TÓM LƯỢC
Trong nền kinh tế sản xuất hàng hóa, hoạt động trao đổi hàng hóa, dịch vụ giữa
các thương nhân với nhau thông qua việc mua bán là điều kiện quan trọng cho sự tồn
tại và phát triển của xã hội. Khi mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ trên thị trường,
tùy thuộc vào đối tượng giao dịch thị trường cũng như tính chất, thời cơ của từng
thương vụ, thương nhân có thể lựa chọn các phương thức giao dịch phù hợp. Một
trong những phương thức giao dịch được các thương nhân sử dụng phổ biến nhất hiện
nay là hình thức trung gian thương mại.
Giao dịch trung gian trong hoạt động thương mại là giao dịch trong đó mọi việc
thiết lập quan hệ giữa người mua và người bán (người sử dụng dịch vụ và nguời cung
ứng dịch vụ), việc giao dịch này sẽ thông qua một người trung gian. Có nhiều hình
thức trung gian khác nhau như : môi giới thương mại, đại diện cho thương nhân, ủy
thác mua bán hàng hóa, đại lý thương mại,….Trong bài viết này, em sẽ tìm hiểu sâu về
một trong các hình thức trung gian thương mại đó là đại lý thương mại, bằng việc phân
tích sâu pháp luật về quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng đại lý thương mại
tại Công ty cổ phần Bảo Toàn.
LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn T.s Trần Thị Thu Phương, giảng viên bộ môn Luật
chuyên ngành, khoa Kinh tế - Luật, trường Đại học Thương Mại trong thời gian qua đã
tận tình giúp đỡ em trong quá trình viết và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp với đề tài :
“Pháp luật về quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng đại lý thương mại –
Thực tiễn thực hiện tại Công ty cổ phần Bảo Toàn”.
Em xin cảm ơn Ban lãnh đạo cùng các anh chị cán bộ công nhân viên trong
Công ty cổ phần Bảo Toàn đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho em nắm bắt thông tin để
thực hiện đề tài.
Với thời gian thực tập và nghiên cứu có hạn, cùng khả năng của bản thân còn
hạn chế, bài viết của em không tránh khỏi gặp phải một số thiếu sót. Em rất mong có
được sự góp ý, đánh giá của thầy cô để nội dung bài khóa luận này được hoàn chỉnh
hơn, góp một phần nào đó vào giải quyết vấn đề nhằm hoàn thiện hơn hệ thống pháp
QĐ
Quyết định
5
CP
Cổ phần
LỜI MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Trong xu hướng phát triển của nền kinh tế thị trường cùng với tư tưởng đổi mới
về cơ chế thị trường của Đảng và Nhà nước, nền kinh tế nước ta đã nhanh chóng hội
nhập với nền kinh tế thế giới nói chung và các nước khu vực nói riêng - đánh dấu bằng
sự kiện nước ta gia nhập Tổ chức WTO năm 2006. Bởi thế mà sự cạnh tranh giữa các
doanh nghiệp là một quy luật tất yếu. Để khẳng định sự tồn tại của mình, các doanh
nghiệp buộc phải vươn lên bằng sự nỗ lực không ngừng nhằm nâng cao vai trò hiệu
quả kinh doanh của chính doanh nghiệp mình, mà nổi trội nhất là các đơn vị hoạt động
chuyên về lĩnh vực thương mại. Trong đó có pháp luật về thương mại làm nền tảng
pháp lý quan trọng thúc đẩy giao lưu thương mại. Với tốc độ phát triển kinh tế nhanh,
dân số đông với cơ cấu độ tuổi trẻ, Việt Nam có sức hấp dẫn lớn đối với các nhà đầu
tư trong và ngoài nước, đặc biệt là trong lĩnh vực phân phối nói chung và lĩnh vực đại
lý thương mại nói riêng.
Đại lý thương mại đóng vai trò quan trọng trong hoạt động kinh doanh hàng
hóa và dịch vụ trên thị trường. Hoạt động đại lý phát triển ở nhiều lĩnh vực, ngành
nghề khác nhau như xăng dầu, thuốc lá, rượu bia, nước giải khát…Hiện tại, Việt Nam
chưa có số liệu điều tra chính thức về số lượng các đại lý nói chung cũng như số lượng
đại lý thương mại là rất cần thiết và bổ ích. Chính vì vậy, em quyết định chọn đề tài “
Pháp luật về quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng đại lý thương mại –
Thực tiễn thực hiện tại Công ty cổ phần Bảo Toàn”. Em hy vọng kết quả của việc
nghiên cứu này sẽ mang lại cho bản thân những kiến thức, kỹ năng về pháp luật và có
thể giúp Công ty cổ phần Bảo Toàn nói riêng, các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh
vực đại lý thương mại nói chung hoạt động tốt hơn, thuận lợi hơn.
2. Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan
Trong quá trình nghiên cứu và tìm hiểu trên các tạp chí, thư viện, sách báo,
internet,...để hoàn thành đề tài, e thấy rằng có rất ít công trình, tài liệu nghiện cứu sâu
về hợp đồng đại lý nói chung và pháp luật điều chỉnh quyền và nghĩa vụ của các bên
trong hợp đồng đại lý nói riêng mà chủ yếu toàn thiên về pháp luật hợp đồng mua bán
hàng hóa. Một số chuyên đề, bài nghiên cứu, luận án liên quan đến khóa luận là:
- Bài nghiên cứu về “Hợp đồng thương mại dịch vụ và vai trò của nó đối với
doanh nghiệp” của Th.s Hà Công Anh Bảo. Bài viết đưa ra một khái niệm mới về hợp
đồng thương mại dịch vụ trên cơ sở phân tích những đặc điểm của loại hợp đồng này
để so sánh với cách gọi khác là hợp đồng cung ứng dịch vụ trong Luật Thương mại
2005. Từ đó phân tích những vai trò và tầm trọng của loại hợp đồng này đối với doanh
nghiệp Việt Nam hiện nay. Khi thị trường thương mại dịch vụ Việt Nam đang tiến
trình mở cửa theo cam kết WTO sẽ xuất hiện nhiều cơ hội nhưng cũng lắm thách thức
đối với doanh nghiệp thương mại dịch vụ Việt Nam thì hợp đồng thương mại dịch vụ
sẽ là cơ sở pháp lý, là công cụ hữu hiệu cho các doanh nghiệp nước ta nâng cao khả
năng cạnh tranh trong nước và thâm nhập thị trường dịch vụ nước ngoài.
Link tham khảo : http://ieit.edu.vn/vi/nghien-cuu/item/186-hop-dong-thuongmai-dich-vu-va-vai-tro-cua-no-doi-voi-doanh-nghiep
- Luận văn “Pháp luật Việt Nam về hợp đồng đại lý” của tác giả Nguyễn Mai
Chi, Khoa Luật – Đại học Quốc Gia Hà Nội, năm 2012. Nội dung nghiên cứu: Luận
5
văn làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản của hợp đồng đại lý cũng như vai trò và ý
nghĩa của hợp đồng đại lý đối với hoạt động kinh doanh, thương mại và sự phát triển
6
Vậy nên pháp luật về hợp đồng đại lý thương mại, đặc biệt vấn đề quyền và
nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng đại lý thương mại cần được nghiên cứu nhiều
hơn, hoàn thiện hơn để từ đó đưa ra những định hướng, giải pháp thiết thực giúp cải
thiện hệ thống pháp luật hiện nay, đáp ứng được những yêu cầu của hoạt động đại lý
thương mại, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp ký kết và thực hiện hợp
đồng đại lý thương mại.
3. Xác lập và tuyên bố vấn đề nghiên cứu
Công ty cổ phần Bảo Toàn là công ty hoạt động kinh doanh trong nhiều lĩnh
vực, ngành nghề khác nhau, trong đó hoạt động đại lý thương mại là hoạt động chủ
yếu của công ty. Với mục đích đi sâu tìm hiểu về quyền và nghĩa vụ của các bên trong
hợp đồng đại lý thương mại để hiểu rõ những ưu điểm, hạn chế của hợp đồng này và
đặt ra vấn đề cần giải quyết, từ đó đưa ra các định hướng, giải pháp phù hợp nhằm
hoàn thiện hơn vấn đề pháp luật về quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng đại
lý thương mại của công ty. Qua đó, em quyết định chọn đề tài “Pháp luật về quyền và
nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng đại lý thương mại – Thực tiễn thực hiện tại
công ty cổ phần Bảo Toàn”.
4. Đối tượng, mục tiêu và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài :
Đề tài tập trung nghiên cứu những quy định của pháp luật về hợp đồng đại lý
thương mại. Cụ thể là pháp luật về quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng đại
lý thương mại. Nghiên cứu thực trạng áp dụng những quy định của pháp luật về quyền
và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng đại lý thương mại tại Công ty Cổ phần Bảo
Toàn.
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài :
Những vấn đề nghiên cứu trong đề tài chủ yếu tập trung các quy định của pháp
luật về hợp đồng đại lý trong hoạt động kinh doanh thương mại. Mục tiêu của đề tài
nên chú ý vào các vấn đề cần giải quyết như sau:
Các văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt động mua bán hàng hóa. Chủ yếu là các
qui định về hợp đồng đại lý thương mại trong Luật Thương mại 2005, Bộ Luật Dân sự
năm 2005 và một số các văn bản pháp luật khác có liên quan.
- Nguồn dữ liệu thứ cấp:
+ Những bài báo mạng trên Internet từ những trang báo pháp luật, những bài
báo từ trang web của Chính phủ, bài báo viết liên quan đến hợp đồng đại lý thương
mại trên tạp chí để có được những thông tin chính xác nhất.
+ Tìm hiểu trực tiếp hoạt động của công ty để thấy được thực trạng hoạt động
mua bán hàng hóa của công ty.
Phương pháp xử lí dữ liệu
- So sánh: Phương pháp so sánh giúp bài nghiên cứu được rõ ràng hơnvà
phương pháp này được sử dụng nhằm cho người đọc hiểu rõ được sự khác biệt trong
vấn đề nghiên cứu.
- Liệt kê: Liệt kê các hệ thống và các văn bản có liên quan để làm căn cứ cho lý
luận.
-Phân tích: Phương pháp này với mục đích giúp cho việc phân tích thực trạng
áp dụng các quy định pháp luật khi tham gia hợp đồng đại lý thương mại tại Công ty
cổ phần Bảo Toàn để nhận thấy được những ưuđiểm và bất cập còn tồn tại trong thực
8
tiễn thực hiện các qui định của pháp luật để từ đó có thể đưa ra những kiến nghị, giải
pháp nhằm khắc phục khó khăn, vướng mắc, hoàn thiện hệ thống pháp luật về hợp
đồng đại lý thương mại. Phương pháp này được sử dụng hầu hết ở các chương trong
bài khóa luận.
Đồng thời bài khóa luận còn sử dụng một số phương pháp xử lí dữ liệu khác
như: tổng hợp, suy luận,...
6. Kết cấu khóa luận tốt nghiệp
Ngoài phần tóm lược,lời cảm ơn, lời mở đầu, kết luận, các bảng biểu, danh mục
từ viết tắt, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, bài khóa luận được trình bày làm 3
tục những quy định của dân luật truyền thống như: chủ thể, hình thức, quyền và nghĩa
vụ của các bên, chế tài và giải quyết tranh chấp hợp đồng…
Hiện nay, Luật thương mại năm 2005 không đưa ra định nghĩa về hợp đồng
thương mại nhưng có thể hiểu “Hợp đồng thương mại là sự thỏa thuận giữa các chủ
thể kinh doanh với nhau và với các bên có liên quan (ít nhất một trong các bên phải là
thương nhân hoặc các chủ thể có tư cách thương nhân) về việc xác lập, thay đổi, hoặc
chấm dứt các quyền và nghĩa vụ trong hoạt động thương mại”. Các hoạt động thương
mại ở đây được xác định theo Khoản 1 Điều 3 Luật Thương mại năm 2005 “là hoạt
động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc
tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác”.
Khái niệm đại lý thương mại được quy định tại Điều 166 Luật Thương mại
2005: “Đại lý thương mại là hoạt động thương mại, theo đó bên giao đại lý và bên đại
lý thoả thuận việc bên đại lý nhân danh chính mình mua, bán hàng hoá cho bên giao
đại lý hoặc cung ứng dịch vụ của bên giao đại lý cho khách hàng để hưởng thù lao”.
Mặc dù không được quy định trong luật nhưng căn cứ theo Điều 166 Luật
Thương mại 2005 có thể đưa ra khái niệm về Hợp đồng đại lý thương mại : Hợp đồng
đại lý thương mại là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên đại lý nhân danh chính
10
mình mua bán hàng hóa cho bên giao đại lý hoặc cung ứng dịch vụ của bên giao đại
lý cho khách hàng để hưởng thù lao.
1.1.2. Đặc điểm của hợp đồng đại lý thương mại
Thứ nhất, chủ thể của hợp đồng đại lý mua bán hàng hóa là các thương nhân.
Quan hệ đại lý mua bán hàng hóa được xây dựng trên cơ sở hợp đồng, giữa bên
giao đại lý và bên đại lý. Theo Điều 167 Luật thương mại 2005 quy định về bên giao
đại lý và bên đại lý:
1. Bên giao đại lý là thương nhân giao hàng hoá cho đại lý bán hoặc giao tiền
mua hàng cho đại lý mua hoặc là thương nhân uỷ quyền thực hiện dịch vụ cho đại lý
giao đại lý hoàn toàn không chuyển quyền sở hữu hàng hóa (trong trường hợp đại lý
bán) hoặc tiền (trong trường hợp đại lý mua).
Cơ sở để bên đại lý bán hoặc mua hàng hóa cho bên giao đại lý là sự ủy nhiệm
quyền mua, bán hàng hóa của bên giao đại lý. Đặc điểm này làm cho hợp đồng đại
lý mua bán hàng hóa hoàn toàn khác hợp đồng mua bán hàng hóa. Đặc trưng nổi bật
nhất của hợp đồng mua bán hàng hóa là có sự chuyển quyền sở hữu hàng hóa cũng
như chuyển giao rủi ro từ người bán sang cho người mua, trừ trường hợp các bên có
thỏa thuận khác. Trong quan hệ đại lý mua bán hàng hóa, bên đại lý chỉ giao hàng hóa
cho bên đại lý bán hàng mà không chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên đại lý (bên
giao đại lý chỉ chuyển quyền chiếm hữu hàng hóa cho bên đại lý). Khi bên đại lý giao
kết, thực hiện hợp đồng với khách hàng, quyền sở hữu hàng hóa sẽ được chuyển từ
bên giao đại lý sang cho khách hàng. Bên đại lý chỉ có vai trò của một người làm dịch
vụ trung gian nối liền sự liên kết của bên giao đại lý với khách hàng. Với tư cách là
chủ sở hữu của hàng hóa, bên giao đại lý được toàn quyền định đoạt đối với hàng hóa
của mình cũng như phải chịu rủi ro đối với hàng hóa cũng như gánh chịu mọi trách
nhiệm với khách hàng về chất lượng của hàng hóa (trừ trường hợp hàng hóa hư hỏng
do lỗi của bên đại lý).
Thứ tư, để thực hiện hoạt động đại lý, bên đại lý phải thực hiện các hành vi thực
tế.
Bên đại lý nhận hàng hóa từ bên giao đại lý để giao cho người mua trong
trường hợp đại lý bán, hoặc nhận tiền từ bên giao đại lý để thanh toán cho khách hàng;
nhận hàng từ khách hàng để giao cho bên đại lý trong trường hợp đại lý mua hàng.
Đặc điểm này giúp phân biệt hợp đồng đại lý với hợp đồng ủy thác mua bán
hàng hóa, trong đó bên được ủy thác chủ yếu thực hiện các hành vi pháp lý (bên được
ủy thác chỉ sử dụng danh nghĩa của mình ký hợp đồng với khách hàng; còn việc giao
hàng, thanh toán có thể được thực hiện trực tiếp giữa bên ủy thác với khác hàng). Bên
đại lý mua bán hàng hóa được tự do hơn bên nhận ủy thác trong việc lựa chọn bên thứ
ba để giao kết và thực hiện hợp đồng.
12
13
1.2. Cơ sở ban hành và nội dung pháp luật điều chỉnh quyền và nghĩa vụ của các
bên trong hợp đồng đại lý thương mại
1.2.1. Cơ sở ban hành
1.2.1.1. Cơ sở thực tiễn
Trong bối cảnh hội nhập toàn cầu, để Việt Nam có điều kiện gia nhập WTO thì
pháp luật của chúng ta buộc phải thay đổi theo hướng phù hợp với những quốc gia
phát triển trên thế giới, cùng theo đó sự tự do kinh doanh ngày càng đa dạng hơn. Con
người có nhiều nhu cầu hàng hóa phục vụ cho cuộc sống hiện đại, các quan hệ về đại
lý thương mại cùng đó mà xuất hiện nhiều hơn, trở nên đa dạng và phức tạp hơn. Do
vậy mà việc vi phạm hợp đồng cũng trở nên xảy ra nhiều. Để tạo một môi trường pháp
lý ổn định và đón đầu sự phát triển của nền kinh tế, Nhà nước ta đã tiến hành rất nhiều
cải cách và đổi mới về pháp luật. Hệ thống pháp luật đã dần được hoàn thiện nhằm tạo
ra một hành lang pháp lý vững vàng cho các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh hiệu
quả. Việc sửa đổi, bổ sung các văn bản pháp luật, đặc biệt là các văn bản trong lĩnh
vực kinh doanh thương mại, được thực hiện theo hướng phù hợp với pháp luật quốc tế
nhưng cũng đảm bảo những lợi ích hợp pháp của các doanh nghiệp trong nước.
Trong hoạt động trung gian thương mại, quan hệ giữa bên đại lý và bên giao đại
lý được xác lập và thực hiện thông qua hình thức pháp lý là hợp đồng đại lý thương
mại. Hợp đồng đại lý thương mại có bản chất chung của hợp đồng thương mại, là sự
thỏa thuận nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ trong quan hệ
đại lý thương mại. Quyền và nghĩa vụ của các bên được xác lập bởi hợp đồng giữa các
bên và quy định của pháp luật. Để đảm bảo lợi ích của cả bên đại lý và bên giao đại lý,
việc xác lập những quy tắc chung trong quá trình ký kết hợp đồng, thực hiện hợp đồng
là yếu tố rất quan trọng. Do vậy việc thiết lập luật về hợp đồng đại lý thương mại trở
thành yếu tố tất yếu nhằm tạo điều kiện cho nền kinh tế được ổn định và phát triển.
1.2.1.2. Hệ thống các văn bản pháp luật điều chỉnh quyền và nghĩa vụ của các bên
lập và có đăng ký kinh doanh. Thương nhân có quyền hoạt động thương mại trong các
ngành nghề, tại các địa điểm dưới các hình thức và theo phương thức mà pháp luật
không cấm. Quyền hoạt động thương mại hợp pháp của thương nhân được Nhà nước
bảo hộ. Đăng ký kinh doanh là điều kiện bắt buộc được công nhận là thương nhân, nó
là nghĩa vụ của thương nhân. Thương nhân gồm có thương nhân Việt Nam và thương
nhân nước ngoài có thể là cá nhân, pháp nhân hoặc chủ thể khác việc xác định tư cách
thương nhân nước ngoài phải căn cứ theo pháp luật của nước mà thương nhân đó
mang quốc tịch. Thương nhân nước ngoài là thương nhân được thành lập hoặc đăng ký
kinh doanh theo quy định của pháp luật nước ngoài hoặc được pháp luật nước ngoài
công nhận (Khoản 1, Điều 16 LTM năm 2005).
Thương nhân là cá nhân thì phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ. Đó là khả
năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền và nghĩa vụ dân sự
(Điều 19 BLDS 2015); được hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên
như một nghề nghiệp. Cá nhân cũng có thể trở thành tư nhân ngay cả khi hoạt động
thương mại một cách độc lập thường xuyên như một nghề nghiệp mà chưa đăng ký
kinh doanh.Thương nhân là cá nhân sẽ bao gồm: Cá nhân kinh doanh; Doanh nghiệp
tư nhân...Trong lĩnh vực hoạt động thương mại do thương nhân phải chịu trách nhiệm
đầy đủ về hành vi thương mại của mình, vì vậy những người sau đây sẽ không được
công nhận là thương nhân:
15
1.2.2.2.
- Người không có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, người mất năng lực hành vi
dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự;
- Người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, người đang phải chấp nhận hình
phạt tù;
- Người đang trong thời gian bị toà án tước quyền nghề vì các tội buôn bán
hàng cấm, kinh doanh trái phép… và các tội khác theo quy định của pháp luật.
16
mình trong hợp đồng đại lý thương mại. Trong trường hợp các bên không có thỏa
thuận khác thì quyền và nghĩa vụ của các bên được thực hiện theo quy định của Bộ
luật Dân sự 2015 và Luật Thương mại 2005.
Trong quan hệ đại lý thương mại có hai chủ thể chính: bên đại lý và bên giao
đại lý. Quyền và nghĩa vụ các bên được quy định trong hợp đồng đại lý thương mại
theo Luật Thương mại 2005 từ Điều 172 đến Điều 175 như sau:
- Quyền và nghĩa vụ của bên đại lý đối với bên giao đại lý:
Nghĩa vụ của bên đại lý theo Điều 175 LTM 2005, bên đại lý phải thực hiện
những nghĩa vụ sau đối với bên giao đại lý, trừ trường hợp có thỏa thuận khác: Mua,
bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ cho khách hàng theo giá hàng hóa, giá cung ứng dịch
vụ do bên giao đại lý ấn định; Thực hiện đúng các thỏa thuận về giao nhận tiền, hàng
với bên giao đại lý; Thực hiện các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự theo
quy định của pháp luật; Thanh toán cho bên giao đại lý tiền bán hàng đối với đại lý
bán; giao hàng mua đối với đại lý mua; tiền cung ứng dịch vụ đối với đại lý cung ứng
dịch vụ; Bảo quản hàng hoá sau khi nhận đối với đại lý bán hoặc trước khi giao đối
với đại lý mua; liên đới chịu trách nhiệm về chất lượng hàng hóa của đại lý mua bán
hàng hóa, chất lượng dịch vụ của đại lý cung ứng dịch vụ trong trường hợp có lỗi do
mình gây ra; Chịu sự kiểm tra, giám sát của bên giao đại lý và báo cáo tình hình hoạt
động đại lý với bên giao đại lý; Trường hợp pháp luật có quy định cụ thể về việc bên
đại lý chỉ được giao kết hợp đồng đại lý với một bên giao đại lý đối với một loại hàng
hóa hoặc dịch vụ nhất định thì phải tuân thủ quy định của pháp luật đó.
Quyền của bên đại lý theo Điều 174 LTM 2005 quy định, trừ trường hợp các
bên có thỏa thuận khác, bên đại lý có quyền giao kết hợp đồng đại lý với một hoặc
nhiều bên giao đại lý, trừ trường hợp quy định tại khỏa 7 Điều 175 của Luật này; Yêu
cầu bên giao đại lý giao hàng hoặc tiền theo hợp đồng đại lý; nhận lại tài sản dùng để
bảo đảm (nếu có) khi kết thúc hợp đồng đại lý; Yêu cầu bên giao đại lý hướng dẫn,
cung cấp thông tin và các điều kiện khác có liên quan để thực hiện hợp đồng đại lý;
đồng đại lý thương mại
Căn cứ theo những nguyên tắc cơ bản về hoạt động thương mại của Luật
Thương mại 2005 thì quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng đại lý thương mại
cũng cần tuân thủ các nguyên tắc sau:
- Nguyên tắc đảm bảo quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia quan hệ hợp
đồng, không được trái với pháp luật và đạo đức xã hội.
- Nguyên tắc áp dụng Luật Thương mại 2005 và Bộ luật Dân sự 2015 nếu các
bên tham gia hợp đồng đại lý thương mại không có thỏa thận khác về quyền và nghĩa
vụ.
- Nguyên tắc tự nguyện, tự do, bình đẳng, thiện chí, hợp tác, trung thực và ngay
thẳng đúng như thỏa thuận để xác lập quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng
đại lý thương mại nhưng không trái với các quy định của pháp luật, thuần phong mỹ
tục và đạo đức xã hội. Các bên hoàn toàn tự nguyện, không bên nào được thực hiện
hành vi áp đặt, cưỡng ép, đe dọa, ngăn cản bên nào.
18
- Các bên tham gia hợp đồng đại lý thương mại có nghĩa vụ thông tin đầy đủ,
một cách trung thực, theo tinh thần hợp tác và có lợi nhất cho các bên về hàng hóa và
dịch vụ mà mình kinh doanh và phải chịu trách nhiệm về tính chính xác của các thông
tin đó để đảm bảo sự tin cậy lẫn nhau.
- Không được xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền,
lợi ích hợp pháp của người khác.
- Các quy định cần phải đảm bảo sự bền vững, có sự thống nhất chặt chẽ với
các quy định của pháp luật.
19
sinh, sản phẩm nội thất, gạch ốp lát…trên địa bàn và khu vực lân cận với các hình thức
bán hàng là bán buôn và bán lẻ, phục vụ nhu cầu vận chuyển khi có nhu cầu của khách
hàng. Và Công ty có nhiệm vụ xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh đạt chất lượng
và hiệu quả cao; thực hiện nghĩa vụ nộp ngân sách nhà nước; thực hiện chế độ thanh
toán lương hàng tháng cho công nhân viên và chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y
tế, bảo hiểm tự nguyện cho công nhân viên.
20
Ngành nghề kinh doanh chủ yếu của Công ty cổ phần Bảo Toàn là : Xây dựng
các công trình dân dụng và công nghiệp, giao thông, thủy lợi; phá dỡ, san lấp mặt
bằng; Kinh doanh nhà hàng, khách sạn; Sản xuất kinh doanh, xuất nhập khẩu vật liệu
xây dựng; ngoài ra Công ty cổ phần Bảo Toàn được lựa chọn là nhà phân phối của các
hãng: Các sản phẩm nội thất của tập đoàn Hòa Phát, thiết bị vệ sinh cao cấp
CAESAR…; Kinh doanh, sửa chữa, mua, bán ôtô; Thương mại tổng hợp; Kinh doanh,
máy móc, thiết bị điện, vật liệu điện, lắp đặt hệ thống điện, hệ thống cấp thoát nước,
lắp đặt hệ thống xây dựng khác.
Sơ đồ 1.1: Tổ chức Bộ máy quản lý của công ty
HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ
BAN KIỂM
SOÁT
GIÁM ĐỐC ĐIỀU HÀNH
PGĐ. KINH DOANH
PHÒNG KẾ
HOẠCH
PGĐ. XÂY DỰNG
doanh với các đối tác nước ngoài cũng được phía công ty chú trọng và tiếp tục mở
rộng kinh doanh.
Công ty cổ phần Bảo Toàn là một đại lý thương mại chuyên phân phối các sản
phẩm nội thất của tập đoàn Hòa Phát, các sản phẩm thiết bị nhà vệ sinh cao cấp Caesar
và một số sản phẩm vật liệu xây dựng khác. Do nhu cầu tiêu dùng của khách hàng
ngày càng gia tăng nên Công ty cổ phần Bảo Toàn đã mở rộng thêm quy mô chi nhánh
ở các địa điểm có vị trí địa lý giao thông thuận lợi ở Huyện Kỳ Anh – Tỉnh Hà Tĩnh và
một chi nhánh tại Số 1 – Lai Xá – Kim Chung – Hoài Đức – Hà Nội nhằm đáp ứng
nhu cầu đến nguời tiêu dùng cuối cùng.
Tại hai địa điểm này mặt đối thủ cạnh tranh trực tiếp của Công ty không khốc
liệt như ở trụ sở chính tại TP.Hà Tĩnh. Trong quá trình hoạt động kinh doanh, Công ty
không ngừng nỗ lực phát triển, hướng tới mục tiêu mở rộng hệ thống chi nhánh của
mình ra thị trường các khu vực khác trên toàn quốc. Với tổng doanh thu qua hoạt động
đại lý chiếm khoảng 75% tổng doanh thu của toàn Công ty, hoạt động đại lý ngày càng
chứng tỏ vai trò lớn mạnh của nó. Hiện nay, phòng bán hàng thực hiện toàn bộ quá
trình phát triển và giám sát hoạt động đại lý. Chính vì có đội ngũ nhân viên năng động,
nhiệt tình nên số lượng hàng hóa bán ra cùng với doanh thu tăng lên đáng kể trong
những năm gần đây, cụ thể là:
- Tại trụ sở chính :
+ Năm 2012 doanh thu đạt 2,664,717,000 đồng
+ Năm 2013 doanh thu đạt 3,227,115,000 đồng
+ Năm 2014 doanh thu đạt 4,904,257,000 đồng
+ Năm 2015 doanh thu đạt 5,451,665,000 đồng
- Tại chi nhánh Huyện Kỳ Anh – Hà Tĩnh :
+ Năm 2012 doanh thu đạt 389,789,000 đồng
+ Năm 2013 doanh thu đạt 229,348,000 đồng
+ Năm 2014 doanh thu đạt 488,134,172 đồng
22
và khai thác cơ hội kinh doanh và thực hiện mục tiêu của Công ty cỏ phần Bảo Toàn,
ổn định chính trị là tiền đề quan trọng cho hoạt động kinh doanh, thay đổi về chính trị
có thể gây ảnh hưởng có lợi cho công ty hoặc kìm hãm sự phát triển của doanh nghiệp
khác. Hệ thống pháp luật hoàn thiện và sự nghiêm minh trong thực thi pháp luật sẽ tạo
môi trường cạnh tranh lành mạnh cho các doanh nghiệp nói chung và Công ty cổ phần
23
Bảo Toàn nói riêng, tránh tình trạng gian lận, buôn lậu hay tranh chấp xảy ra về quyền
và nghĩa vụ giữa bên đại lý và bên giao đại lý trong quan hệ hợp đồng đại lý thương
mại…
Mức độ ổn định về chính trị và luật pháp của một quốc gia cho phép doanh
nghiệp có thể đánh giá được mức độ rủi ro của môi trường kinh doanh và ảnh hưởng
của nó đến doanh nghiệp như thế nào, vì vậy nghiên cứu các yếu tố chính trị và luật
pháp là yêu cầu không thể thiếu được khi doanh nghiệp tham gia vào thị trường.
- Yếu tố kinh tế
Có thể tạo ra điều kiện thuận lợi cho việc xâm nhập mở rộng thị trường, ngành
hàng này nhưng lại hạn chế sự phát triển của ngành hàng khác. Các yếu tố kinh tế ảnh
hưởng đến sức mua, sự thay đổi nhu cầu tiêu dùng hay xu hướng phát triển của các
ngành hàng, các yếu tố kinh tế bao gồm :
+ Hoạt động ngoại thương : Xu hướng đóng mở cửa nền kinh tế cóảnh hưởng
các cơ hội phát triển của công ty, các điều kiện cạnh tranh, khả năng sử dụng ưu thế
quốc gia về công nghệ, nguồn vốn.
+ Lạm phát và khả năng điều khiển lạm phát ảnh hưởng đến thu nhập, tích luỹ,
tiêu dùng, kích thích hoặc kìm hãm đầu tư...
+ Sự thay đổi về cơ cấu kinh tế ảnh hưởng đến vị trí vai trò và xu hướng phát
triển của các ngành kinh tế kéo theo sự thay đổi chiều hướng phát triển của công ty .
+ Tốc độ tăng trưởng kinh tế : Thể hiện xu hướng phát triển chung của nền kinh
tế liên quan đến khả năng mở rộng hay thu hẹp quy mô kinh doanh của công ty .
xuất kinh doanh trong khu vực, hoặc ảnh hưởng đến hoạt động dự trữ, bảo quản hàng
hoá.
Các yếu tố thuộc cơ sở hạ tầng như hệ thống đường giao thông, hệ thống thông
tin liên lạc, điện, nước,...đều là những nhân tố tác động mạnh mẽ đến hiệu quả kinh
doanh của công ty. Công ty kinh doanh ở khu vực có hệ thống giao thông thuận lợi,
điện, nước đầy đủ, dân cư đông đúc và có trình độ dân trí cao sẽ có nhiều điều kiện
thuận lợi để phát triển sản xuất, tăng tốc độ tiêu thụ sản phẩm, tăng doanh thu, giảm
chi phí kinh doanh... và do đó nâng cao hiệu quả kinh doanh của mình. Ngược lại, ở
nhiều vùng nông thôn, miền núi, biên giới, hải đảo có cơ sở hạ tầng yếu kém, không
thuận lợi cho việc cho mọi hoạt động như vận chuyển, bảo quản, phân phối mua bán
hàng hoá... công ty sẽ hoạt động với hiệu quả kinh doanh không cao. Thậm chí có
25