BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI TỪ THỰC TIỄN ÁP DỤNG
TẠI HUYỆN BÌNH LỤC, TỈNH HÀ NAM
NGUYỄN TRỌNG TUẤN
HÀ NỘI - 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI TỪ THỰC TIỄN ÁP DỤNG
TẠI HUYỆN BÌNH LỤC, TỈNH HÀ NAM
NGUYỄN TRỌNG TUẤN
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
MÃ SỐ: 60380107
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS NGUYỄN HỮU CHÍ
HÀ NỘI - 2017
3. Mục tiêu, đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu .............................. 4
4. Các phương pháp nghiên cứu.................................................................... 4
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài .................................................. 4
6. Bố cục của luận văn .................................................................................. 5
Chương 1 ........................................................................................................... 6
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI VÀ PHÁP LUẬT . 6
VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI .................................................................................. 6
1.1. Khái niệm và ý nghĩa của Bảo hiểm xã hội ........................................... 6
1.1.1. Khái niệm, phân loại và ý nghĩa của Bảo hiểm xã hội ................... 6
1.1.2. Loại hình bảo hiểm xã hội............................................................... 8
1.1.3. Ý nghĩa của Bảo hiểm xã hội .................................................................. 9
1.2. Các nguyên tắc của Bảo hiểm xã hội ................................................... 11
1.2.1. Mức hưởng bảo hiểm xã hội, thời gian đóng bảo hiểm xã hội ........... 11
1.2.2. Mức đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm
xã hội tự nguyện .......................................................................................... 12
1.2.3. Người lao động vừa có thời gian đóng bảo hiểm bắt buộc vừa có thời
gian đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện được hưởng chế độ hưu trí và chế độ
tử tuất trên cơ sở thời gian đã đóng bảo hiểm xã hội ................................. 13
1.2.4. Quỹ bảo hiểm xã hội được quản lý thống nhất, dân chủ, công khai,
minh bạch, được sử dụng đúng mục đích, được hạch toán độc lập theo các
quỹ thành phần của bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm xã hội tự nguyện
và bảo hiểm thất nghiệp ............................................................................. 14
1.2.5. Việc thực hiện bảo hiệm xã hội phải đơn giản, dễ dàng, thuận tiện,
bảo đảm kịp thời và đầy đủ quyền lợi của người tham gia bảo hiểm xã hội
..................................................................................................................... 15
1.3. Nội dung pháp luật về Bảo hiểm xã hội............................................... 15
1.3.1. Đối tượng tham gia Bảo hiểm xã hội ............................................ 15
1.3.2. Quỹ Bảo hiểm xã hội..................................................................... 17
................................................................................................................. 64
3.2. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực
thiện pháp luật về Bảo hiểm xã hội ở huyện Bình Lục ............................... 73
3.2.1. Hoàn thiện pháp luật về Bảo hiểm xã hội ..................................... 73
3.2.2. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật Bảo
hiểm xã hội trên địa bàn huyện Bình Lục ............................................... 78
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 .............................................................................. 83
KẾT LUẬN ..................................................................................................... 84
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................ 85
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Viết tắt
Viết đầy đủ
BHXH
Bảo hiểm xã hội
NLĐ
Người lao động
NSDLĐ
Người sử dụng lao động
TNLĐ, BNN
đối với người cao tuổi”, Tạp chí Lý luận chính trị, (12);
- Bùi Sỹ Lợi (2015), “Tính ưu việt của Luật BHXH, Luật Bảo hiểm y tế thách thức trong triển khai và giải pháp bảo đảm an sinh xã hội (ASXH)”, Tạp chí
Cộng sản, (7);
- TS. Nguyễn Hiền Phương (chủ biên, 2015), “Bình luận khoa học một số
quy định của luật BHXH năm 2014”, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường,
Trường Đại học Luật Hà Nội.
Những bài viết này tuy đã đề cập đến một số chế độ của BHXH bắt buộc
của Luật BHXH năm 2014 như chế độ BHXH thai sản, chế độ BHXH hưu trí song
chủ yếu mới dừng lại ở việc đề cập các điểm mới hoặc về cách hiểu, cách áp dụng
các quy định của luật BHXH... chứ chưa có sự đánh giá một cánh toàn diện đầy đủ
các chế độ BHXH cũng như thực tiễn thực hiện. Đặc biệt, chưa có công trình nào
nghiên cứu riêng về việc thực hiện chế độ BHXH bắt buộc ở huyện Bình Lục, tỉnh
Hà Nam.
Chính vì vậy, đây chính là công trình khoa học đầu tiên nghiên cứu về
BHXH và thực tiễn áp dụng trên địa bàn huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam.
3
3. Mục tiêu, đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu
3.1. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu của luận văn là nghiên cứu những vấn đề lý luận về BHXH, thực
trạng pháp luật Việt Nam hiện hành về BHXH và thực tiễn thực hiện các quy định
của pháp luật về BHXH tại huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam từ đó đề xuất những giải
pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về BHXH bắt buộc
trong giai đoạn hiện nay ở Bình Lục.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là Luật BHXH năm 2014 về BHXH và
các văn bản hướng dẫn thi hành. Bên cạnh đó, luận văn cũng nghiên cứu pháp luật
về BHXH của một số nước là sơ sở cho sự so sánh với pháp luật Việt Nam.
3.3. Phạm vi nghiên cứu
Lục, tỉnh Hà Nam và một số kiến nghị.
5
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI VÀ PHÁP LUẬT
VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI
1.1. Khái niệm và ý nghĩa của Bảo hiểm xã hội
1.1.1. Khái niệm, phân loại và ý nghĩa của Bảo hiểm xã hội
Lịch sử hình thành và phát triển pháp luật BHXH trên thế giới cho thấy,
BHXH là vấn đề của mỗi quốc gia, nó đã xuất hiện từ rất lâu mà mầm mống của nó
từ thế kỉ XIII ở Nam Âu khi nền công nghiệp và kinh tế hàng hoá đã bắt đầu phát
triển. Tuy nhiên ban đầu BHXH chỉ mang tính chất sơ khai, với phạm vi nhỏ hẹp.
Từ thế kỉ XIII đến thế kỉ XVI một số nghiệp đoàn thợ thủ công ra đời và để bảo vệ
lẫn nhau trong hoạt động nghề nghiệp họ đã thành lập nên các quỹ tương trợ để giúp
đỡ lẫn nhau.
Cộng hòa liên bang Đức là nước đầu tiên thiết lập BHXH và BHXH lúc đó
hoàn toàn mang tính chất bắt buộc. Tuy nhiên, sự phát triển của BHXH được thiết
lập từng bước. Từ năm 1881 đến 1889, các chế độ BHXH bắt buộc lần lượt ra đời:
chế độ bảo hiểm xã hội ốm đau được thiết lập năm 1883, chế độ bảo hiểm tai nạn
lao động năm 1884 và chế độ bảo hiểm tuổi già năm 1889. Vào cuối thế kỷ XIX, ở
Đức chỉ có 10% dân số tham gia BHXH bắt buộc. Tuy nhiên đến thế kỷ XX, đặc
biệt là từ năm 1950 BHXH bắt buộc phát triển đến mức số người tham gia chiếm
hơn 90% dân số.
Bảo hiểm xã hội đã trở thành một trong những quyền của con người và được
xã hội thừa nhận. Tuyên ngôn nhân quyền của Liên Hợp Quốc (10/12/1948) đã ghi
nhận: “Tất cả mọi người với tư cách là thành viên của xã hội có quyền hưởng
BHXH”. Ngày 04/6/1952, Tổ chức lao động quốc tế (ILO) đã kí công ước Giơnevơ
về “Bảo hiểm xã hội cho người lao động” đã khẳng định tất yếu các nước phải tiến
Như vậy, đã có rất nhiều quan điểm khi đưa ra khái niệm Bảo hiểm xã hội
song có một điểm chung là Bảo hiểm xã hội có tác dụng giúp người lao động trong
những lúc khó khăn hiểm nghèo, ốm đau, tai nạn, thai sản... trên cơ sở đóng góp của
người lao động, người sử dụng lao động có sự hỗ trợ của Nhà nước trước khi có
biến cố xảy ra và khi người lao động gặp phải thì quỹ Bảo hiểm xã hội sẽ giúp họ
cân bằng phần thu nhập bị giảm sút hay bị mất, giúp họ trang trải phần chi tiêu bị
tăng cao khi gặp các rủi ro khó khăn.
7
Dưới góc độ kinh tế: Bảo hiểm xã hội là phạm trù kinh tế tổng hợp, là sự bảo
đảm thu nhập nhằm đảm bảo cuộc sống cho người lao động khi bị giảm hoặc mất
khả năng lao động.
Dưới góc độ pháp lý: Chế độ Bảo hiểm xã hội là tổng hợp những quy định
của Nhà nước, quy định các hình thức đảm bảo điều kiện vật chất và tinh thần cho
người lao động và trong một số trường hợp là thành viên gia đình họ khi bị giảm
hoặc mất khả năng lao động.
Theo khoản 1 Điều 3 Luật BHXH năm 2014 thì BHXH được hiểu là: “Sự
bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của NLĐ khi họ bị giảm hoặc mất
thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao động
hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội”. Như vậy, về bản chất BHXH
chính là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người lao động
trong trường hợp họ gặp rủi ro trong quá trình lao động như ốm đau, thai sản, tai
nạn lao động hoặc khi họ không còn tham gia quan hệ lao động nữa như hết tuổi lao
động, chết…BHXH thường được thực hiện dưới 2 hình thức: BHXH bắt buộc và
BHXH tự nguyện trong đó BHXH bắt buộc là hình thức BHXH quan trọng được áp
dụng với phạm vi đối tượng tương đối rộng và các chế độ BHXH bao gồm cả
BHXH ngắn hạn và BHXH dài hạn
1.1.2. Loại hình bảo hiểm xã hội
Loại hình bảo hiểm xã hội bao gồm: Bảo hiểm xã hội bắt buộc và bảo hiểm
hết các nước trên thế giới. Trình độ phát triển của BHXH được quyết định bởi mức
độ phát triển của nền kinh tế, nền kinh tế càng phát triển thì mức độ hoàn thiện của
BHXH ngày càng cao và với những đặc trưng riêng có của mình BHXH đã có ý
nghĩa thiết thực đối với sự phát triển kinh tế xã hội như sau:
* Đối với người lao động
Trong giai đoạn hiện nay khi đất nước đang ngày càng hoàn thiện quá trình
công nghiệp hoá - hiện đại hoá thì những "rủi ro" như ốm đau, tai nạn lao động bệnh nghề nghiệp, thai sản, mất việc làm…lại diễn ra một cách thường xuyên và
ngày càng phổ biến hơn, phức tạp hơn. Khi những rủi ro này xảy ra sẽ gây khó khăn
cho NLĐ về cả vật chất lẫn tinh thần, ảnh hưởng không tốt cho cả cộng đồng.
9
Với tư cách là một trong những chính sách kinh tế xã hội của Nhà nước,
BHXH sẽ góp phần trợ giúp cho cá nhân NLĐ gặp phải rủi ro, bất hạnh bằng cách
tạo ra cho họ những thu nhập thay thế, những điều kiện lao động thuận lợi…Đó
không chỉ là nguồn hỗ trợ vật chất mà còn là nguồn động viên tinh thần to lớn, giúp
họ ổn định cuộc sống, yên tâm công tác, tạo cho họ một niềm tin vào tương lai. Từ
đó góp phần quan trọng vào việc tăng năng suất lao động cũng như chất lượng công
việc cho cơ quan, xí nghiệp nói riêng và cho toàn xã hội nói chung. Bên cạnh đó,
nhờ có BHXH, cuộc sống của những thành viên trong gia đình NLĐ đặc biệt là trẻ
em và người già cũng được đảm bảo tốt hơn.
* Đối với người sử dụng lao động
Bảo hiểm xã hội giúp cho các tổ chức sử dụng lao động nói chung hay các
doanh nghiệp nói riêng ổn định hoạt động, ổn định sản xuất kinh doanh thông qua
việc phân phối các chi phí cho NLĐ một cách hợp lý. Nếu không có BHXH, các tổ
chức sử dụng lao động trả tiền bảo hiểm cùng với tiền lương hàng tháng để NLĐ tự
lo thì nguồn tiền này có thể bị sử dụng vào những nhu cầu, những mục đích khác và
không phải bao giờ cũng hiệu quả. Đến khi NLĐ gặp phải những rủi ro như ốm đau,
tai nạn không có nguồn thu nhập, chi phí thuốc men...đời sống của họ bị ảnh hưởng
thì quan hệ lao động, chất lượng lao động sẽ bị ảnh hưởng. Qua việc phân phối chi
nhiều trường hợp rủi ro trên cơ sở phát triển các chế độ BHXH.
Bảo hiểm xã hội góp phần thực hiện công bằng xã hội, giảm khoảng cách
chênh lệch giàu nghèo. Bên cạnh đó, hoạt động BHXH cũng góp phần vào việc
huy động vốn đầu tư, làm cho thị trường tài chính phong phú và kinh tế xã hội
phát triển.
Như vậy, BHXH là một trong những chính sách xã hội quan trọng không thể
thiếu của mỗi quốc gia nhằm ổn định đời sống kinh tế - xã hội, là tiền đề thúc đẩy
kinh tế tăng trưởng bền vững và góp phần làm vững chắc thể chế chính trị.
1.2. Các nguyên tắc của Bảo hiểm xã hội
1.2.1. Mức hưởng bảo hiểm xã hội, thời gian đóng bảo hiểm xã hội
Bảo hiểm xã hội là một trong những hình thức phân phối tổng sản phẩm
quốc dân nên việc thực hiện bảo hiểm xã hội phải dựa trên cơ sở sự kết hợp hài hòa
giữa cống hiến và hưởng thụ. Nghĩa là phải đảm bảo hợp lý giữa đóng góp và
11
hưởng thụ, tức là phải căn cứ vào mức đóng góp của người lao động cho xã hội thể
hiện thông qua mức đóng, thời gian đóng góp cho quỹ bảo hiểm xã hội… để từ đó
quy định mức trợ cấp và độ dài thời gian hưởng trợ cấp phù hợp với sự đóng góp
cho xã hội của người lao động. Vì vậy, rất khó chấp nhận về mặt kinh tế khi một
người lao động vừa tham gia bảo hiểm xã hội trong thời gian ngắn lại được hưởng
ngay mức bảo hiểm xã hội cao - ví dụ: chế độ thai sản (ít nhất 4 tháng hưởng bảo
hiểm xã hội bằng 100% tiền lương) hoặc hưởng chế độ ốm đau suốt đời nếu mắc
bệnh cần điều trị dài ngày, khi người lao động có thể mới tham gia bảo hiểm xã hội
trong thời gian ngắn.
Tuy nhiên, khi xem xét nguyên tắc này cần đặt chúng trong mối quan hệ phù
hợp với các nguyên tắc khác của bảo hiểm xã hội. Bởi vì, bảo hiểm xã hội, bên cạnh
nội dung kinh tế còn chứa đựng trong mình nội dung xã hội và một trong những biểu
hiện của nó là nguyên tắc "chia sẻ rủi ro", "lấy số đông bù số ít ". Do đó, người lao
động đóng góp vào quỹ bảo hiểm xã hội không có nghĩa chắc chắn sẽ hưởng mọi chế
tính trên cơ sở tiền công, tiền lương của người lao động; mức đóng bảo hiểm xã hội
tự nguyện do người lao động lựa chọn tính trên cơ sở mức thu nhập của họ nhưng
không thấp hơn mức lương tối thiểu chung.
Mặt khác, mức thu nhập được bảo hiểm còn là công cụ để Nhà nước giám
sát, kiểm tra, điều tiết trên giác độ quản lý vĩ mô đối với bảo hiểm xã hội và quản lý
lao động trong nền kinh tế quốc dân.
1.2.3. Người lao động vừa có thời gian đóng bảo hiểm bắt buộc vừa có thời gian
đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện được hưởng chế độ hưu trí và chế độ tử tuất
trên cơ sở thời gian đã đóng bảo hiểm xã hội
Theo quy định của pháp luật về hình thức bảo hiểm xã hội gồm có bảo hiểm
xã hội bắt buộc, bảo hiểm xã hội tự nguyện.
Trên cơ sở quy định hiện hành có thể thấy về lý thuyết số đối tượng tham gia
bảo hiểm xã hội tự nguyện nhiều hơn số đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt
buộc. Tuy nhiên, thực tế hiện nay ở nước ta số đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội
bắt buộc là chủ yếu và họ được hưởng nhiều chế độ bảo hiểm xã hội hơn so với đối
tượng bảo hiểm xã hội tự nguyện (cụ thể: Người tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc
được hưởng 5 chế độ bảo hiểm xã hội: Chế độ ốm đau; chế độ thai sản; chế độ tai
13
nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; chế độ hưu trí; chế độ tử tuất. Còn chế độ bảo
hiểm xã hội tự nguyện chỉ gồm 2 chế độ: Chế độ hưu trí; chế độ tử tuất). Tuy nhiên,
về phương diện pháp lý việc tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc hay bảo hiểm xã hội
tự nguyện đều tạo nên các quyền lợi về bảo hiểm xã hội có giá trị như nhau và trong
thực tế tùy theo tính chất và đặc điểm của quan hệ lao động mà người lao động có
thể có những thời gian tham gia bảo hiểm xã hội theo các loại hình khác nhau (bảo
hiểm xã hội bắt buộc,bảo hiểm xã hội tự nguyện). Vì thế, để đảm bảo quyền lợi
người lao động và tính liên thông trong quan hệ bảo hiểm xã hội thì người lao động
vừa có thời gian đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc vừa có thời gian đóng bảo hiểm xã
hội tự nguyện được hưởng chế độ bảo hiểm xã hội (hưu chí, tử tuất) theo quy định
1.2.5. Việc thực hiện bảo hiệm xã hội phải đơn giản, dễ dàng, thuận tiện, bảo
đảm kịp thời và đầy đủ quyền lợi của người tham gia bảo hiểm xã hội
Người tham gia bảo hiểm xã hội khi đóng phí bảo hiểm xã hội là nhằm dự
trữ trước một khoản tài chính, nhằm đề phòng những trường hợp rủi ro xảy ra hoặc
có liên quan đến hoạt động lao động (tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp) hoặc
những loại được coi là "rủi ro xã hội" (ốm đau, thai sản, tuổi già, chết). Khi gặp
những rủi ro này, chi phí trong cuộc sống của người lao động và gia đình họ không
những tăng lên chẳng hạn chi phí chăm sóc, chữa trị khi bị ốm, nuôi dưỡng sản phụ,
con nhỏ… mà thu nhập còn bị giảm vì không đi làm được. Trong trường hợp này
các khoản tiền bảo hiểm xã hội giữ vai trò cần thiết và quan trọng góp phần bù đắp
vào sự thiếu hụt thu nhập của người lao động và gia đình họ nhằm ổn định cuộc
sống, khắc phục những khó khăn, hỗ trợ, giúp đỡ họ vượt qua những rủi ro tạm thời
cũng như lâu dài. Chính vì vậy, việc thực hiện bảo hiểm xã hội phải đảm bảo đơn
giản, dễ dàng, thuận tiện, kịp thời (đặc biệt về thủ tục hành chính) và đầy đủ quyền
lợi của người tham gia bảo hiểm xã hội.
1.3. Nội dung pháp luật về Bảo hiểm xã hội
Tùy thuộc vào điều kiện kinh tế xã hội mà các quốc gia có những quy định
khác nhau về BHXH. Song nhìn chung về nội dung pháp luật BHXH của hầu hết
các quốc gia thường quy định về các nội dung như đối tượng tham gia, quỹ BHXH
và các chế độ BHXH.
1.3.1. Đối tượng tham gia Bảo hiểm xã hội
Đối tượng tham của BHXH là NLĐ và NSDLĐ. Họ là những người trực tiếp
tham gia đóng góp tạo nên quỹ BHXH với một khoản % nhất định so với tiền lương
15
của NLĐ theo quy định của luật BHXH. Tuỳ theo điều kiện phát triển kinh tế - xã
hội của mỗi nước mà đối tượng này có thể là tất cả hoặc một bộ phận những NLĐ
nào đó trong xã hội. Trong thời kì đầu khi triển khai BHXH ở hầu hết các nước chỉ
áp dụng đối với những người làm công ăn lương để đảm bảo mức đóng góp ổn