ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN PHƢƠNG THẢO
THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI
QUA THỰC TIỄN QUẬN BẮC TỪ LIÊM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI – 2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN PHƢƠNG THẢO
THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI
QUA THỰC TIỄN QUẬN BẮC TỪ LIÊM
Chuyên ngành : Lý luận và lịch sử Nhà nước và pháp luật
Mã số : 60 38 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS NGUYỄN HOÀNG ANH
HÀ NỘI – 2015
LỜI CAM ĐOAN
1.2.3. Đặc điểm của thực hiện pháp luật về bảo hiểm xã hội ........................... 19
1.2.4. Các hình thức thực hiện pháp luật về BHXH ........................................... 22
1.2.5. Các nội dung thực hiện pháp luật về BHXH ............................................. 26
1.3. Các yếu tố tác động và các điều kiện bảo đảm thực hiện pháp luật
BHXH ............................................................................................................. 30
1.3.1. Sự hoàn thiện của hệ thống pháp luật về bảo hiểm xã hội ................... 31
1.3.2. Ý thức pháp luật và trách nhiệm của các chủ thể tham gia quan hệ
pháp luật về bảo hiểm xã hội ...................................................................................... 32
1.3.3. Năng lực tổ chức thực hiện pháp luật về bảo hiểm xã hội của các cơ
quan quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội, hệ thống bảo hiểm xã hội Việt
Nam và đội ngũ công chức, viên chức ngành bảo hiểm xã hội ....................... 33
1.3.4. Hội nhập quốc tế .................................................................................................... 34
CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT BẢO HIỂM
XÃ HỘI TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN BẮC TỪ LIÊM ................................... 36
2.1. Giới thiệu chung về BHXH quận Bắc Từ Liêm và các yếu tố ảnh
hƣởng đến thực hiện pháp luật về BHXH trên địa bàn quận................... 36
2.1.1. Quá trình hình thành BHXH Quận Bắc Từ Liêm ................................... 36
2.1.2. Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của BHXH Quận Bắc Từ Liêm ........ 39
2.1.3. Cơ cấu tổ chức BHXH Quận Bắc Từ Liêm ............................................... 40
2.2. Thực trạng thực hiện pháp luật về BHXH trên địa bàn quận Bắc Từ Liêm
......................................................................................................................... 44
2.2.1 Công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật ................................. 44
2.2.2 Công tác quản lý và mở rộng đối tượng tham gia BHXH ...................... 45
2.2.3. Về công tác thu và quản lý quỹ BHXH........................................................ 51
2.2.4. Công tác giải quyết các chế độ BHXH ................................................ 52
2.2.5 Một số ưu điểm, hạn chế trong thực hiện pháp luật về BHXH
............................................................................................................................................. 66
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................... 111
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BHTN
: Bảo hiểm thất nghiệp
BHXH
: Bảo hiểm xã hội
BHYT
: Bảo hiểm y tế
ĐVSDLĐ
: Đơn vị sử dụng lao động
NLĐ
: Người lao động
NSDLĐ
: Người sử dụng lao động
DANH MỤC CÁC HÌNH
Số hiệu
Tên
Hình 2.1:
Số đơn vị tham gia BHXH bắt buộc trên địa bàn
Quận Bắc Từ Liêm giai đoa 2010-2014
Hình 2.2:
Số người tham gia BHXH bắt buộc trên địa bàn
Quận Bắc Từ Liêm giai đoa 2010-2014
Hình 2.3:
Số thu quỹ BHXH bắt buộc trên địa bàn
Quận Bắc Từ Liêm giai đoạn 2010-2014
Hình 2.4:
Trang
47
47
48
Đối tượng hưởng lương hưu và trợ cấp BHXH hàng
Song để pháp luật BHXH có thể phát huy được vai trò và ý nghĩa của nó, thì
việc thực hiện pháp luật về BHXH là khâu quan trọng, không thể thiếu trong
giai đoạn kinh tế thế giới đang khủng hoảng như hiện nay.
1
Thực hiện pháp luật từ lâu đã coi là một hiện tượng xã hội mang tính
pháp lý và được nhiều nhà luật học nghiên cứu, tìm hiểu. Nhiều vấn đề chung
về thực hiện pháp luật dường như đã được giải quyết như: khái niệm thực
hiện pháp luật, các hình thức thực hiện pháp luật, khái niệm áp dụng pháp luật
và quy trình các bước áp dụng pháp luật... Song thực hiện pháp luật về BHXH
là một trong lĩnh vực cụ thể và mới mẻ. Nó có đặc điểm riêng biệt cần được
định nghĩa, bổ sung, cụ thể hóa lý luận chung để đưa vào thực tiễn thực hiện
pháp luật BHXH được đảm bảo, góp phần vào thực hiện mục tiêu BHXH cho
mọi NLĐ và xây dựng một nền an sinh xã hội vững mạnh, công bằng.
Tuy nhiên, BHXH là một chính sách xã hội phức tạp, lại khá mới mẻ
trong nền kinh tế thị trường mới định hình ở Việt Nam, nên việc thực hiện
pháp luật BHXH không tránh khỏi những hạn chế, tồn tại nhất định trên địa
bàn Thành phố Hà Nội nói chung cũng như trên địa bàn quận Bắc Từ Liêm
nói riêng như: Việc phát triển đối tượng tham gia BHXH, nhất là khu vực dân
doanh còn quá thấp, chưa đáp ứng yêu cầu và tương xứng với tiềm năng của
tỉnh; công tác phối hợp giữa BHXH với các Sở, Ban, Ngành trong việc thực
hiện chính sách BHXH theo quy định của Luật BHXH còn nhiều bất cập; chế
tài xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực BHXH còn quá nhẹ, tính cưỡng
chế của pháp luật chưa nghiêm; mức phạt lãi chậm nộp BHXH thấp so với lãi
suất ngân hàng, nên tình trạng chậm đóng, nợ đọng, tham gia không đầy đủ,
hoặc không tham gia BHXH đang xảy ra; nhận thức của một số chủ sử dụng
lao động (SDLĐ) về chính sách, pháp luật BHXH còn hạn chế, trách nhiệm
xã hội chưa cao, ý thức chấp hành pháp luật thấp, vì lợi nhuận chủ SDLĐ cố
tình trốn tránh trách nhiệm đóng BHXH cho NLĐ, không ký kết hợp đồng lao
Các đề tài nghiên cứu trước đó nghiên cứu đã chỉ ra những khía cạnh khác
nhau về ngành BHXH trong các năm qua, đồng thời dự báo, định hướng phát
triển trong tương lai và có liên quan nhất định tới thực hiện pháp luật quận
3
Bc T Liờm . ti Thc hin phỏp lut v bo him xó hi qua thc tin
ti Qun Bc T Liờm tỏc gi la chn nghiờn cu khụng trựng lp vi cỏc
nghiờn cu trc ú, ng thi xut cỏc gii phỏp v kin ngh ca mỡnh
nhm m bo thc hin phỏp lut BHXH trờn a bn qun Bc T Liờm
gúp phn m bo an sinh v cụng bng xó hi, vỡ mt xó hi cụng bng, dõn
ch v vn minh.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích: Tỡm hiu thc trng thc hin phỏp lut v BHXH Qun
Bc T Liờm, ch ra nhng mt tn ti, yu kộm v nguyờn nhõn, t ú xut
cỏc quan im, gii phỏp phự hp mang tớnh kh thi nhm nõng cao hiu qu
thc hin phỏp lut BHXH trong thi gian ti, phc v tt hn quyn li
BHXH cho NL trong tnh.
- Nhiệm vụ: để thực hiện mục tiêu trên luận văn có nhiệm vụ:
+ Làm rõ lý luận chung về pháp luật BHXH; và thực hiện pháp luật về
BHXH ;
+ Phân tích đánh giá thực trạng thực hiện phỏp lut v BHXH trên địa
bàn Quận, tìm ra những hạn chế, v-ớng mắc và nguyên nhân;
+ Đề ra một số giải pháp để hoàn thiện phỏp lut BHXH trên địa bàn
Quận Bắc Từ Liêm.
4. Đối t-ợng và phạm vi nghiên cứu
a. i tng: Lun vn s tp trung nghiờn cu nhng vn lý lun v
thc tin thc hin phỏp lut v BHXH qua thc tin ti Qun Bc T Liờm
di gúc lý lun chung v nh nc v phỏp lut. Thi gian nghiờn cu gii
hn trong 3 nm t nm 2012 n nm 2014.
nhân của nó để đề xuất một số giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện hệ thng phỏp
lut BHXH tại Quận Bắc Từ Liêm.
5
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
luận văn gồm 3 ch-ơng
Ch-ơng I. C s lý lun v thc hin phỏp lut BHXH
Ch-ơng II. Thực trạng thc hin phỏp lut BHXH trên địa bàn Quận
Bắc Từ Liêm
Ch-ơng III. Ph-ơng h-ớng, gii phỏp bảo m thc hin phỏp lut về
bảo hiểm xã hội trên địa bàn Quận Bắc Từ Liêm
6
Chƣơng I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT
BẢO HIỂM XÃ HỘI
1.1. Khái niệm về BHXH
1.1.1. Khái niệm BHXH
Hệ thống BHXH đầu tiên ra đời trên thế giới vào giữa thế kỷ XIX là công
trình của Chính phủ Đức dưới thời Thủ tướng Bismark (1883-1889) với cơ
chế ba bên (Nhà nước - giới chủ - giới thợ) cùng đóng góp nhằm bảo hiểm
cho NLĐ trong một số trường hợp họ gặp rủi ro. Chế độ BHXH này bao gồm:
Chế độ bảo hiểm ốm đau (1883); bảo hiểm tai nạn nghề nghiệp (1884) và bảo
hiểm tuổi già, tàn tật (1889). Sau đó, trước tác dụng tích cực của BHXH trong
quan hệ lao động nhiều nước bắt đầu áp dụng hệ thống BHXH. Trong những
BHXH đối với viên chức nhà nước và những người làm công ăn lương;
khuyến khích phát triển các hình thức BHXH khác đối với NLĐ”. Trên cơ sở
đó, Chính phủ ban hành Nghị định số 43/CP ngày 22/6/1993 quy định tạm
thời chế độ BHXH. Sau một thời gian thực hiện, trên cơ sở đúc rút kinh
nghiệm và từ yêu cầu của thực tế đời sống, pháp luật BHXH được xây dựng
thành một chương độc lập (chương XII) trong Bộ luật Lao động ngày
23/6/1994 đó tạo ra cơ sở pháp lý cho việc đổi mới, cải cách chế độ BHXH.
Để cụ thể hóa các quy định của Bộ luật Lao động, Chính phủ ban hành Nghị
định số 12/CP ngày 26/01/1995 kèm theo Điều lệ BHXH; Nghị định số 45/CP
ngày 15/7/1995 về việc ban hành Điều lệ BHXH đối với sỹ quan, quân nhân
chuyên nghiệp, hạ sỹ quan, binh sỹ quân đội nhân dân và công an nhân dân và
Nghị định số 19/CP ngày 16/02/1995 về việc thành lập BHXH Việt Nam. Với
sự sửa đổi, bổ sung Bộ luật Lao động (tháng 4/2002) trong đó có các nội dung
về BHXH, Nghị định của Chính phủ số 01/2003/NĐ-CP ngày 09/01/2003 về
việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Điều lệ BHXH ban hành kèm theo Nghị
8
định số 12/CP ngày 26/01/1995 được ban hành. Tiếp đó, trên cơ sở các cam
kết của Chính phủ Việt Nam trong việc gia nhập WTO về chính sách an sinh
xã hội cùng với sự chín muồi về nhận thức, về điều kiện kinh tế - xã hội đất
nước, nhu cầu của đời sống xã hội… ngày 29/6/2006 tại kỳ họp thứ 9, Quốc
hội khóa XI nước ta đó thông qua Luật BHXH và có hiệu lực từ ngày
01/01/2007 (riêng đối với BHXH tự nguyện có hiệu lực từ ngày 01/01/2008;
BHTN có hiệu lực từ ngày 01/01/2009). Như vậy BHXH xuất hiện và phát
triển cùng với quá trình phát triển kinh tế - xã hội của nhân loại. Theo Tổ
chức Lao động Quốc tế (ILO) thì nước Phổ (nay thuộc Cộng hòa liên bang
Đức) là nước đầu tiên trên thế giới ban hành chế độ bảo hiểm ốm đau vào
năm 1883, đánh dấu sự ra đời của BHXH. Đến nay, BHXH trở thành nền tảng
cơ bản của hệ thống ASXH của mỗi quốc gia, được thực hiện ở hầu hết các
quyết các chế độ xã hội liên quan đến một tầng lớp đông đảo người lao động
và bảo vệ sự phát triển kinh tế - xã hội, sự ổn định chính trị quốc gia.
- Dưới góc độ tài chính: BHXH là một quỹ tài chính tập trung, được hình
thành từ sự đóng góp của các bên tham gia và có sự hỗ trợ của Nhà nước.
- Dưới góc độ thu nhập: BHXH là sự đảm bảo thay thế một phần thu
nhập khi người lao động có tham gia BHXH bị mất hoặc giảm thu nhập.
- Dưới góc độ quản lý: BHXH là công cụ quản lý của Nhà nước để điều
chỉnh mối quan hệ kinh tế giữa người lao động, người sử dụng lao động và
Nhà nước; thực hiện quá trình phân phối và phân phối lại thu nhập giữa các
thành viên trong xã hội.
Khái niệm BHXH được khái quát một cách đầy đủ nhất trong Luật
BHXH được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa IX,
kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 29 tháng 6 năm 2006 như sau: "Bảo hiểm xã hội
là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động
khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh
10
nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào
quỹ bảo hiểm xã hội" [29].
Khái niệm BHXH được sử dụng trong toàn bộ nghiên cứu của luận văn
là khái niệm BHXH đã được ghi trong Luật BHXH được Quốc hội nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa IX, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày
29 tháng 6 năm 2006.
1.1.2. Vai trò của BHXH
Từ khi ra đời cho đến nay, BHXH thể hiện rất rõ vai trò của nó trong đời
sống kinh tế - xã hội. Cụ thể:
1.1.2.1. Đối với người lao động
Mục đích chủ yếu của BHXH là bảo đảm thu nhập cho người lao động
và gia đình họ khi gặp những khó khăn trong của họ trong cuộc sống làm
1.1.2.3. Đối với nhà nước và hê ̣ thố ng an sinh xã hội
Với tư cách là một trong những chính sách kinh tế xã hội của Nhà nước,
BHXH sẽ “ bảo hiểm” cho người lao động, hoạt động BHXH sẽ giải quyết
những “ trục trặc”,“ rủi ro” xảy ra đối với những người lao động, góp phần
tích cực của mình vào việc phục hồi năng lực làm việc, khả năng sáng tạo của
sức lao động. Sự góp phần này tác động trực tiếp đến việc nâng cao năng suất
lao động cá nhân, đồng thời góp phần tích cực của mình vào việc nâng cao
năng suất lao động xã hội. Với sự trợ giúp cho người lao động khi họ gặp phải
rủi ro bằng cách tạo ra thu nhập thay thế thì BHXH đã gián tiếp tác động đến
chính sách tiêu dùng quốc gia làm tăng sự tiêu dùng cho xã hội.
BHXH còn là sự phản ánh trình độ phát triển kinh tế xã hội của một
quốc gia. Nếu nền kinh tế chậm phát triển, xã hội lạc hậu, đời sống nhân dân
thấp kém thì chính sách bảo hiểm xã hội cũng chậm phát triển ở mức tương
ứng. Khi kinh tế càng phát triển, đời sống của người lao động được nâng cao
thì nhu cầu tham gia BHXH của họ càng lớn. Thông qua hệ thống bảo hiểm
12
xã hội, trình độ tổ chức, quản lý rủi ro xã hội của các nhà nước cũng ngày
càng được nâng cao thể hiện bằng việc mở rộng đối tượng tham gia, đa dạng
về hình thức bảo hiểm, quản lý được nhiều trường hợp rủi ro trên cơ sở phát
triển các chế độ bảo hiểm xã hội....Ở một phương diện nhất định, bảo hiểm xã
hội còn phản ánh và góp phần nâng cao trình độ văn hóa của cộng đồng.
Hiện nay, khi đã trở thành một cấu phần cơ bản nhất trong hệ thống an
sinh xã hội, bảo hiểm xã hội là cơ sở để phát triển các bộ phận an sinh xã hội
khác. Các nhà nước thường căn cứ vào mức độ bao phủ chính sách bảo hiểm
xã hội để xác định những đối tượng nào còn gặp khó khăn, cần cộng đồng
chia sẻ nhưng chưa được tham gia BHXH để thiết kế những mạng lưới khác
của anh sinh xã hội như trợ cấp, cứu trợ xã hội...Trên cơ sở đó, bảo hiểm xã
mình để hưởng BHXH.[29]
Thực tế cho thấy, giữa BHXH bắt buộc và BHXH tự nguyện vẫn có một
vài điểm khác nhau: Đối tượng tham gia, phương thức đóng, mức đóng và
hưởng giữa hai hình thức tham gia…
Qua đó, cần phân biệt rõ trong công tác quản lý Nhà nước về BHXH bắt
buộc và tự nguyện. Tránh nhầm lẫn khi xem xét các vấn đề liên quan trong
công tác chi trả các chế độ BHXH cho người lao động theo hình thức mà họ
tham gia là bắt buộc hay tự nguyện. Mỗi quốc gia có những điều kiện kinh tế
- xã hội khác nhau, vì thế tùy theo khả năng của quốc gia đó mà triển khai các
chế độ BHXH tự nguyện cho hợp lý, đạt mục tiêu cao nhất là sự an tâm cho
đối tượng tham gia BHXH dù ỏ hình thức bắt buộc hay tự nguyện.
Dù tham gia BHXH bắt buộc hay tự nguyện thì mục tiêu của BHXH vẫn
là: đảm bảo lợi ích của người tham gia bảo hiểm và ổn định cuộc sống cho họ
khi gặp khó khăn. Các quốc gia đang dần tiến tới BHXH cho toàn dân, nhằm
đảm bảo cho xã hội phát triển an toàn và bền vững....
1.2. Khái niệm thực hiện pháp luật và thực hiện pháp luật bảo hiểm xã hội
1.2.1. Khái niệm thực hiện pháp luật
Cho đến nay, có rất nhiều nhà khoa học về luật học đứng trên các bình
diện khác nhau nghiên cứu về thực hiện pháp luật và có nhiều cách luận giải
vấn đề thực hiện pháp luật như sau:
14
Quan điểm thứ nhất: Giáo trình Lý luận chung Nhà nước và Pháp luật
của Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh có viết: “Thực
hiện pháp luật là một hiện tượng xã hội mang tính quản lý. Quá trình hoạt
động thực hiện pháp luật diễn ra đồng thời và tiếp nối quá trình xây dựng và
hoàn thiện pháp luật của Nhà nước” [23, tr.270].
Theo quan điểm trên thì xây dựng pháp luật và thực hiện pháp luật là hai
dạng hoạt động khác nhau nhưng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Xây dựng
lợi ích và mục đích của Nhà nước và xã hội. [1, tr 18 ]
Điều đó chỉ có thể đạt được khi các quy phạm pháp luật do Nhà nước
ban hành được các tổ chức và cá nhân trong xã hội thực hiện một cách chính
xác, đầy đủ.
Theo đó, thực hiện pháp luật là hành vi hợp pháp của các chủ thể pháp
luật. Pháp luật được đặt ra là để điều chỉnh ở dạng hành vi pháp luật của con
người. Hành vi đó có thể là hành vi hành động hoặc không hành động phù
hợp với những quy luật.
Tóm lại, trong tất cả các quan điểm về thực hiện pháp luật nêu trên đều
có những khía cạnh, ý kiến khác nhau về thực hiện pháp luật. Tuy nhiên, tựu
chung lại, các quan điểm về thực hiện pháp luật đều thể hiện nội dung cốt lõi
của vấn đề đó là:
Thực hiện pháp luật là quá trình hoạt động có mục đích làm cho những
quy định của pháp luật trở thành hiện thực trong cuộc sống, tạo ra cơ sở
pháp lý cho hoạt động thực tế của chủ thể pháp luật.
Qua khái niệm về thực hiện pháp luật nêu trên, có thể hiểu rằng các tổ
chức và cá nhân là chủ thể của pháp luật khi gặp phải những tình huống mà
quy phạm pháp luật đã nêu ra ở phần giả định thì các chủ thể phải tự hành
động hoặc không hành động sao cho phù hợp với những quy định của pháp
luật. Hay nói cách khác thực hiện pháp luật là một quá trình hoạt động có mục
đích, có lý trí và có ý chí của các chủ thể pháp luật, làm cho những quy định
của pháp luật đi vào cuộc sống, phù hợp với lợi ích và ý chí của Nhà nước.
16