BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
CHẾ TÀI ĐỐI VỚI VI PHẠM PHÁP LUẬT
TRONG HOẠT ĐỘNG QUẢNG CÁO THƯƠNG MẠI
Ở VIỆT NAM
PHẠM VĂN THUẬN
HÀ NỘI - 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHẾ TÀI ĐỐI VỚI VI PHẠM PHÁP LUẬT
TRONG HOẠT ĐỘNG QUẢNG CÁO THƯƠNG MẠI
Ở VIỆT NAM
PHẠM VĂN THUẬN
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
MÃ SỐ: 60.38.01.07
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. TRẦN VĂN BIÊN
HÀ NỘI - 2017
MỞ ĐẦU ..................................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHẾ TÀI ĐỐI VỚI VI PHẠM PHÁP
LUẬT TRONG HOẠT ĐỘNG QUẢNG CÁO THƯƠNG MẠI .................................... 7
1.1. Khái quát về vi phạm pháp luật trong hoạt động quảng cáo thương mại.... 7
1.1.1. Khái niệm và vai trò của quảng cáo thương mại ..................................... 7
1.1.2. Khái niệm và đặc điểm của vi phạm pháp luật trong hoạt động quảng
cáo thương mại ........................................................................................................... 12
1.2. Các biện pháp chế tài đối với vi phạm pháp luật trong hoạt động quảng
cáo thương mại .................................................................................................... 16
1.2.1. Khái niệm và đặc điểm của chế tài đối với các hành vi vi phạm pháp
luật trong hoạt động quảng cáo thương mại ......................................................... 16
1.2.2. Các hình thức chế tài và căn cứ áp dụng đối với hành vi vi phạm trong
hoạt động quảng cáo thương mại ............................................................................ 18
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1………………………………………………………….22
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ CHẾ TÀI ĐỐI VỚI VI PHẠM PHÁP
LUẬT TRONG HOẠT ĐỘNG QUẢNG CÁO THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM ........... 23
2.1. Thực trạng các quy định pháp luật về chế tài đối với vi phạm pháp luật
trong hoạt động quảng cáo thương mại ở Việt Nam ............................................. 23
2.1.1. Quy định về các biện pháp chế tài đối với vi phạm pháp luật trong hoạt
động quảng cáo thương mại tại Việt Nam ............................................................ 23
2.1.2. Đánh giá các quy định về chế tài đối với vi phạm pháp luật trong hoạt
động quảng cáo thương mại..................................................................................... 34
2.2. Thực trạng áp dụng các biện pháp chế tài đối với vi phạm pháp luật trong
hoạt động quảng cáo thương mại ở Việt Nam ........................................................ 43
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Trong đời sống kinh doanh hiện nay, quảng cáo thương mại đã không thể
tách rời chiến lược quảng bá thương hiệu của mỗi chủ thể kinh doanh. Mỗi chủ thể
kinh doanh dù lớn hay nhỏ đều phải quan tâm không chỉ đến khâu sản xuất hàng
hóa hay xây dựng dịch vụ của mình cho tốt, mà còn phải quan tâm đến khâu tìm
kiếm thị trường và tiêu thụ sản phẩm, cũng như khả năng cạnh tranh của sản phẩm
đó trên thị trường. Các chủ thể kinh doanh coi quảng cáo là một công cụ quan trọng,
hiệu quả nhất để quảng bá hình ảnh và hướng đến việc tạo ra vị thế có lợi trên thị
trường trước các đối thủ, từ đó, nâng cao vị thế cạnh tranh, xây dựng chỗ đứng, tạo
lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp của mình.
Quảng cáo thương mại được coi là giải pháp xúc tiến hiệu quả bởi nó có ưu
thế tác động theo chiều rộng, thể hiện được trọn vẹn tinh thần của chủ thể quảng cáo
muốn truyền tải và trên hết là chi phí cho phương thức này không cao, các hình thức
quảng cáo thương mại cũng rất phong phú và đa dạng, từ đó, các chủ thể quảng cáo
cũng dễ dàng lựa chọn hình thức quảng cáo thương mại cho mình phù hợp với năng
lực tài chính và nội dung thông tin muốn truyền tải một cách chủ động. Tuy nhiên,
về mặt thực tế ở Việt Nam hiện nay đối với hình thức quảng cáo thương mại, cũng
chính bởi nó có nhiều lợi thế như vậy nên một số chủ thể kinh doanh đã lợi dụng
hình thức này để thực hiện hành vi vi phạm pháp luật về quảng cáo và cạnh tranh
không lành mạnh. Điều này được thể hiện cụ thể trong việc một số chủ thể kinh
doanh thực hiện các chương trình quảng cáo không đúng theo quy định của pháp
luật, tung ra những chương trình quảng cáo sai sự thật, gây nhầm lẫn hay quảng cáo
nhằm mục đích hạ uy tín của các chủ thể kinh doanh khác, khiến cho thị trường
quảng cáo có sự hỗn loạn, giảm hiệu quả và chưa phát huy hết vai trò của nó trong
nền kinh tế thị trường ở nước ta. Bởi vậy, để có một nền kinh tế bền vững và một hệ
Nội, năm 2003; Luận văn Thạc sĩ luật học của tác giả Đào Tuyết Vân: “Pháp luật
2
quảng cáo với vấn đề bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng”, Học viện Chính trị quốc
gia Hồ Chí Minh, năm 2009; Luận văn Thạc sĩ luật học của tác giả Trịnh Thị Liên
Hương: “Pháp luật chống hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực
quảng cáo ở Việt Nam”, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2010; Luận
văn Thạc sĩ luật học của tác giả Nguyễn Thị Hồng Nhung: “Quảng cáo truyền hình
- Thực trạng và cơ chế hoàn thiện”, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, năm
2011; Luận văn Thạc sĩ luật học của tác giả Quách Thị Hương Giang: “Chế tài đối
với hành vi cạnh tranh không lành mạnh theo pháp luật Việt Nam”, Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2011; Bài viết trên Trang Thông tin điện tử của Bộ
Tư pháp của tác giả Thạc sỹ Hoàng Thị Thanh Hoa về: “Chế tài pháp lý đối với
hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực quảng cáo thương mại”, năm
2015, bài viết trên Tạp chí Toà án nhân dân của tác giả Nguyễn Hà về: “Chế tài
pháp lý đối với hành vi vi phạm quyền lợi người tiêu dùng trong thương mại điện
tử”, số tháng 4/2015...
Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu nêu trên chủ yếu tập trung vào từng
khía cạnh của pháp luật quảng cáo, các biện pháp chế tài pháp lý với một số hành vi
vi phạm pháp luật cạnh tranh hoặc pháp luật về thương mại điện tử..., mà chưa có
công trình nào đi sâu nghiên cứu về các biện pháp chế tài xử lý các vi phạm pháp
luật trong hoạt động quảng cáo thương mại. Bởi vậy, việc nghiên cứu toàn diện cơ
sở lý luận và thực tiễn về chế tài xử lý vi phạm pháp luật trong hoạt động quảng cáo
thương mại sẽ góp phần hoàn thiện các quy định pháp luật và nâng cao hiệu quả cơ
chế xử lý các vi phạm pháp luật trong hoạt động quảng cáo thương mại ở Việt Nam
hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích của Luận văn này là nghiên cứu để làm rõ các vấn đề lý luận và
văn bản pháp luật hiện hành như: Luật Quảng cáo, Luật Thương mại, Luật Cạnh
tranh, Luật Xử lý vi phạm hành chính, Bộ luật Hình sự, Bộ luật Dân sự và các văn
bản hướng dẫn thi hành, cùng với thực tế áp dụng các biện pháp chế tài xử lý các
4
hành vi vi phạm pháp luật trong hoạt động quảng cáo thương mại tại Việt Nam.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn giới hạn phạm vi nghiên cứu là các biện pháp chế tài xử lý các
hành vi vi phạm pháp luật trong hoạt động quảng cáo thương mại và các vấn đề có
liên quan theo quy định của pháp luật Việt Nam.
5. Phương pháp nghiên cứu của đề tài
Để đạt được mục đích và hoàn thành nhiệm vụ nghiên cứu, Luận văn sử
dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác Lênin; chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước ta về hoàn thiện thể chế kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Bên cạnh đó, luận văn còn sử dụng một số
phương pháp nghiên cứu khoa học cơ bản như: Phương pháp phân tích, tổng họp,
khái quát hóa, so sánh pháp luật... để làm sáng tỏ mục tiêu và nội dung nghiên cứu
của đề tài.
6. Những đóng góp mới của luận văn
Luận văn có những đóng góp mới sau:
- Góp phần làm rõ hơn các vấn đề lý luận về xử lý vi phạm pháp luật trong
hoạt động quảng cáo thương mại; bản chất, nội dung, đặc điểm của các biện pháp
chế tài xử lý hành vi vi phạm pháp luật trong hoạt động quảng cáo thương mại.
- Góp phần đánh giá trung thực, khách quan về thực trạng pháp luật và hiệu
quả áp dụng các chế tài xử lý hành vi vi phạm pháp luật trong hoạt động quảng cáo
thương mại ở Việt Nam hiện nay.
- Góp phần hoàn thiện pháp luật về các biện pháp chế tài xử lý hành vi vi
phạm pháp luật trong hoạt động quảng cáo thương mại tại Việt Nam, từ đó, xây
dựng và hoàn thiện môi trường kinh doanh bình đẳng, công bằng ở Việt Nam trong
Mỗi ngày bước ra đường, chúng ta có thể thấy vô số các băng rôn, áp phích giăng
đầy đường phố. Trong tiếng La tinh, từ “quảng cáo” (adverture) có nghĩa là sự thu
hút lòng người, là gây sự chú ý và gợi dẫn. Sau này, thuật ngữ trên được sử dụng
trong tiếng Anh là “Advertise”. Các dịch giả giải nghĩa “Advertise” là gây sự chú ý
ở người khác, thông báo cho người khác một sự kiện nào đó. Hiệp hội Marketing
Hoa Kỳ (AMA) đưa ra khái niệm: “Quảng cáo là hoạt động truyền bá thông tin
trong đó nói rõ ý đồ quảng cáo, tuyên truyền hàng hóa, dịch vụ của quảng cáo trên
cơ sở thu phí quảng cáo không trực tiếp nhằm công kích người tiêu dùng”. Khái
niệm này được đưa ra dựa trên sự phát triển thực tại của nền kinh tế và hoạt động
quảng cáo tại nơi đó [26].
Cùng với sự phát triển hoạt động thương mại, khái niệm quảng cáo ngày
càng được bố sung hoàn chỉnh hơn. Theo cuốn “Makerting - Lý luận và nghệ thuật
ứng xử”: “Quảng cáo được coi là việc xử dụng các phương tiện thông tin để truyền
tin về các sản phẩm đến các phần tử trung gian hoặc các khách hàng cuối cùng
7
trong khoảng không gian và thời gian nhất định”. Các tác giả Otto kleppner,
Thomas Rusel, Glenn Verill trong cuốn “Công nghệ quảng cáo” trình bày cụ thể
hơn: “Quảng cáo là một phương pháp truyền tin từ người thuê quảng cáo qua một
phương tiện thông tin đại chúng đến nhiều người”.
Định nghĩa về quảng cáo của Armand - Dayan:
“Quảng cáo là sự truyền tin một chiều, phải trả tiền, không liên quan trực
tiếp tới riêng một người nào, được thực hiện qua tất cả các phương tiện thông tin
và kênh thông tin nhằm có lợi cho một sản phẩm, một nhãn hiệu hay một công ty
được xác định trong một thông điệp” [1].
Theo Luật Quảng cáo Việt Nam năm 2012:
“Quảng cáo là việc sử dụng các phương tiện nhằm giới thiệu đến công
chúng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ có mục đích sinh lợi; sản phẩm, dịch vụ không
hình thức bán hàng trực tiếp mà đó là một kênh tiếp thị thông tin về sản phẩm muốn
bán; (v) Quảng cáo là một hình thức truyền thông tin của truyền thông marketing.
Các chức năng của quảng cáo nằm gọn trong phạm vi marketing; (vi) Quảng cáo
thương mại là một thông điệp về một sản phẩm, một dịch vụ, một công ty hay một ý
đồ hành động của chủ thể thực hiện quảng cáo. Các thông điệp quảng cáo được thiết
kế làm sao để hướng khách hàng mua một sản phẩm, một dịch vụ hoặc gây cho họ
một ấn tượng tố về một công ty. Thậm chí quảng cáo còn được sử dụng để khuyếch
trương một tư tưởng, một ý đồ đặc biệt trong marketing khách hàng của chủ thể
quảng cáo [45].
Căn cứ những phân tích trên, chúng ta có thể nhận thấy rằng quảng cáo
thương mại là một hoạt động truyền thông tin về hàng hóa, dịch vụ kinh doanh hoặc
tổ chức, ý đồ kinh doanh bằng các phương tiện khác nhau nhằm bán được nhiều
hàng hóa, dịch vụ. Quảng cáo thương mại có mục đích chung nhất là để bán nhanh
và bán được nhiều hàng chứ không nhằm mục đích tăng giá, tăng chất lượng hay
giảm chất lượng của sản phẩm, cũng như cơ cấu lại tổ chức kinh doanh.
Quảng cáo thương mại là hoạt động xúc tiến thương mại của thương nhân để
giới thiệu với khách hàng về hoạt động kinh doanh hàng hóa, dịch vụ của mình.
9
Khác với quảng cáo nói chung và các hoạt động xúc tiến thương mại khác thì quảng
cáo thương mại có các đặc điểm pháp lý cơ bản sau:
Thứ nhất, chủ thể hoạt động quảng cáo thương mại là thương nhân. Với tư
cách là người kinh doanh, thương nhân thực hiện quảng cáo thương mại để hỗ trợ
cho hoạt động kinh doanh của mình hoặc thực hiện dịch vụ quảng cáo cho thương
nhân khác theo hợp đồng để tìm kiếm lợi nhuận. Đây là đặc điểm khác biệt của
quảng cáo thương mại đối với các hoạt động thông tin, cổ động do cơ quan nhà
nước, tổ chức chính trị, tổ chức xã hội... thực hiện nhằm tuyên truyền về đường lối,
chủ trương, chính sách kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước. Với bản chất là một
thương mại giữ vai trò tiếp cận đối tượng mục tiêu, là phương tiện để đạt tới các
mục tiêu của chiến lược chung maketing như lợi nhuận, thế lực và sự an toàn trong
kinh doanh, cũng như trong định hướng đầu tư của mỗi chủ thể kinh doanh. Trên
thực tế, quảng cáo thương mại góp phần làm tăng lợi nhuận của chủ thể kinh doanh.
Mục tiêu của maketing là tối đa hóa lợi nhuận trong điều kiện cho phép trên cơ sở
của nền tảng tối thiểu hóa chi phí. Lợi nhuận chính là sự chênh lệch giữa doanh thu
và chi phí mà công ty bỏ ra. Hoạt động quảng cáo nếu được triển khai một cách
đúng đắn và hiệu quả sẽ có thể làm tăng tổng doanh thu của chủ thể kinh doanh,
đồng thời giảm chi phí cho một đơn vị sản phẩm hàng hóa - dịch vụ của chính chủ
thể kinh doanh ấy.
Quảng cáo là để bán nhanh và bán được nhiều hàng làm cho doanh số tiêu
thụ sản phấm - dịch vụ của chủ thế kinh doanh tăng lên. Đây chính là vai trò quan
trọng nhất của quảng cáo thương mại và đồng thời cũng là mục đích của chủ thể
quảng cáo. Nội dung, cách trình bày thông điệp quảng cáo cũng như việc sử dụng
các kênh truyền tin kết hợp với việc xác định được đối tượng mục tiêu hướng tới là
những yếu tố quan trọng để giới thiệu một sản phẩm mới, tạo ra nhu cầu về sản
phẩm mới đó, thuyết phục số người mua sản phẩm dịch vụ nhiều hơn, cũng như số
lần mua hàng tăng lên. Cho nên, quảng cáo thương mại được coi là việc bán hàng
thông qua các phương tiện thông tin đại chúng hữu hiệu.
Thứ hai, quảng cáo thương mại góp phần giảm chi phí sản xuất cho một đơn
vị sản phẩm hàng hóa, dịch vụ. Tổng chi phí sản xuất sản phẩm bao gồm tổng giá
11
thành và chi phí lưu thông (chi phí tiêu thụ, chi phí bán hàng...). Thực tế, quảng cáo
thương mại hoàn toàn không liên quan tới chi phí sản xuất, nhưng nó có ảnh hưởng
lớn và trực tiếp tới chi phí sản xuất. Bởi vì, chi phí cố định cho một đơn vị sản
phẩm sẽ giảm khi khối lượng sản phẩm tăng lên. Chính vì vậy, nếu quảng cáo
thương mại làm tăng khối lượng sản phẩm sản xuất và tiêu thụ thì nó sẽ giảm chi
vệ bằng ngành luật tương ứng hoặc trái với các quy định được quy định trong
ngành luật ấy, do người có năng lực pháp luật và đủ tuổi chịu trách nhiệm pháp lý
thực hiện một cách có lỗi” [46, tr.537]. Từ khái niệm vi phạm pháp luật nêu trên có
thể nhận thấy rằng hành vi vi phạm pháp luật là hành vi của chủ thể nhất định, hành
vi ấy vi phạm các quy định của pháp luật chuyên ngành được Nhà nước bảo vệ.
Thêm nữa, chủ thể thực hiện hành vi vi phạm phải có đủ năng lực pháp luật nghĩa là
đủ tuổi, không hạn chế về mặt thể chất hoặc tinh thần... và năng lực hành vi, tức là
họ nhận thức được mục đích và hậu quả của hành vi ấy và thực hiện hành vi ấy một
cách có lỗi.
Cho tới nay, vẫn chưa có một khái niệm chung thống nhất nào về vi phạm
pháp luật trong lĩnh vực quảng cáo thương mại, nhưng thông qua các khái niệm về
vi phạm pháp luật, khái niệm quảng cáo và các khái niệm khác có liên quan, có thể
rút ra khái niệm về vi phạm trong hoạt động quảng cáo thương mại như sau: “Hành
vi vi phạm pháp luật trong hoạt động quảng cáo thương mại là hành vi của chủ thể
thực hiện quảng cáo thương mại trong quá trình kinh doanh trái với các quy định
pháp luật hiện hành, gây thiệt hại hoặc có thế gây thiệt hại đến lợi ích của nhà
nước, quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể khác hoặc người tiêu dùng”.
Tại Điều 109 Luật Thương mại năm 2005 có quy định một số các hành vi vi
phạm pháp luật trong hoạt động quảng cáo thương mại như: Quảng cáo làm tiết lộ
bí mật nhà nước, phương hại đến độc lập, chủ quyền, an ninh quốc gia và trật tự, an
toàn xã hội; quảng cáo có sử dụng sản phẩm quảng cáo, phương tiện quảng cáo trái
với truyền thống lịch sử, văn hoá, đạo đức, thuần phong mỹ tục Việt Nam và trái
với quy định của pháp luật; quảng cáo hàng hoá, dịch vụ mà Nhà nước cấm kinh
doanh, hạn chế kinh doanh hoặc cấm quảng cáo; quảng cáo thuốc lá, rượu có độ cồn
13
từ 30 độ trở lên và các sản phẩm, hàng hoá chưa được phép lưu thông, dịch vụ chưa
được phép cung ứng trên thị trường Việt Nam tại thời điểm quảng cáo; quảng cáo
pháp luật trong hoạt động quảng cáo thương mại thông thường sẽ được áp dụng cho
chủ thể khi đạt độ tuổi công dân là 18 tuổi trở lên.
Thứ hai, về việc thực hiện hành vi vi phạm pháp luật
Việc thực hiện hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực quảng cáo thương
mại phải là hành vi của chủ thể được thực hiện một cách có lỗi. Lỗi ở đây được hiểu
là, chủ thể vi phạm thực hiện hành vi vi phạm dưới hình thức cố ý và mang tính chủ
quan, họ hoàn toàn chủ động trong việc suy nghĩ, tính toán và mong muốn hậu quả
của hành vi do mình thực hiện xảy ra trên thực tế. Những hành vi này không bị cản
trở bởi mặt nhận thức, mặt tâm lý và càng không có tác động khách quan. Bởi vậy,
đây chính là lỗi cố ý của chủ thể có đầy đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi.
Trên thực tế, yếu tố lỗi là cơ sở rất quan trọng để có thể xác định vấn đề vi phạm
của chủ thể phạm tội nói chung và chủ thể vi phạm pháp luật trong lĩnh vực quảng
cáo nói riêng.
Thứ ba, hậu quả của hành vi vi phạm pháp luật
Hậu quả chính là một dấu hiệu để nhận diện hành vi vi phạm pháp luật trong
hoạt động quảng cáo thương mại. Chính bản thân hành vi vi phạm pháp luật trong
hoạt động quảng cáo thương mại luôn mang một đặc điểm đó là vi phạm các quy
định của pháp luật và luôn gây ra một thiệt hại hoặc đe dọa gây ra một thiệt hại
(thiệt hại ở dạng tiềm năng) cho chủ thể bị tác động được pháp luật thừa nhận và
bảo vệ, tác động xấu tới môi trường kinh doanh. Hậu quả của hành vi vi phạm phải
có mối liên hệ nhân quả đối với chính hành vi được chủ thể vi phạm thực hiện. Tuy
nhiên, yếu tố hậu quả trong hoạt động quảng cáo thương mại không phải là yếu tố
chính để cấu thành vi phạm, mà nó chỉ được coi là tình tiết tăng nặng để áp dụng
hình phạt đối với hành vi này mà thôi. Bởi vì, đối với dạng vi phạm này thì chỉ cần
các dấu hiệu cấu thành như chủ thể, hành vi, yếu tố lỗi và mối liên hệ nhân quả của
hành vi là đủ để xác định cấu thành vi phạm, yếu tố hậu quả trong trường hợp này
được coi là yếu tố phụ và cho dù chưa có hậu quả xảy ra, nhưng có đầy đủ bốn yếu
tố cấu thành trên thì cũng đủ cơ sở để xác định vi phạm.
15
16
chế tài hình sự. Theo đó, mỗi loại chế tài được áp dụng với những nội dung, phạm
vi và có những đặc điểm khác nhau.
1.2.1.2. Đặc điểm của chế tài đối với vi phạm pháp luật trong hoạt động quảng cáo
thương mại
a. Chế tài hành chính: Chế tài hành chính được áp dụng đối với các hành vi
vi phạm pháp luật trong lĩnh vực quảng cáo thương mại trong trường hợp có vi
phạm xảy ra và vi phạm ấy được quy định bởi luật chuyên ngành hoặc các chế định
pháp luật có liên quan khác. Cơ quan giải quyết là cơ quan quản lý chuyên ngành và
giải quyết theo quy trình hành chính. Chế tài hành chính có thể được áp dụng đồng
thời với chế tài dân sự. Chế tài hành chính là chế tài được sử dụng phổ biến nhất áp
dụng cho các vi phạm trong lĩnh vực quảng cáo bởi tính mềm dẻo và linh hoạt của
nó. Chế tài hành chính sử dụng hình thức xử phạt phạt tiền là chủ yếu, bên cạnh đó
còn áp dụng một số hình thức xử phạt bổ sung, biện pháp khắc phục hậu quả như:
Cảnh cáo, tịch thu tang vật, thu giấy phép hành nghề, buộc khôi phục lại nguyên
trạng... Hiện nay, có nhiều văn bản pháp luật quy định về xử lý vi phạm hành chính
trong lĩnh vực quảng cáo như: Luật Xử lý vi phạm hành chính, các nghị định hướng
dẫn việc xử lý vi phạm hành chính trong các lĩnh vực về thương mại, quảng cáo và
cạnh tranh...
b. Chế tài hình sự: Chế tài hình sự là chế tài được áp dụng sau khi phát hiện
thấy vi phạm đó có dấu hiệu hình sự được quy định trong Bộ luật Hình sự. Cơ quan
thụ lý giải quyết vụ án là các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự và xử lý theo quy
trình tố tụng hình sự. Chế tài hình sự không được áp dụng đồng thời với chế tài
hành chính, nhưng có thể được áp dụng đồng thời với chế tài dân sự. Hiện nay, Luật
hình sự chưa có nhiều quy định đối với loại tội phạm về quảng cáo thương mại.
Trong Bộ luật Hình sự 1999 (sửa đổi, bổ sung 2009) chỉ có quy định duy nhất một
tội quảng cáo gian dối ở Điều 168, trong Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung
hành vi vi phạm sẽ phải chịu trách nhiệm pháp lý tương ứng với hành vi của mình.
Theo đó, tùy theo tính chất, mức độ vi phạm và hậu quả xảy ra thì tổ chức, cá nhân
bị xử lý theo một trong các hình thức sau đây:
18
i) Xử phạt theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính;
ii) Trường hợp hành vi vi phạm có đủ yếu tố cấu thành tội phạm thì người vi
phạm bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật;
iii) Trường hợp hành vi vi phạm gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước,
quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân thì phải bồi thường thiệt hại theo
quy định của pháp luật.
Như vậy, một hành vi vi phạm pháp luật trong hoạt động quảng cáo thương
mại có thể bị áp dụng chế tài hành chính, hình sự hoặc dân sự tùy theo từng trường
hợp cụ thể mà pháp luật quy định.
1.2.2.1. Chế tài hành chính và căn cứ áp dụng
Căn cứ theo quan niệm truyền thống, trách nhiệm pháp lý được hiểu là phản
ứng của Nhà nước đối với vi phạm pháp luật và vi phạm pháp luật chính là cơ sở
của trách nhiệm pháp lý. Trách nhiệm hành chính là hậu quả trực tiếp của vi phạm
hành chính, thể hiện ở sự áp dụng của các cơ quan nhà nước hoặc người có thẩm
quyền những chế tài hành chính đối với chủ thể vi phạm hành chính theo thủ tục do
Luật xử lý vi phạm hành chính quy định [38].
Căn cứ pháp lý áp dụng chế tài hành chính được Luật Xử lý vi phạm hành
chính, các nghị định hướng dẫn việc xử lý vi phạm hành chính trong các lĩnh vực về
quảng cáo, thương mại và cạnh tranh... quy định một cách cụ thể.
Như vậy, đối với hành vi vi phạm hành chính trong hoạt động quảng cáo
thương mại ở Việt Nam hiện nay được điều chỉnh bởi nhiều văn bản quy phạm pháp
luật khác nhau, nhưng đều hướng tới mục tiêu làm lành mạnh thị trường quảng cáo.
1.2.2.2. Chế tài hình sự và căn cứ áp dụng