ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
--------------------------------
CHU THỊ THƠM
Tên đề tài:
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP
TRÊN ĐỊA BÀN XÃ NGỌC LINH, HUYỆN VỊ XUYÊN,
TỈNH HÀ GIANG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo
: Chính quy
Chuyên ngành
: Quản lý đất đai
Khoa
: Quản lý tài nguyên
Lớp
: K45-QLDD-N01
Khóa học
: 2013 – 2017
báo cáo không tránh khỏi thiếu xót. Em rất mong nhận được ý kiến đóng góp của
các thầy cô giáo cùng toàn thể các bạn sinh viên để khóa luận này được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 18 tháng 4 năm 2017
Sinh viên
Chu Thị Thơm
ii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Cơ cấu đất đai theo mục đích sử dụng của Việt Nam 2015 .....................14
Bảng 2.2: Cơ cấu đất đai theo mục đích sử dụng của tỉnh Hà Giang 2015 ..............16
Bảng 4.1. Thống kê dân số, lao động toàn xã ..........................................................26
Bảng 4.2. Kết quả đạt được ngành trồng trọt của xã Ngọc Linh năm 2015 .............29
Bảng 4.3 . Hiện trạng sử dụng đất của xã Ngọc Linh năm 2015 ..............................32
Bảng 4.4. Hiện trạng sử dụng đất sản xuất nông nghiệpcủa xã Ngọc Linh năm 2015
...................................................................................................................................33
Bảng 4.5: Các loại hình sử dụng đất chính của xã Ngọc Linh ..................................34
Bảng 4.6: Hiệu quả kinh tế của các loại cây trồng chính của xã Ngọc Linh ............37
Bảng 4.7: Hiệu quả kinh tế của các kiểu sử dụng đất của xã Ngọc Linh..................38
Bảng 4.8: Phân cấp các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế các kiểu sử dụng đất xã
Ngọc Linh ..................................................................................................................39
Bảng 4.9: Bảng đánh giá hiệu quả kinh tế của các loại hình sử dụng đất của Xã
Ngọc Linh ..................................................................................................................39
Bảng 4.10 Bảng phân cấp các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả xã hội các kiểu sử dụng đất
xã Ngọc Linh .............................................................................................................44
Bảng 4.11: Hiệu quả xã hội của các loại hình sử dụng đất tại xã Ngọc Linh (tính
trung bình cho 1 ha/vụ ) ............................................................................................45
Bảng 4.12: Đánh giá hiệu quả xã hội của các loại hình sử dụng đất (tính trung bình
LĐ
: Lao động
GTSP
: Giá trị sản phẩm
HQSDV
: Hiệu quả sử dụng vốn
LUT
: Loại hình sử dụng đất
TNT
: Thu nhập thuần
UBND
: Ủy ban nhân dân
THCS
: Trung học cơ sở
RRA
3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ......................................................................20
3.1.1. Đối tượng nghiên cứu ..............................................................................20
3.1.2. Phạm vi nghiên cứu .................................................................................20
v
3.2. Địa điểm và thời gian tiến hành .........................................................................20
3.3. Nội dung nghiên cứu ..........................................................................................20
3.3.1. Đánh giá điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội của xã Ngọc Linh, huyện
Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang ...................................................................................20
3.3.2. Hiện trạng và xác định các loại hình sử dụng đất sản xuất nông nghiệp
của xã .................................................................................................................20
3.3.3. Đánh giá hiệu quả và lựa chọn các loại hình sử dụng đất sản xuất nông
nghiệp của xã .....................................................................................................20
3.3.4. Đề xuất loại hình sử dụng đất sản xuất nông nghiệp và giải pháp phát
triển phù hợp cho sản xuất nông nghiệp tại xã Ngọc Linh ................................21
3.4. Phương pháp nghiên cứu....................................................................................21
3.4.1. Phương pháp điều tra số liệu thứ cấp ......................................................21
3.4.2. Phương pháp điều tra số liệu sơ cấp ........................................................21
3.4.3. Phương pháp tính hiệu quả của các loại hình sử dụng đất ......................21
Phần 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN .......................................23
4.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội xã Ngọc Linh ...............................................23
4.1.1. Điều kiện tự nhiên....................................................................................23
4.1.2. Điều kiện kinh tế -xã hội của xã Ngọc Linh, huyện Vị xuyên, tỉnh Hà
Giang ..................................................................................................................25
4.1.3. Đánh giá ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội đến hiệu quả
sử dụng đất của xã Ngọc Linh ...........................................................................30
4.2. Hiện trạng sử dụng đất đai của xã Ngọc Linh, huyện Vị xuyên, tỉnh Hà Giang
...................................................................................................................................32
nghiệp thì vị trí của đất đai lại càng quan trọng và ý nghĩa hơn.
Ngày nay, xã hội phát triển, dân số tăng nhanh kéo theo những đòi hỏi ngày
càng tăng về lương thực và thực phẩm, chỗ ở cũng như các nhu cầu về văn hóa, xã
hội. Con người đã tìm mọi cách để khai thác đất đai nhằm thỏa mãn những nhu cầu
ngày càng tăng đó. Các hoạt động ấy đã làm cho đất sản xuất nông nghiệp vốn có hạn
về diện tích ngày càng bị thu hẹp, đồng thời làm giảm độ màu mỡ và giảm tính bền
vững trong sử dụng đất.
Việc đánh giá hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp có hiệu quả, hợp lý
theo quan điểm sinh thái và phát triển bền vững đang trở thành vấn đề mang tính chất
toàn cầu đang được các nhà khoa học trên thế giới quan tâm. Đối với một nước có
nền kinh tế nông nghiệp là chủ yếu như ở Việt Nam, nghiên cứu, đánh giá hiệu quả
sử dụng đất sản xuất nông nghiệp càng trở nên cần thiết hơn bao giờ hết.
Xã Ngọc Linh là xã khó khăn, nằm ở phía đông của huyện Vị Xuyên, có
đường ranh giới tiếp giáp 5 xã và 2 thị trấn, Ngọc Linh là xã vùng thấp của tỉnh Hà
Giang, với tổng diện tích tự nhiên của xã là: 4566 ha, bao gồm 16 thôn. Trong những
năm qua Đảng bộ và nhân dân các dân tộc xã Ngọc Linh đã phát huy truyền thống
quê hương, những tiềm năng lợi thế của địa phương, nỗ lực phấn đấu, tích cực, thi
đua lao động sản xuất, tạo sự chuyển biến rõ rệt trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội, an
ninh - quốc phòng. Tuy nhiên việc sử dụng đất của xã trong những năm qua cho thấy
còn nhiều hạn chế: chưa khoanh định được diện tích đất trồng lúa cần bảo vệ, đối với
đất lâm nghiệp chưa thực hiện nghiêm ngặt các quy định về bảo vệ rừng phòng hộ,
2
rừng đặc dụng, việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi theo hướng sản xuất hàng
hóa còn chậm, phát triển nuôi trồng thủy sản và các hoạt động dịch vụ, du lịch trên
địa bàn chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế của địa phương. Bên cạnh đó diện
tích đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp do phải chuyển mục đích sang các loại đất
khác, việc bù đắp lại diện tích đất nông nghiệp bị mất là vô cùng khó khăn.
học đất cho rằng: Đất như là một thực thể tự nhiên có nguồn gốc và lịch sử phát triển
riêng, là thực thể với những quá trình phức tạp và đa dạng diễn ra trong nó. Đất được
coi là khác biệt với đá. Đá trở thành đất dưới ảnh hưởng của một loạt các yếu tố tạo
thành đất như: khí hậu, cây cỏ, khu vực, địa hình và tuổi. Theo ông, đất có thể được
gọi là các tầng trên nhất của đá không phụ thuộc vào dạng chúng bị thay đổi một cách
tự nhiên bởi các tác động phổ biến của nước, không khí và một loạt các dạng hình của
các sinh vật sống hay chết (Nguồn Krasil’nikov, N.A, 1958) [1].
- Theo Các Mác, “đất là tư liệu sản xuất cơ bản và phổ biến quý báu nhất của
sản xuất nông nghiệp, là điều kiện không thể thiếu được của sự tồn tại và tái sinh
của hàng loạt thế hệ loài người kế tiếp nhau” (Các Mác, 1949) [2].
- Các nhà kinh tế, thổ nhưỡng và quy hoạch của Việt Nam lại cho rằng “đất
đai là phần trên mặt vỏ Trái Đất mà ở đó cây cối có thể mọc được ”.
Như vậy đã có rất nhiều định nghĩa và khái niệm khác nhau về đất nhưng
khái niệm chung nhất có thể hiểu là: Đất là một vật thể tự nhiên mà từ nó đã cung
cấp các sản phẩm thực vật để nuôi sống động vật và con người. Sự phát triển của
loài người gắn liền với sự phát triển của đất (Nguyễn Ngọc Nông, Nông Thu
Huyền, 2012) [8].
2.1.1.2. Khái niệm đất nông nghiệp
Đất nông nghiệp được định nghĩa là đất sử dụng vào mục đích sản xuất,
nghiên cứu, thí nghiệm về nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối
và mục đích bảo vệ, phát triển rừng. Đất nông nghiệp bao gồm đất sản xuất nông
4
nghiệp, đất lâm nghiệp, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối và đất nông nghiệp
khác (Luật Đất đai, 2013) [9].
2.1.1.3. Khái niệm đất sản xuất nông nghiệp
Đất sản xuất nông nghiệp là đất dùng cho các hoạt động sản xuất nông nghiệp
như: đất trồng cây hàng năm (đất trồng lúa, đất đồng cỏ dùng vào chăn nuôi và đất trồng
- Việc xác định hiệu quả là hết sức khó khăn và phức tạp mà nhiều vấn đề lý
luận cũng như thực tiễn chưa giải đáp hết được.
- Việc nâng cao hiệu quả không chỉ là nhiệm vụ của mỗi doanh nghiệp, mỗi
người sản xuất mà là của mọi ngành, mọi vùng. (Đào Châu Thu, 1999) [11].
2.1.3.2. Hiệu quả sử dụng đất
Hiệu quả sử dụng đất chính là kết quả của việc sử dụng đất mà người sản
xuất mong đợi. Do tính chất mâu thuẫn giữa nguồn tài nguyên hữu hạn với nhu cầu
ngày càng cao của con người mà chúng ta cần xem xét đến các phương thức canh
tác hay tập quán canh tác tạo ra kết quả như thế nào. Phương thức hay tập quán đó
vừa đem lại lợi nhuận cao, vừa có khả năng cải tạo vào bảo vệ môi trường thì sẽ
được ưu tiên đưa vào áp dụng rộng rãi, mặt khác những loại hiệu quả cho lợi nhuận
cao, nhưng có ảnh hưởng không tốt đến môi trường, xã hội thì sẽ phải hạn chế áp
dụng. Chính vì thế khi đánh giá hoạt động sản xuất không dừng lại ở việc đánh giá
kết quả mà còn phải đánh giá chất lượng của các hoạt động sản xuất đó.
Đánh giá chất lượng trong hoạt động sản xuất kinh doanh là nội dung của
đánh giá hiệu quả. Trên phạm vi toàn xã hội, các chi phí bỏ ra để thu được kết quả
phải là chi phí lao động xã hội. Vì thế bản chất của hiệu quả chính là lao động xã
hội và được xác định bằng tương quan so sánh giữa kết quả hữu ích thu được với
lượng hao phí lao động xã hội. Tiêu chuẩn sử dụng đất chính là sự tối đa hóa kết
quả và tối thiểu hóa chi phí trong điều kiện tài nguyên thiên nhiên hữu hạn.
Sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả cao thông qua việc bố trí cơ cấu cây trồng,
vật nuôi là một trong những vấn đề bức xúc hiện nay của hầu hết các nước trên thế
giới. Nó không chỉ thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học, các nhà hoạch định
chính sách, các nhà kinh doanh nông nghiệp mà còn là sự mong muốn của nông dân,
những người trực tiếp tham gia vào sản xuất nông nghiệp (Đào Châu Thu, 1999) [11].
Bản chất của hiệu quả sử dụng đất chính là sự đáp ứng được nhu cầu của xã
hội, bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và nguồn lực để phát triển một cách lâu dài.
6
Tính, 1995) [12].
7
Hiện nay việc đánh giá hiệu quả xã hội các loại hình sử dụng đất nông
nghiệp đang là vấn đề được nhiều nhà khoa học quan tâm.
* Hiệu quả môi trường
Môi trường là một vấn đề mang tính toàn cầu, hiệu quả môi trường được các
nhà môi trường học rất quan tâm trong điều kiện hiện nay. Một hoạt động sản xuất
được coi là có hiệu quả khi hoạt động đó không gây tổn hại hay có những tác động
xấu đến môi trường như đất, nước, không khí và hệ sinh học, là hoạt động đạt được
khi quá trình sản xuất kinh doanh diễn ra không làm cho môi trường xấu đi mà
ngược lại, quá trình sản xuất đó làm cho môi trường tốt hơn, mang lại một môi
trường xanh, sạch, đẹp hơn trước (Đỗ Nguyên Hải, 1999) [6].
Hiệu quả môi trường là xem xét sự phản ứng của môi trường đối với hoạt động
sản xuất.Từ các hoạt động sản xuất, đặt biệt là sản xuất nông nghiệp đều ảnh hưởng
không nhỏ đến môi trường.Ảnh hưởng của hoạt động sản xuất nông nghiệp đến môi
trường có thể là tích cực hoặc tiêu cực.Thông thường hiệu quả kinh tế với hiệu quả môi
trường là đối lập nhau. Chính vì thế khi xem xét hiệu quả xã hội phải đảm bảo tính cân
bằng với phát triển kinh tế, nếu không sẽ có những kết luận thiếu tích cực.
Xét về khía cạnh môi trường thì đó là việc đảm bảo chất lượng đất không bị
thoái hóa, bạc màu và nhiễm các chất hóa học trong canh tác. Bên cạnh đó còn có các
yếu tố khác như độ che phủ, hệ số sử dụng đất, mối quan hệ giữa các hệ số phụ trợ
trong sản xuất nông nghiệp như chế độ thủy văn, bảo quản chế biến, tiêu thụ hàng hóa.
Sử dụng đất hợp lý, hiệu quả cao và bền vững phải quan tâm tới cả ba hiệu
quả trên. Trong đó hiệu quả kinh tế là trọng tâm, không có hiệu quả kinh tế thì
không có điều kiện nguồn lực để thực thi hiệu quả xã hội và môi trường, ngược lại
không có hiệu quả xã hội và môi trường thì hiệu quả kinh tế sẽ không bền vững
(Nguyễn Duy Tính, 1995) [12].
và tiêu dùng, điều này giúp cho người sản xuất tiêu thụ được sản phẩm, quay vòng
được vốn từ đó có điều kiện đầu tư tái sản xuất.
- Trình độ kiến thức, khả năng và tập quán sản xuất của chủ sử dụng đất thể
hiện ở khả năng tiếp thu khoa học kỹ thuật, trình độ sản xuất, khả năng về vốn lao
động, cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ sản xuất, kinh nghiệm truyền thống trong sản
xuất và cách xử lý thông tin để ra quyết định trong sản xuất.
- Hệ thống chính sách: chính sách đất đai, chính sách điều chỉnh cơ cấu kinh
tế nông nghiệp nông thôn, chính sách đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ sản
9
xuất, chính sách khuyến nông, chính sách xoá đói giảm nghèo. Các chính sách này
đã có những tác động rất lớn đến vấn đề sử dụng đất, phát triển và hình thành các
loại hình sử dụng đất mới. (Nguyễn Ngọc Nông, Nông Thị Thu Huyền, 2012) [8].
2.1.3.4. Lựa chọn các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
- Cơ sở để lựa chọn hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp:
+ Mục tiêu và phạm vi nghiên cứu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp.
+ Nhu cầu của địa phương về phát triển hoặc thay đổi loại hình sử dụng đất
nông nghiệp.
+ Các khả năng về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và các tiến bộ kỹ thuật
mới được đề xuất cho các thay đổi sử dụng đất.
- Nguyên tắc khi lựa chọn các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp:
+ Hệ thống chỉ tiêu phải có tính thống nhất, tính toàn diện và tính hệ thống.
Các chỉ tiêu phải có mối quan hệ hữu cơ với nhau, phải đảm bảo tính so sánh có
thang bậc.
+ Các chỉ tiêu phải phù hợp với đặc điểm và trình độ phát triển nông nghiệp
ở nước ta.
+ Hệ thống chỉ tiêu phải đảm bảo tính khoa học, tính thực tiễn và phải có tác
dụng kích thích sản xuất phát triển. (Đào Châu Thu, 1999) [11].
GTGT/CPTG): đây là chỉ tiêu tương đối của hiệu quả, nó chỉ ra hiệu quả sử dụng
các chi phí biến đổi và thu dịch vụ.
- Hiệu quả kinh tế trên ngày công lao động quy đổi, gồm có (GTSX/LĐ,
GTGT/LĐ). Thực chất là đánh giá kết quả đầu tư lao động sống cho từng kiểu
sử dụng đất và từng cây trồng làm cơ sở để so sánh với chi phí cơ hội của
người lao động. (Đào Châu Thu, 1999) [11].
Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả xã hội
Đánh giá hiệu quả xã hội là chỉ tiêu khó định lượng, trong phạm vi nghiên
cứu của luận văn này, do thời gian có hạn tôi chỉ đề cập đến một số chỉ tiêu sau:
- Hiệu quả giải quyết việc làm;
- Đảm bảo an toàn lương thực, gia tăng lợi ích của người nông dân;
- Mức độ chấp nhận của người dân thể hiện ở mức độ đầu tư, khả năng chuyển
đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi của nông hộ;
- Khả năng phát triển về sản xuất và tiêu thụ hàng hoá.
Để đánh giá các chỉ tiêu này chúng tôi sử dụng phương pháp đánh giá có sự
tham gia của người dân địa phương để đưa ra hiệu quả xã hội của từng loại hình sử
dụng đất. (Đào Châu Thu, 1999) [11].
11
Các chỉ tiêu về hiệu quả môi trường
Chỉ tiêu đánh giá chất lượng môi trường trong quản lý sử dụng đất bền vững
ở vùng nông nghiệp được tính là (Đỗ Nguyên Hải 1999) [6]:
+ Quản lý đối với đất đai rừng đầu nguồn;
+ Đánh giá các tài nguyên nước bền vững;
+ Đánh giá quản lý đất đai;
+ Đánh giá hệ thống cây trồng;
+ Đánh giá về tính bền vững đối với việc duy trì độ phì nhiêu của đất và bảo
vệ cây trồng;
Thái Lan là diện tích đất canh tác trên đầu người khá nhất và Việt Nam là quốc gia
đứng vào hàng thấp nhất trong số các quốc gia ASEAN. (Phạm Tiến Dũng, 2009) [5].
Việc nghiên cứu về sản xuất nông nghiệp hiện nay là vấn đề quan trọng, thu
hút được nhiều nhà khoa học trên thế giới quan tâm. Các nhà khoa học đã đi sâu
nghiên cứu vào thực trạng từng loại cây trồng trên mỗi loại đất, từ đó đề ra định
hướng sử dụng đất theo hướng sản xuất hàng hoá nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng
đất nông nghiệp.
Hàng năm viện nghiên cứu nông nghiệp các nước trên thế giới đều nghiên
cứu và đưa ra được một số giống cây trồng mới giúp cho việc tạo ra được một số
loại hình sử dụng đất mới ngày càng có hiệu quả hơn. Viện lúa quốc tế IRRI đã có
nhiều thành tựu về lĩnh vực giống lúa và hệ thống cây trồng trên đất canh tác. Nhà
khoa học Otak Tanakad của Nhật Bản đã nêu những vấn đề cơ bản về sự hình thành
của sinh thái đồng ruộng và từ đó cho rằng yếu tố quyết định của hệ thống nông
nghiệp là sự thay đổi về kỹ thuật, kinh tế, xã hội. Các nhà khoa học Nhật Bản đã hệ
thống tiêu chuẩn hiệu quả sử dụng đất thông qua hệ thống cây trồng trên đất canh
tác là sự phối hợp giữa các cây trồng và gia súc, các phương pháp trồng trọt và chăn
nuôi, cường độ lao động, vốn đầu tư, tổ chức sản xuất, sản phẩm làm ra, tính chất
hàng hoá của sản phẩm. (Nguyễn Duy Tính, 1995) [12].
Các nhà khoa học trên thế giới đều cho rằng: đối với các vùng nhiệt đới có
thể thực hiện các công thức luân canh cây trồng hàng năm, có thể chuyển từ chế độ
canh tác cũ sang chế độ canh tác mới tiến bộ hơn mang lại hiệu quả cao hơn.
13
2.2.2. Tình hình sử dụng đất nông nghiệp ở Việt Nam
Tính đến 2015 Việt Nam có tổng diện tích tự nhiên là 33.128,69 nghìn ha,
trong đó đất nông nghiệp là 26.791,58 nghìn ha chiếm 80,87% tổng diện tích đất tự
nhiên. Diện tích đất bình quân đầu người ở Việt Nam thuộc loại thấp nhất thế giới.
Ngày nay với áp lực về dân số và tốc độ đô thị hóa diện tích đất đai nước ta ngày
(%)
Tổng diện tích tự nhiên
33.128,69
100,00
1
Đất nông nghiệp
26.791,58
80,87
1.1
Đất sản xuất nông nghiệp
10.305,44
31,11
1.1.1
Đất trồng cây hàng năm
6.422,80
3.882,64
11,72
1.2
Đất lâm nghiệp
15.700,15
47,39
1.2.1
Đất rừng sản xuất
7.840,91
23,67
1.2.2
Đất rừng phòng hộ
5.648,99
17,05
1.2.3
2
Đất phi nông nghiệp
4.049,11
12,22
2.1
Đất ở
749,14
2,26
2.2
Đất chuyên dùng
2.043,09
6,17
2.3
Đất tôn giáo, tín ngưỡng
15,10
2.288,00
6,91
LOẠI ĐẤT
STT
(Nguồn: Báo cáo thuyết minh tổng hợp điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020)
2.3. Tình hình sử dụng đất nông nghiệp tỉnh Hà Giang
Tính đến năm 2015, tỉnh Hà Giang có tổng diện tích tự nhiên là 792.948,34 ha,
trong đó: sử dụng vào mục đích nông nghiệp là 637.395,08 ha, chiếm 80,38 %; sử
dụng vào mục đích đất phi nông nghiệp là 32.422,15 ha chiếm 4,09 %; đất chưa sử
dụng còn 123.131,11 ha chiếm 15,53 % diện tích tự nhiên. (Sở TNMT tỉnh Hà
15
Giang, 2016) [10].
Hà Giang là một tỉnh miền núi có địa hình phức tạp, với phần lớn diện
tích đất đai là đồi núi, đất cho sản xuất, đặc biệt là sản xuất nông nghiệp và cho
xây dựng cơ sở hạ tầng hạn chế do vậy việc khai thác triệt để, có hiệu quả quỹ
đất đai của tỉnh cho các mục đích là quan điểm được đặt lên hàng đầu. Do vậy
định hướng sử dụng đất của tỉnh là phải đảm bảo sử dụng đất tiết kiệm, hợp lý, đầy
đủ và có hiệu quả cao trên quan điểm cân bằng sinh thái, bảo vệ môi trường và phát
triển bền vững. Những quan điểm đó là:
Từ nay đến năm 2020 cơ bản đưa toàn bộ quỹ đất hoang hoá vào sử
dụng theo các mục đích thích hợp. Vấn đề bảo vệ, sử dụng đất đai hợp lý, chuyển
đổi mục đích sử dụng góp phần chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi và sử dụng
DIỆN TÍCH
(ha)
CƠ
CẤU
(%)
100,00
80,38
2.1
2.2
2.3
2.4
2.5
2.6
2.7
Tổng diện tích tự nhiên
Đất nông nghiệp
Trong đó:
Đất trồng lúa
Trong đó: Đất chuyên trồng lúa nước
Đất trồng cây hàng năm khác
Đất trồng cây lâu năm
Đất rừng phòng hộ
Đất rừng đặc dụng
Đất rừng sản xuất
Đất nuôi trồng thủy sản
Đất làm muối
Đất phát triển hạ tầng cấp quốc gia, cấp tỉnh
DHT
12.163,68
Đất có di tích lịch sử - văn hóa
DDT
97,50
Đất danh lam thắng cảnh
DDL
17,36
Đất bãi thải, xử lý chất thải
DRA
10,28
Đất ở tại nông thôn
ONT
6.091,99
Đất ở tại đô thị
ODT
992,87
Đất xây dựng trụ sở cơ quan
TSC
169,17
Đất xây dựng trụ sở của tổ chức sự nghiệp
DTS
10,38
Đất xây dựng cơ sở ngoại giao
DNG
Đất cơ sở tôn giáo
TON
9,35
LUA
LUC
HNK
CLN
RPH
RDD
RSX
NTS
LMU
PNN
34.140,37
11.335,46
127.819,96
36.639,96
196.480,72
44.457,28
195.814,19
1.867,93
32.422,15
4,31
1,43
16,12
4,62
24,78
5,61
24,69
0,24
nông nghiệp theo điều kiện tự nhiên, đặc điểm kinh tế, điều kiện vật chất xã hội, thị
trường… đặc biệt là mục tiêu, chủ trương chính sách của nhà nước nhằm nâng cao
hiệu quả sản xuất xã hội, tạo điều kiện bảo vệ đất và bảo vệ môi trường. Nói cách
khác, định hướng sử dụng đất nông nghiệp là việc xác định một cơ cấu sản xuất
nông nghiệp trong đó cơ cấu cây trồng, cơ cấu vật nuôi phù hợp với điều kiện sinh
thái của vùng lãnh thổ. Để xác định được cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp hợp lý
cần phải có nghiên cứu về hệ thống cây trồng, các mối quan hệ giữa cây trồng với
nhau, giữa cây trồng với môi trường bên ngoài là điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội
như: tập quán và kinh nghiệm sản xuất, lao động, quản lý, thị trường, cơ chế chính
sách… Trên cơ sở nghiên cứu hệ thống cây trồng và các mối quan hệ giữa chúng
với môi trường để định hướng sử dụng đất phù hợp với điều kiện từng vùng.
Các căn cứ để định hướng sử dụng đất:
- Đặc điểm địa lý, thổ nhưỡng.
- Tính chất đất hiện tại.
- Dựa trên yêu cầu sinh thái của cây trồng, vật nuôi và các loại hình sử dụng đất.
- Dựa trên các mô hình sử dụng đất phù hợp với yêu cầu sinh thái của cây
trồng, vật nuôi và đạt hiệu quả sử dụng đất cao (Lựa chọn loại hình sử dụng đất tối ưu).
- Điều kiện sử dụng đất, cải tạo đất bằng các biện pháp thủy lợi, phân bón và
các tiến bộ khoa học kỹ thuật về canh tác.
- Mục tiêu phát triển của vùng nghiên cứu trong những năm tiếp theo hoặc
lâu dài.
Việc nghiên cứu để đưa ra hệ thống sử dụng đất sản xuất nông nghiệp tối ưu,
hiệu quả phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của từng địa phương cũng
như tận dụng và phát huy được tiềm năng của đất, nâng cao năng suất cây trồng,
góp phần từng bước cải thiện đời sống của nhân dân, đồng thời giữ vững được môi
trường sinh thái theo quan điểm phát triển bền vững đang là rất cần thiết. (Phạm
Tiến Dũng, 2009) [5].
18