóa sẽ được chuyển từ
bên giao đại lý sang cho khách hàng. Bên đại lý chỉ có vai trò của một người làm dịch
vụ trung gian nối liền sự liên kết của bên giao đại lý với khách hàng. Với tư cách là
chủ sở hữu của hàng hóa, bên giao đại lý được toàn quyền định đoạt đối với hàng hóa
của mình cũng như phải chịu rủi ro đối với hàng hóa cũng như gánh chịu mọi trách
nhiệm với khách hàng về chất lượng của hàng hóa (trừ trường hợp hàng hóa hư hỏng
do lỗi của bên đại lý).
- Tổng đại lý mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ là hình thức đại lý mà bên
đại lý tổ chức một hệ thống đại lý trực thuộc để thực hiện việc mua bán hàng hoá,
cung ứng dịch vụ cho bên giao đại lý. Tổng đại lý đại diện cho hệ thống đại lý trực
thuộc.Các đại lý trực thuộc hoạt động dưới sự quản lý của tổng đại lý và với danh
nghĩa của tổng đại lý.
- Các hình thức đại lý khác mà các bên thỏa thuận.
Quan hệ đại lý thương mại được xác lập bằng hợp đồng đại lý thương mại. Hợp
đồng đại lý thương mại được hiểu là sự thỏa thuận giữa các bên trong đó bên giao đại
lý nhân danh mình mua bán hàng hóa cho bên giao đại lý hoặc cung ứng dịch vụ của
bên giao đại lý cho khách hàng và bên giao đại lý có nghĩa vụ trả thù lao cho hoạt
động đại lý này của bên đại lý.
1.2. Cơ sở ban hành và nội dung pháp luật điều chỉnh quyền và nghĩa vụ của các
bên trong hợp đồng đại lý thương mại
1.2.1. Cơ sở ban hành
1.2.1.1. Cơ sở thực tiễn
Trong bối cảnh hội nhập toàn cầu, để Việt Nam có điều kiện gia nhập WTO thì
pháp luật của chúng ta buộc phải thay đổi theo hướng phù hợp với những quốc gia
phát triển trên thế giới, cùng theo đó sự tự do kinh doanh ngày càng đa dạng hơn. Con
người có nhiều nhu cầu hàng hóa phục vụ cho cuộc sống hiện đại, các quan hệ về đại
lý thương mại cùng đó mà xuất hiện nhiều hơn, trở nên đa dạng và phức tạp hơn. Do
vậy mà việc vi phạm hợp đồng cũng trở nên xảy ra nhiều. Để tạo một môi trường pháp
lý ổn định và đón đầu sự phát triển của nền kinh tế, Nhà nước ta đã tiến hành rất nhiều
cải cách và đổi mới về pháp luật. Hệ thống pháp luật đã dần được hoàn thiện nhằm tạo
ra một hành lang pháp lý vững vàng cho các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh hiệu
quả. Việc sửa đổi, bổ sung các văn bản pháp luật, đặc biệt là các văn bản trong lĩnh
14
vực kinh doanh thương mại, được thực hiện theo hướng phù hợp với pháp luật quốc tế
đại lý thương mại
1.2.2.1. Chủ thể của hợp đồng đại lý thương mại
Muốn xác định thỏa thuận hợp đồng kinh doanh thương mại thì việc trước tiên
là phải xác định một bên trong quan hệ hợp đồng đó có phải là thương nhân hay
không, sau đó mới xem đến đối tượng của hợp đồng.
15
Điều 6 Luật Thương mại 2005 quy định : Thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế
được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách thường xuyên, độc
lập và có đăng ký kinh doanh. Thương nhân có quyền hoạt động thương mại trong các
ngành nghề, tại các địa điểm dưới các hình thức và theo phương thức mà pháp luật
không cấm. Quyền hoạt động thương mại hợp pháp của thương nhân được Nhà nước
bảo hộ. Đăng ký kinh doanh là điều kiện bắt buộc được công nhận là thương nhân, nó
là nghĩa vụ của thương nhân. Thương nhân gồm có thương nhân Việt Nam và thương
nhân nước ngoài có thể là cá nhân, pháp nhân hoặc chủ thể khác việc xác định tư cách
thương nhân nước ngoài phải căn cứ theo pháp luật của nước mà thương nhân đó
mang quốc tịch. Thương nhân nước ngoài là thương nhân được thành lập hoặc đăng ký
kinh doanh theo quy định của pháp luật nước ngoài hoặc được pháp luật nước ngoài
công nhận (Khoản 1, Điều 16 LTM năm 2005).
Thương nhân là cá nhân thì phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ. Đó là khả
năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền và nghĩa vụ dân sự
(Điều 19 BLDS 2015); được hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên
như một nghề nghiệp. Cá nhân cũng có thể trở thành tư nhân ngay cả khi hoạt động
thương mại một cách độc lập thường xuyên như một nghề nghiệp mà chưa đăng ký
kinh doanh.Thương nhân là cá nhân sẽ bao gồm: Cá nhân kinh doanh; Doanh nghiệp
tư nhân...Trong lĩnh vực hoạt động thương mại do thương nhân phải chịu trách nhiệm
đầy đủ về hành vi thương mại của mình, vì vậy những người sau đây sẽ không được
công nhận là thương nhân:
- Người không có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, người mất năng lực hành vi
bán, trao đổi hàng hóa, dịch vụ.
Hình thức của hợp đồng đại lý thương mại đã tạo điều kiện thuận lợi giúp cho
các bên tham gia quan hệ hợp đồng đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp của
mình, đồng thời hạn chế các rủi ro có thể xảy ra cho các bên tham gia vào quan hệ hợp
đồng.
1.2.2.3. Nội dung quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng đại lý thương mại.
Một hợp đồng sẽ có giá trị pháp lý khi thỏa mãn tối thiểu những điều kiện về
nội dung mà pháp luật quy định. Khi thiếu một trong các nội dung đó thì hợp đồng sẽ
không thể phát sinh hiệu lực. Trong thực tế, hậu quả xấu xảy ra xuất phát từ việc các
bên trong hợp đồng quy định không rõ ràng hoặc không đầy đủ những nội dung về
quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia dẫn tới khi có tranh chấp xảy ra, các bên sẽ
không có chứng cứ hoặc chứng cứ không rõ ràng từ đó những thiệt hại không cần thiết
có thể xảy ra đối với tất cả các bên mà không thể lường trước được. Chính vì vậy mà
theo quy định của pháp luật, có bên có thể thỏa thuận nội dung quyền và nghĩa vụ của
mình trong hợp đồng đại lý thương mại. Trong trường hợp các bên không có thỏa
thuận khác thì quyền và nghĩa vụ của các bên được thực hiện theo quy định của Bộ
luật Dân sự 2015 và Luật Thương mại 2005.
Trong quan hệ đại lý thương mại có hai chủ thể chính: bên đại lý và bên giao
đại lý. Quyền và nghĩa vụ các bên được quy định trong hợp đồng đại lý thương mại
theo Luật Thương mại 2005 từ Điều 172 đến Điều 175 như sau:
- Quyền và nghĩa vụ của bên đại lý đối với bên giao đại lý:
Nghĩa vụ của bên đại lý theo Điều 175 LTM 2005, bên đại lý phải thực hiện
những nghĩa vụ sau đối với bên giao đại lý, trừ trường hợp có thỏa thuận khác: Mua,
bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ cho khách hàng theo giá hàng hóa, giá cung ứng dịch
vụ do bên giao đại lý ấn định; Thực hiện đúng các thỏa thuận về giao nhận tiền, hàng
với bên giao đại lý; Thực hiện các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự theo
quy định của pháp luật; Thanh toán cho bên giao đại lý tiền bán hàng đối với đại lý
bán; giao hàng mua đối với đại lý mua; tiền cung ứng dịch vụ đối với đại lý cung ứng
dịch vụ; Bảo quản hàng hoá sau khi nhận đối với đại lý bán hoặc trước khi giao đối
với đại lý mua; liên đới chịu trách nhiệm về chất lượng hàng hóa của đại lý mua bán
bên đại lý.
- Trách nhiệm các bên trong trường hợp có hành vi vi phạm pháp luật :
Điều 173 và Điều 175 LTM 2005 quy định về trách nhiệm bên đại lý và bên
giao đại lý trong trường hợp có hành vi vi phạm pháp luật như sau:
+ Bên giao đại lý liên đới chịu trách nhiệm về hành vi vi phạm pháp luật của
bên đại lý, nếu nguyên nhân của hành vi vi phạm pháp luật đó có một phần do lỗi của
mình gây ra.
+ Bên đại lý liên đới chịu trách nhiệm về chất lượng hàng hóa của đại lý mua
bán hàng hóa, chất lượng dịch vụ của đại lý cung ứng dịch vụ trong trường hợp có lỗi
do mình gây ra.
19
1.3. Nguyên tắc về pháp luật điều chỉnh quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp
đồng đại lý thương mại
Căn cứ theo những nguyên tắc cơ bản về hoạt động thương mại của Luật
Thương mại 2005 thì quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng đại lý thương mại
cũng cần tuân thủ các nguyên tắc sau:
- Nguyên tắc đảm bảo quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia quan hệ hợp
đồng, không được trái với pháp luật và đạo đức xã hội.
- Nguyên tắc áp dụng Luật Thương mại 2005 và Bộ luật Dân sự 2015 nếu các
bên tham gia hợp đồng đại lý thương mại không có thỏa thận khác về quyền và nghĩa
vụ.
- Nguyên tắc tự nguyện, tự do, bình đẳng, thiện chí, hợp tác, trung thực và ngay
thẳng đúng như thỏa thuận để xác lập quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng
đại lý thương mại nhưng không trái với các quy định của pháp luật, thuần phong mỹ
tục và đạo đức xã hội. Các bên hoàn toàn tự nguyện, không bên nào được thực hiện
hành vi áp đặt, cưỡng ép, đe dọa, ngăn cản bên nào.
- Các bên tham gia hợp đồng đại lý thương mại có nghĩa vụ thông tin đầy đủ,
một cách trung thực, theo tinh thần hợp tác và có lợi nhất cho các bên về hàng hóa và
kinh nghiệm được đúc kết trong quá trình công tác nên khi thành lập Công ty cổ phần
Bảo Toàn xác định kinh doanh thương mại đa ngành - đa nghề - đa lĩnh vực, song song
với việc ổn định, phát triển bền vững các lĩnh vực kinh doanh sẽ mang đến sự phát
triển phồn vinh của công ty. Với kiến thức được trang bị cùng kinh nghiệm kinh
doanh, sự am hiểu thị trường, cùng mạng lưới phân phối rộng lớn, đội ngũ nhân viên
chuyên nghiệp, Công ty cổ phần Bảo Toàn đã chọn kinh doanh đồ nội thất văn phòng,
xây dựng – tư vấn & thiết kế, xây dựng – thủy lợi, xây dựng – cầu đường, nội thất vật
tư – trang trí.
Công ty cổ phần Bảo Toàn là một doanh nghiệp kinh doanh theo chức năng,
nhiệm vụ của mình, doanh nghiệp có con dấu riêng và được pháp luật bảo vệ. Với
chức năng đó là kinh doanh, dự trữ hàng hóa thiết yếu như sản phẩm thiết bị nhà vệ
sinh, sản phẩm nội thất, gạch ốp lát…trên địa bàn và khu vực lân cận với các hình thức
bán hàng là bán buôn và bán lẻ, phục vụ nhu cầu vận chuyển khi có nhu cầu của khách
hàng. Và Công ty có nhiệm vụ xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh đạt chất lượng
và hiệu quả cao; thực hiện nghĩa vụ nộp ngân sách nhà nước; thực hiện chế độ thanh
21
toán lương hàng tháng cho công nhân viên và chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y
tế, bảo hiểm tự nguyện cho công nhân viên.
Ngành nghề kinh doanh chủ yếu của Công ty cổ phần Bảo Toàn là : Xây dựng
các công trình dân dụng và công nghiệp, giao thông, thủy lợi; phá dỡ, san lấp mặt
bằng; Kinh doanh nhà hàng, khách sạn; Sản xuất kinh doanh, xuất nhập khẩu vật liệu
xây dựng; ngoài ra Công ty cổ phần Bảo Toàn được lựa chọn là nhà phân phối của các
hãng: Các sản phẩm nội thất của tập đoàn Hòa Phát, thiết bị vệ sinh cao cấp
CAESAR…; Kinh doanh, sửa chữa, mua, bán ôtô; Thương mại tổng hợp; Kinh doanh,
máy móc, thiết bị điện, vật liệu điện, lắp đặt hệ thống điện, hệ thống cấp thoát nước,
lắp đặt hệ thống xây dựng khác.
Sơ đồ 1.1: Tổ chức Bộ máy quản lý của công ty
Công ty cổ phần Bảo Toàn là một đại lý thương mại chuyên phân phối các sản
phẩm nội thất của tập đoàn Hòa Phát, các sản phẩm thiết bị nhà vệ sinh cao cấp Caesar
và một số sản phẩm vật liệu xây dựng khác. Do nhu cầu tiêu dùng của khách hàng
ngày càng gia tăng nên Công ty cổ phần Bảo Toàn đã mở rộng thêm quy mô chi nhánh
ở các địa điểm có vị trí địa lý giao thông thuận lợi ở Huyện Kỳ Anh – Tỉnh Hà Tĩnh và
một chi nhánh tại Số 1 – Lai Xá – Kim Chung – Hoài Đức – Hà Nội nhằm đáp ứng
nhu cầu đến nguời tiêu dùng cuối cùng.
Tại hai địa điểm này mặt đối thủ cạnh tranh trực tiếp của Công ty không khốc
liệt như ở trụ sở chính tại TP.Hà Tĩnh. Trong quá trình hoạt động kinh doanh, Công ty
không ngừng nỗ lực phát triển, hướng tới mục tiêu mở rộng hệ thống chi nhánh của
23
mình ra thị trường các khu vực khác trên toàn quốc. Với tổng doanh thu qua hoạt động
đại lý chiếm khoảng 75% tổng doanh thu của toàn Công ty, hoạt động đại lý ngày càng
chứng tỏ vai trò lớn mạnh của nó. Hiện nay, phòng bán hàng thực hiện toàn bộ quá
trình phát triển và giám sát hoạt động đại lý. Chính vì có đội ngũ nhân viên năng động,
nhiệt tình nên số lượng hàng hóa bán ra cùng với doanh thu tăng lên đáng kể trong
những năm gần đây, cụ thể là:
- Tại trụ sở chính :
+ Năm 2012 doanh thu đạt 2,664,717,000 đồng
+ Năm 2013 doanh thu đạt 3,227,115,000 đồng
+ Năm 2014 doanh thu đạt 4,904,257,000 đồng
+ Năm 2015 doanh thu đạt 5,451,665,000 đồng
- Tại chi nhánh Huyện Kỳ Anh – Hà Tĩnh :
+ Năm 2012 doanh thu đạt 389,789,000 đồng
+ Năm 2013 doanh thu đạt 229,348,000 đồng
+ Năm 2014 doanh thu đạt 488,134,172 đồng
+ Năm 2015 doanh thu đạt 571, 969,000 đồng.
- Tại chi nhánh Hà Nội :
các yếu tố thuộc môi trường chính trị và luật pháp tác động mạnh đến việc hình thành
và khai thác cơ hội kinh doanh và thực hiện mục tiêu của Công ty cỏ phần Bảo Toàn,
ổn định chính trị là tiền đề quan trọng cho hoạt động kinh doanh, thay đổi về chính trị
có thể gây ảnh hưởng có lợi cho công ty hoặc kìm hãm sự phát triển của doanh nghiệp
khác. Hệ thống pháp luật hoàn thiện và sự nghiêm minh trong thực thi pháp luật sẽ tạo
môi trường cạnh tranh lành mạnh cho các doanh nghiệp nói chung và Công ty cổ phần
Bảo Toàn nói riêng, tránh tình trạng gian lận, buôn lậu hay tranh chấp xảy ra về quyền
và nghĩa vụ giữa bên đại lý và bên giao đại lý trong quan hệ hợp đồng đại lý thương
mại…
Mức độ ổn định về chính trị và luật pháp của một quốc gia cho phép doanh
nghiệp có thể đánh giá được mức độ rủi ro của môi trường kinh doanh và ảnh hưởng
của nó đến doanh nghiệp như thế nào, vì vậy nghiên cứu các yếu tố chính trị và luật
pháp là yêu cầu không thể thiếu được khi doanh nghiệp tham gia vào thị trường.
- Yếu tố kinh tế
Có thể tạo ra điều kiện thuận lợi cho việc xâm nhập mở rộng thị trường, ngành
hàng này nhưng lại hạn chế sự phát triển của ngành hàng khác. Các yếu tố kinh tế ảnh
hưởng đến sức mua, sự thay đổi nhu cầu tiêu dùng hay xu hướng phát triển của các
ngành hàng, các yếu tố kinh tế bao gồm :
+ Hoạt động ngoại thương : Xu hướng đóng mở cửa nền kinh tế cóảnh hưởng các cơ
hội phát triển của công ty, các điều kiện cạnh tranh, khả năng sử dụng ưu thế quốc gia
về công nghệ, nguồn vốn.
+ Lạm phát và khả năng điều khiển lạm phát ảnh hưởng đến thu nhập, tích luỹ, tiêu
dùng, kích thích hoặc kìm hãm đầu tư...
+ Sự thay đổi về cơ cấu kinh tế ảnh hưởng đến vị trí vai trò và xu hướng phát triển của
các ngành kinh tế kéo theo sự thay đổi chiều hướng phát triển của công ty .
+ Tốc độ tăng trưởng kinh tế : Thể hiện xu hướng phát triển chung của nền kinh tế liên
quan đến khả năng mở rộng hay thu hẹp quy mô kinh doanh của công ty .
25