HỎI ĐÁP VỀ VĂN HÓA ĐỘC ĐÁO CÁC DÂN TỘC VIỆT NAM
Trên dải đất Việt Nam có 54 dân tộc sinh sống. Mỗi một dân tộc đều có những nét văn hoá độc đáo riêng, thể hiện trong nếp ăn, nếp ở, việc cưới xin,
thăm hỏi, lễ hội... Qua những nét sinh hoạt văn hoá đó, con người với con người gắn kết với nhau hơn, sống vui vẻ hoà hợp cùng xây đắp thêm cho đời sống
được ấm no, hạnh phúc hơn.\
Phần thứ nhất
VĂN HÓA ĐỘC ĐÁO TRONG ĐỜI SỐNG SINH HOẠT
Câu hỏi: Ba lễ lớn mới thành đám cưới của người Ê Đê diễn ra như thế nào?
Trả lời:
Hôn nhân của người Ê Đê phải có ba nghi lễ được tiến hành tuần tự. Có đủ ba lễ mới thành đám cưới:
* Thứ nhất là lễ hỏi chồng (Trôk Kôông)
Khi đôi nam nữ đã ưng nhau, nhà gái phải làm lễ đi hỏi chồng. Sau khi cúng Yang ở nhà, đoàn nhà gái có ông Dăm dei (ông chủ họ) và người thân thuộc
sang nhà trai xin cưới. Lễ vật gồm một ché rượu và một chiếc vòng đeo tay (vòng kôông). Nhà trai cũng có Dăm dei và người trong họ cùng dự bàn bạc về
của cải, về thời gian làm dâu của người con gái. Khi nhất trí, hai họ đổi cho nhau đôi vòng kôông ấy. Chiếc vòng này vô cùng quan trọng:
Những chiếc vòng tay đã được trao cho nhau
Vòng của chàng trai đã trao cho cô gái
Vòng của cô gái đã trao cho chàng trai…
… Nếu ngày mai lúc mặt trời mọc
Lời nói hôm qua, chàng trai lại nói khác
Nếu vừa quay lưng, chàng đã làm khác
Phụ bạc người con gái mà chàng đã chọn
Sẽ phải đền một heo cùng số tiền phạt vạ
Sau lễ này, đôi nam nữ được xem như đã thành vợ chồng.
* Thứ hai là lễ thỏa thuận (Bi Kuôl):
Sau lễ Trôk Kôông độ một đến ba tháng, nhà gái tổ chức lễ thỏa thuận. Nhà trai thách cưới: yêu cầu nhà gái đem những gì đến (thường là chiêng, ché,
trâu, bò) và ấn định thời gian cô gái phải sang ở nhà trai làm dâu bao nhiêu lần. Lễ tổ chức nghiêm trang, có đủ họ hàng tới dự.
Lễ làm xong, cô gái đến ở nhà chàng trai. Thời gian này có thể kéo dài từ một đến ba năm, tùy theo:
- Hoàn cảnh nhà gái có khả năng làm lễ cưới, nộp đủ lễ vật cho nhà trai.
Trả lời:
ở đám cưới người Tày, trong số lễ vật nhà trai mang đến
cả một nghi thức, tiến hành ngay sau khi lễ tổ tiên và nộp gánh.
phải có cả tấm vải Sằm Khẩu. Việc
dâng vải này là
Đứng trước bàn thờ, chú rể trịnh trọng dâng tấm vải lên mẹ vợ (nếu mẹ vợ không còn thì là người phụ nữ trực tiếp nuôi dưỡng cô dâu lúc nhỏ). Vải Sằm
Khẩu này dệt tay, rộng hai gang , dài từ 10 - 15 sải, nhuộm màu hồng một nửa (xem là vải ướt) và một nửa để trắng (ước lệ là vải khô).
Tấm vải có ý nghĩa nhắc đến công ơn của mẹ. Những gia đình nghèo, trẻ con đái ướt tã lót không có để thay, mẹ đã xoay phần khô cho con nằm, còn mẹ
nằm sang phần ướt (cũng như thành ngữ Việt có câu: Chỗ ướt mẹ nằm, chỗ ráo con lăn). Dâng tấm vải ấy là khẳng định con luôn luôn nhớ đến sự vất vả, kiên
trì chịu đựng của mẹ khi con còn trứng nước.
Người mẹ vô cùng xúc động khi nhận tấm vải. Bà sẽ cất kỹ vào đáy hòm. Sau này khi con sinh cháu, bà đem nhuộm chàm cả tấm vải rồi đem làm tã lót và
làm một cái địu cho đứa cháu ngoại đầu lòng.
Khi chú rể hai tay cầm dâng tấm Sằm Khẩu thì vị quan lang nhà trai trân trọng hát bài: "Dâng tấm vải ướt khô". Mọi người trang nghiêm ngồi nghe, bà mẹ
thì có phần nghẹn ngào, cảm động.
Bài hát được dịch như sau:
Kính dâng lên phụ mẫu song thân
Kính trình lên tông thân nội ngoại
Quanh năm chọn được mỗi ngày lành
Ngày rể nộp tấm khăn khô ướt
Ngày sinh con tã ướt mẹ nằm
Bên tã khô mẹ dành con ủ
Chăm sóc con mẹ ngủ không yên
Công cúc dục cao hơn trời thẳm.
Ngày nay con đã lớn theo chồng
Ta dậy sớm trước chim
Ta đến rửa mặt trước chuột
Người trên thấy họ thương
Người khôn thấy họ mến...
Khi khoát nước vào mình, họ đọc:
Ta đến kéo cái xấu trong người ta ra
Ta đến đổ cái xấu trong người đi sạch
Thiên hạ làm bùa mê, ta phủi
Ông tạo bỏ thuốc độc, ta phủi
Gái tơ nói điều xấu, ta phủi
Ta phủi nó trôi theo con suối
Ta giũ cho sạch hết xấu xa.
Trẻ em chưa biết kể, biết nói thì người lớn kể giùm. Sau đó, họ buông cành ổi cho trôi theo dòng suối. Rửa mặt xong, mọi người mới ra về và bắt tay vào
công việc của ngày Tết.
Câu hỏi: Nét độc đáo trong lễ hội múa xòe của dân tộc Thái?
Trả lời:
Múa xòe có từ lâu đời. Tổ tiên người Thái dặn con cháu rằng:
Không xòe không tốt lúa
Không xòe thóc cạn bồ
Múa
xòe
thường
được
tổ
lớn, xung quanh là các vòng tròn cùng hướng vào tâm là đống lửa.
chức
quanh
Phó, v.v… rất hiếu khách. Tuy nhiên, các dân tộc này có một số điều kiêng kỵ mà du khách đến thăm các gia đình ở bản làng cần ý tứ, tìm hiểu vài phong tục,
tập quán trong đời sống của đồng bào để ứng xử giao tiếp được thuận lợi và tốt đẹp.
Khi vào bản làng: Hàng năm, đồng bào các dân tộc có lệ cúng xua đuổi tà ma và cúng thần thôn bản, thường tổ chức vào tháng 2 hoặc tháng 6 hay tháng 7
âm lịch.
Vào dịp này bản làng có dấu hiệu kiêng kỵ để vào chỗ dễ thấy nhằm ngăn cấm người lạ đặt chân vào. Những dấu hiệu này là:
- Buộc cành lá xanh ở cột cao trên đường vào bản.
- Đan phên mắt cáo, buộc vào xương hàm của lợn, hoặc trâu, bò.
Vào lúc này, người trong bản không ai đi làm lụng gì cả. Nếu có người lạ vô tình đội nón, đeo gùi hoặc ba lô, che ô dù hay gồng gánh… đi vào thì người
đó sẽ bị bắt, bị phạt bằng cách nộp đủ số lễ vật để làm lại lễ cúng cho thôn bản. Trong trường hợp có việc cấp bách cần vào thôn ngay thì người khách lạ phải
bỏ gồng gánh, ba lô, mũ nón, v.v… Tất cả những thứ ấy phải xách tay. Như thế mới có thể được giảm, miễn phạt.
Khi vào thăm nhà: cần quan sát cẩn thận mỗi khi đến một nhà nào. Nếu thấy ở trước cửa nhà, tại đầu cầu thang có cắm hoặc treo một cành lá xanh, một
cành gai hay có cắm một tấm phên đan hình mắt cáo… thì đó là dấu hiệu kiêng kỵ và cấm người lạ mặt vào nhà.
Mỗi nhà có một vị trí quan trọng nhất. Vách nhà ở giữa hoặc góc đầu nhà sàn là nơi thờ tổ tiên. Việc trang trí nơi thờ ở, mỗi dân tộc có khác nhau, nhưng
cùng chung quan niệm là chỗ thiêng liêng nhất, cần phải được kính trọng. Khách tới nhà không được tự tiện đặt bất cứ món gì của mình vào nơi đó và cũng
không được phép sờ tay đụng tới các vật thờ cúng.
- Khi ngồi, khách không được quay lưng vào nơi thờ.
- Bếp lửa là nơi vừa nấu nướng, vừa tiếp khách và cũng là chỗ thiêng liêng thờ thần lửa, vua bếp và cũng có nhiều kiêng kỵ liên quan tới chỗ này. Khách
ngồi cạnh bếp lửa để sưởi ấm không được đặt chân lên hoặc làm xê dịch hòn đá kê làm kiềng. Theo quan niệm của một số dân tộc, các hòn đá này là nơi trú
ngụ của thần lửa.
Khi đun nấu, người Tày, người Giáy… luôn chú ý đặt quai chảo, nồi lên bếp theo chiều dọc của nhà, không theo chiều ngang.
- Người Dao, H’mông khi đưa củi vào bếp, không đưa ngọn vào trước, vì sợ con gái trong nhà sau này sẽ sinh ngược.
- Khi ngồi gần bếp, khách không được quay lưng và không giẫm chân vào bếp.
- Trong ngôi nhà, cửa và cột cây chính cũng là vị trí thiêng liêng dành thờ thần cửa và cột cái. Không nên ngồi dựa vào cửa hay treo mũ nón và tựa lưng
vào cột cái.
- Người Tày, Thái kiêng không đem lá xanh và cành cây xanh, rau xanh vào cửa chính.
- Không nên huýt sáo ở trong nhà vì đồng bào dân tộc tin đó là tín hiệu gọi giông bão và tà ma.
Khi giao tiếp: Có ba trường hợp đáng chú ý:
- Chào hỏi nhau: Khi đi đường hoặc đến nhà người dân tộc, khách nên chào hỏi bằng thái độ thân thiện và chân thành. Nụ cười cởi mở, thân ái sẽ làm tan
ở Khâu Vai ngày xưa không có chợ, không ai mua nên không có người bán. Người ta đến đây bất luận già trẻ, với nỗi lòng trắc ẩn, với tình duyên lỡ làng
từ trước, dù đã qua rồi khá lâu hoặc vừa mới xảy ra. Họ trở lại tìm dấu tích và những kỷ niệm thân thương của độ nào vẫn còn thấm đượm trong tim họ.
Như có những động lực vô hình mạnh mẽ tác động, thôi thúc những người bạn tình năm cũ lại gặp nhau đúng hẹn ước. Những người đã từng được gởi
gắm trao nhau tình thương nỗi nhớ thật lòng, được nhìn mặt và vóc dáng của nhau với mừng mừng tủi tủi tưởng chừng không dứt. Họ có dịp gần gũi nhau,
vui chơi, tâm sự, chiều chuộng nhau trong thời gian rất ngắn ngủi. Họ đem theo thức ăn từ nhà gồm cơm nếp gói, bánh, khoai củ… bày ra cùng nhau ăn.
Ngồi ăn cùng nhau, họ được nắm tay, mặt giáp mặt, con tim rộn ràng thương yêu sau những tháng ngày xa cách.
ở xa, người ta phải vượt qua những nẻo đường dốc núi "trần ai" và phải lo liệu đến đây từ chiều hôm trước. Khi tới nơi mỗi người đều chăm chú đi tìm
kiếm hình bóng xưa. Gặp được nhau, họ đưa nhau vào nơi yên tĩnh, vắng vẻ để cùng nhau trút bỏ nỗi lòng nhớ thương từ bao lâu. Cũng có những cặp vợ
chồng đưa nhau cùng đến Khâu Vai với mục đích giúp nhau tìm người bạn tình cũ. Đây là nét văn hóa đặc thù đáng khích lệ trong đời sống giữa chốn núi
rừng của người dân tộc Khâu Vai. Chồng vợ đều tôn trọng tình cảm riêng từ quá khứ của nhau. Họ không đem dĩ vãng vào cuộc sống hiện tại để dằn vặt, gây
mâu thuẫn, ảnh hưởng nặng nề, có khi nguy hại cho tương lai. Họ quan niệm rằng tình cảm dù sâu sắc cũng bị chi phối nhất thời vì lắm lý do ngoại cảnh. Cuộc
sống hiện tại với sự gắn bó bền chặt mới là điều đáng trọng.
Chiều ngày 27 chợ tan, đôi bạn tình lại chia tay bịn rịn. Họ lại hẹn năm sau nhưng không ai biết chắc chắn còn gặp nhau được nữa hay không. Những cặp vợ
chồng thật sự lại tìm nhau, cùng che ô dù, dẫn dắt nhau về nhà, cố xua đuổi những hình ảnh xa xưa để vun đắp cho cuộc sống hiện tại với mái ấm gia đình và
những đứa con thương yêu của mình. Nhiều đôi vợ chồng trên đường về tổ ấm cũng chân thành kể lại cho nhau nghe những điều lý thú khi gặp lại bạn tình cũ
và với họ chẳng có gì phải che giấu nữa.
Cũng có rất nhiều người đến chợ Khâu Vai nhiều lần mà chưa gặp lại được người bạn tình cũ. Sự tìm kiếm, ngóng đợi vô vọng, chiều tà họ ngậm ngùi lủi
thủi ra về một mình, lòng tràn ngập nỗi buồn.
Từ năm 1992 đến nay, Khâu Vai đã thật sự hình thành chợ có mua bán, trao đổi hàng hóa, sản vật địa phương. Cứ năm ngày có một phiên chợ và là chợ
trao đổi mua bán hàng hóa đích thực. Chỉ có ngày 27 tháng 3 âm lịch mới đầy đủ ý nghĩa là phiên họp tình yêu và là điểm hẹn của những người hoài niệm quá
khứ yêu thương.
Khâu Vai chẳng những là nét văn hóa tình cảm xã hội đặc thù của đồng bào dân tộc miền núi Hà Giang mà còn là nét văn hóa đặc sắc trong đời sống tinh
thần của cộng đồng dân tộc Việt.
Câu hỏi: Vì sao có núi Cốc - sông Công?
Trả lời:
Từ rất xưa, ở vùng hồ núi Cốc (thành phố Thái Nguyên ngày nay) có một chàng trai mồ côi vốn là con cả của một gia đình nghèo khó. Khi cha mẹ qua
đời, chàng phải tự kiếm sống và nuôi các em bằng nghề kiếm củi.
vào vách đá thì một ông lão râu tóc bạc phơ đứng ngay trước mặt. Chàng chưa hết bàng hoàng thì ông lão đã tiến lại gần và nói cho chàng biết thâm ý của nhà
giàu rồi khuyên chàng xẻo thịt trâu làm lương ăn và mau tìm đường thoát khỏi nơi này. Chàng Cốc chưa kịp quỳ xuống tạ ơn thì ông lão biến mất.
Ngay trong đêm ấy, chàng tìm đường về quê cũ. Chàng không quên nhờ tiếng sáo chuyển lời mách bảo đến với nàng Công. ở nhà mình, vừa nghe tiếng
sáo kể hết sự tình, nàng Công cũng vội vã khoác tay nải hạt vừng lên vai rồi trốn cha, vượt sàn chạy vào rừng gặp người yêu. Cùng lúc ấy, cha nàng được tin
chàng Cốc đã chạy xa, ông ta vội vàng chạy sang buồng con gái. Không thấy nàng Công ở đó, ông ta vội vàng cho người, ngựa đuổi theo. Nàng Công kịp trao
cho chàng Cốc tay nải hạt vừng thì người, ngựa nhà nàng đã rầm rập phía sau. Chàng Cốc vội vàng tránh được. Nàng Công bị người nhà bắt về. Để phạt tội
trái ý cha, nhà giàu đã đẩy nàng vào tận nhà trong rồi cho người canh gác.
Chàng Cốc sau khi thoát khỏi cuộc rượt đuổi của người nhà nàng Công, chàng chạy mải miết mặc cho gai góc cào thịt da bật cả máu tươi. Tay nải hạt
vừng của chàng cũng bị cây cối dọc đường móc rách từ bao giờ. Hạt vừng cứ rải theo bước chân của chàng, cho đến khi chàng đặt chân đến ngọn núi Chúa
quê mình, lúc ấy chàng mới hiểu cái ý sâu xa của nàng Công. Từ đó, chàng lại kiếm sống bằng nghề cũ. Ngày này qua tháng khác, chàng vẫn theo lối cây hạt
vừng mong đón gặp được người yêu. Vừng đã ra hoa, kết trái, trái vừng khô, cây vừng chết, hạt vừng lại rụng xuống mọc thành cây. Cây vừng lại ra hoa… Đã
bao
mùa
cây
vừng
thay
đổi
như
thế
mà
chàng
vẫn
đợi
chờ
vô
vọng.
Một ngày kia, chàng Cốc nhịn đói suốt mấy ngày rồi cố trèo lên đỉnh ngọn núi Chúa. Chàng cứ ở mãi trên đó, ngày đêm đăm đắm nhìn về phương Bắc. Nơi
ấy có hình bóng nàng Công.
Câu hỏi: Tại sao sông Krông Pa còn gọi là con sông đói?
Trả lời:
Xưa có một chàng trai mồ côi tên là Y Pa. Y Pa sống bơ vơ như sên, như ốc. Chỉ có ba con chó chàng nuôi là nguồn an ủi duy nhất của chàng.
Ngày này qua ngày khác, Y Pa thường cùng ba con chó của mình ra rừng săn bắn. Săn được con chồn, con thỏ, họ đều mang về chia cho dân làng.
Có một lần, Y Pa mệt quá. Chàng nằm luôn ở nhà ba ngày rồi bảy ngày. Thấy chủ nằm mãi, ba con chó hỏi:
- Sao ông Y Pa nằm khoèo mãi thế? Chúng ta phải đi vào rừng săn bắn như mọi hôm chứ?
Y Pa uể oải trả lời:
- Tao đi săn sao được, đói mấy ngày nay rồi. Còn chúng mày chắc kiếm ăn được đấy chứ?
- Sao ông không theo chúng tôi mà đi ăn lượm như thế?
- Chúng mày khác, tao khác. Tao là con người, chúng mày là con vật.
Đến ngày hôm sau, đói quá, Y Pa phải cùng ba bạn chó vào rừng kiếm ăn. Từ sáng đến trưa, đi mãi, đi mãi, chẳng được con gì. Y Pa không đi nổi nữa. Ba
con chó khát quá, chạy quanh tìm nước uống. Tìm không được nước, nhằm chỗ đất trống, ba con chó đứng bới mãi. Y Pa nghĩ: "Tại sao chó lại sủa và đào bới
mãi một chỗ đất bằng?". Y Pa đến, ba con chó vẫn sủa, vẫn bới. Xem tận mắt, ngửi thấy tận cái mũi, Y Pa không thấy có gì khác. Đang đói, lại khát, Y Pa tức
bực quát:
- Thôi chúng mày ngồi đó, để tao đào bới thêm xem thử dưới này có gì không?
Sẵn dao trong tay, anh bắt đầu đào. Hết một điếu thuốc, hết hai điếu thuốc, hết ba điếu thuốc, Y Pa vẫn không thấy có gì. Chó vẫn sủa, Y Pa tức giận quát
lớn:
- Sủa gì mà sủa lắm vậy? Chúng mày khát nước quá hả, để tao đái cho mà uống! Thần Trời, thần Đất, thần Núi, thần Sông đi đâu mà không cho mình giọt
nước nào? Lại đi săn từ sáng đến giờ chẳng được gì!
Y Pa định đái nhưng các thần đã nghe thấy lời nói của Y Pa, muốn trừng phạt Y Pa về tội nói năng thiếu lễ độ. Một dòng nước từ hố đang đào vọt lên,
phun dữ dội. Đang cơn khát nhưng thấy nước hung dữ quá, Y Pa tìm đường chạy trốn.
Không chạy về phía mặt trời lặn, ba con chó theo Y Pa chạy về hướng đông. Người và chó chạy đến đâu, nước theo đến đó. Chạy lên núi cao, thần Nước
càng leo nhanh, chạy xuống hố sâu, thần đuổi theo tận gót. Y Pa chạy mãi, chạy mãi… đến chỗ đất bằng thì không còn sức nữa. Y Pa ngã xuống, ngất đi.
Thần Nước không muốn cuốn Y Pa đi. Bụng của thần linh không muốn để Y Pa phải chết. Vì vậy, nước đuổi đến chỗ Y Pa nằm liền chui tọt xuống lòng đất.
Tỉnh
dậy,
Y
pác
của
dân
tộc
Tày
được
diễn
ra
như
Trả lời:
Phuối pác (hay còn gọi là phuối rọi) là những lời ca có vần điệu của nam nữ Tày hàng ngày. Đây là một lối nói tự do, số câu chữ không câu nệ, thường
diễn ra trong lúc gặp gỡ trên đường lên nương, ra chợ, đi hội chứ không bao giờ diễn ra trong nhà như những thể loại khác. Nó như là những lời ướm hỏi, trêu
ghẹo tình tứ (lúc gặp gỡ) và những lời dặn dò nghĩa tình tha thiết (lúc chia tay).
Phuối pác là lối hát ứng khẩu, mang tính khẩu ngữ đậm hơn bất cứ một thể loại dân ca nào khác. Từ tình huống dỗi hờn, trách móc:
Trầu em trồng trên đất cứng rắn
E anh ăn sẽ nghẹn trắng mắt
Về nhà bỏ vợ gái thành góa
Đứa nhỏ thêm đứa lớn không thương
Còn đứa bò trên giường "loẹp loẹp".
đến những câu thề nguyền trang trọng:
được
làm
như
Trả lời:
Các dân tộc thiểu số hầu như nơi nào cũng uống rượu cần. Hiện nay, chúng ta chưa sưu tầm được hết sự tích rượu cần của các dân tộc, chỉ mới biết người
Mường, người Thái giải thích lý do ra đời của rượu cần như sau:
Một ông cụ có hai người con dâu. Cụ muốn thử xem ai là người thông minh, đức hạnh. Cụ bảo:
- Bố đi ăn uống đã nhiều, nhưng chưa được ăn con vật gì mà thịt lại nằm trong xương, cũng chưa được uống loại nước gì chảy ngược cho ngọt ngào, ý vị.
Các con cố tìm cho bố. Chỉ có ăn uống những thứ đó, bố mới khỏe ra được.
Cô dâu cả nghĩ mãi, không hiểu là thức ăn, thức uống gì. Cô dâu thứ hai cũng bí, hỏi chỗ này chỗ khác cũng không ai biết thức ăn ấy ra sao. Cô buồn rầu
ra suối ngồi nghĩ. Bỗng cô nhìn thấy con ốc bên bờ suối. Đúng rồi! Con ốc, ruột trong mềm, vỏ ngoài cứng, thế chẳng phải thịt nằm trong xương hay sao?
Bên bờ suối, lại có ai đã cắm một cái vòi chuyền cho nước chảy ngược lên máng. Muốn nước chảy ngược cũng phải làm như vậy. Cô liền bắt một mớ ốc về
nấu canh, múc một bầu nước, vót cái cần cắm vào bầu. Cứ để nước lã như thế thì sẽ chẳng có mùi vị gì, cô bèn bỏ vào bầu vài nắm lá thuốc trong rừng. Cô
mang những thứ đó về thì ông cụ không có nhà. Cô giấu kín các thức đã chuẩn bị, chờ bố về đưa nộp.
Cô dâu cả đang nghĩ chưa ra cách, thấy em thu giấu thì bực, liền lén bỏ vào bình một nắm bã trấu và tấm vụn. Không ngờ như thế lại làm cho bình nước
thêm chất. Lá, trấu, tấm quện lại, lên men, hóa thành một thứ rượu ngọt. Ông bố ăn canh ốc rồi cầm cần hút. Đúng là nước thân nước thương chảy ngược và
canh thịt nằm trong xương. Ông cụ khen nức nở, rồi sau đó giao cả cơ nghiệp cho cô em. Và lịch sử xa xôi của bình rượu cần có từ đó.
Câu
Trả lời:
hỏi:
thế nào?
Dân
Có khi người ta nghe theo điệu cao thấp, nghe theo người hát mà đặt tên. Bài hát du dương của đôi trai gái tình tự gọi là Khắp xon láy. Hát cần cao giọng
cho tiếng hát vang xa, gọi là Khắp ơi! Bà tày hát gọi là Khắp mụt, ông mo hát gọi là Khắp mùn. Hát đố là Khắp thả, hát ghẹo là Khắp kẹo, khắp cưa.
ở Nghệ Tĩnh, người hát lại chia ra:
- Khắp xư: Dành để kể chuyện đời xưa.
- Khắp ơi: Hát khi đi rừng, làm nương (chỉ một người hát).
- Khắp ọt èo: Điệu hát riêng của các thanh niên (người già không hát).
- Khắp ảm pùn, Khắp phả ái: Điệu hát khi say, muốn xin miễn không phải uống nữa.
Lời hát trong khắp là những lời được sắp xếp có vần, có điệu như những câu thơ. Chủ yếu là loại thơ bảy chữ, thơ năm chữ, đôi khi có thêm bớt. Không
thấy những câu lục bát hay tương tự lục bát như ở dân tộc Kinh, và cũng không gặp những bài kiểu bát cú, tứ tuyệt như ở dân tộc Tày. Vẫn thường gặp là vần
lưng, rơi vào chữ thứ ba, chữ thứ năm trong câu bảy chữ. Vần chân thường đặt theo lối gieo vần gián cách, song nhiều khi chỉ chú trọng chuyển nhanh hơn là
theo đúng vần.
Thí dụ: (phiên âm)
Buồn tấm tắc, buồn ọt nhăng nội
Buồn tắm tội buồn khói pày piêng
Cùn ọt piêng xuồn kiên mà lọm
Cùn ọt cọm xuồn hóm ma bằng
Ta thấy ở bốn câu này, vần chân không được tôn trọng, sự gián cách chỉ cốt để đổi thanh cho câu được trầm bổng. Như ng vần lưng thì rất chặt chẽ, mỗi chữ
cuối câu thất ngôn đều có vần ứng khuôn ở chữ thứ ba và thứ năm ở câu dưới.
Vần lưng quả là yêu cầu chính trong cấu trúc thơ khắp. Một đoạn khắp trong bài đồng dao theo thể thơ năm chữ dưới đây cũng cho ta thấy như thế:
Tầm pông ơi tầm pích
Ma kin khấu hà lanh
Ma kin càng mắc pặc
Ma phặc xộc sáng còng1
Lời khắp có thể hát đơn ca, tốp ca. Âm điệu thường réo rắt, gợi cảm. Khắp ơi thường có độ cao, ngân xa, xon láy về trầm. Một số đoạn trong các khắp xư
có khúc thức gọn, mạnh mẽ và lôi cuốn. Trên sông nước, một vài lóng má, lóng xăm, có giặm thêm cả những tiếng dô, hầy… Khắp có thể được các nhạc cụ
đệm theo. Đi kéo gỗ có thể mang cả cồng chiêng đệm cho lời hát. Trong các buổi diễn xướng nghi lễ, các ông và khắp mùn, khắp mụt vẫn có cồng chiêng phụ
họa cho những bài khắp, hoặc những lời mo. Khắp còn được hát với khèn loại pí pè (khèn bè), hát với sáo, loại pi-khúi (sáo dọc).
Khắp không có thủ tục như hát quan họ, hát ghẹo, hát đúm; không có thể thức riêng như hát lẻ, hát cuộc; cũng không dành chuyên cho một nghề nghiệp,
Nhìn thấy vực sông sâu
Nhìn thấy áo chàm đem lòng muốn mặc
Nhìn thấy người má hồng lòng muốn hỏi thăm
Thấy đôi mắt long lanh lòng càng muốn liếc
Nhìn thấy Hạn khuống rực rỡ lại muốn
quấy quả chơi
Xin lên sàn rồng bay
Xin lên sàn phượng múa
Các cô gái hát:
Vòng bạc đáng thương ai đó
Vòng bạc của quý ai kia
Người yêu ai đấy của quý ai kia
Các cô gái hát chối từ:
Em đây khó nghĩ trăm bề
Thang ba bậc còn ở rừng tre
Dừng sáu bậc còn ở rừng gỗ
Một mình em không đi lấy được
Em sẽ tìm lá dong xanh về gói xôi nóng
Tìm lá dong đỏ về gói cơm chiều
Xin chàng hãy rộng lòng tha thứ
Hãy chờ đợi hôm khác có thang.
Các chàng trai:
Dĩn hút máu anh đã hết bằng rá rồi đó
Muỗi hút máu anh đã hết bằng nong rồi đó
Bọ chó đã bò lên ầm ầm, để chúng anh ở
dưới này mãi sao?
Khi thang được bắc lên, các chàng trai phải hát đối đáp sao cho có thể được ghế ngồi, được mời nước, mời thuốc. Nếu thắng các chàng trai phải hát đối
với "Sao tổn thương". Các khán giả của Hạn khuống luôn chia làm hai phe, người ủng hộ các cô gái, người ủng hộ các chàng trai và tìm cách nhắc bài cho
là
đàn
then
vì
sử dụng trong sinh hoạt hát then. Ta thường gọi là đàn tính là không chuẩn, bởi lẽ tính tức là đàn, tẩu tức là quả bầu. Tính tẩu là đàn làm bằng quả bầu khô.
Tính tẩu là đàn dây gảy của các dân tộc Thái, Tày, Nùng ở Tây Bắc - Việt Bắc.
Hộp đàn làm bằng nửa vỏ quả bầu đã phơi khô, có khoét lỗ thoát âm mang hình hoa thị. Mặt đàn bằng gỗ xốp, mỏng, nhẹ, không sơn. Cần đàn dài, không
có phím. Đuôi đàn uốn cong ra đằng sau, có treo những quả nhạc vừa để trang trí, vừa để khi cần thì hòa nhịp, giữ nhịp theo bài ca. Xưa kia, dây tính tẩu làm
bằng sợi tơ xe lăn, ngày nay người ta dùng sợi ni lông. Tính tẩu của người Thái mắc hai dây; tính tẩu của người Tày, Nùng mắc ba dây, ở giữa là dây trầm.
Người ta dùng ngón trỏ (tay phải) để gảy đàn, tay trái nhấn lướt trên cần đàn tùy theo cung bậc cao thấp khác nhau, có khi là độc tấu, có khi là vừa hát vừa đệm,
cũng có khi người ta vừa đánh tính tẩu vừa múa.
Nam nữ thanh niên Tày còn hòa tấu tính tẩu, nam đánh loại trầm (to), nữ chơi loại thanh (nhỏ), có thêm quả nhạc giữ phím.
Thứ hai là, đàn Ta lư: Ta lư là đàn dây gảy của dân tộc Vân Kiều. Ta lư làm bằng gốc tre già, mặt đàn được bạt phẳng, cần đàn là gốc tre rỗng tạo độ vang
cho đàn. Ngày nay, người Vân Kiều còn tạo dáng đàn Ta lư trên một khúc gỗ hoặc trên một ống tre rỗng. Hai trục gỗ cắm xuyên trên cần đàn mắc hai sợi dây
đay xe lăn, chuốt nhựa cây.
Người ta sử dụng đàn Ta lư đệm cho hát, múa trong các sinh hoạt vui chơi, hội hè.
Trong những năm
Ta lư" nổi tiếng một thời.
chống
Mỹ,
nhạc
sĩ
Huy
Thục
5) Klông-pút: Là nhạc khí hơi lùa của nhiều dân tộc ở Tây Nguyên, nhất là người Hrê. Klông-pút trong dân gian gồm từ 2 đến 5 ống nứa to. Các ống đàn
có đường kính khoảng 6 đến 10cm, độ dài ngắn khác nhau được xếp theo chiều nằm.
Nghệ nhân lấy hai bàn tay khum khum, vỗ nhẹ vào nhau trước từng ống đàn tạo nên một luồng hơi lùa vào ống làm chuyển động cột không khí bên trong
ống đàn; ống đàn phát ra âm thanh cao thấp tuỳ theo độ dài ngắn của mỗi ống. Trư ớc kia, Klông-pút do các cô gái biểu diễn. Âm thanh Klông-pút vang, trầm
ấm, tạo cảm giác ngầm, sâu, vang động núi rừng. Các cô gái Hrê dùng Klông-pút chơi những bài ca tình tứ, mênh mang, sâu lắng về dòng sông , về cây lúa quê
nhà, về tình yêu cao nguyên, làng bản.
Câu hỏi: Cho biết một số đặc tính của bộ nhạc cụ gõ?
Trả lời:
1) Loại gõ trên màng rung: Đó là các loại trống to, trống nhỏ, người Việt và tất cả các dân tộc khác đều có sử dụng.
- Loại trống một mặt gồm: Trống bộc, trống bồng, trống chùa.
Các loại trống một mặt chỉ đóng vai trò phụ, làm chức năng phụ họa cho một tổng thể tiết tấu của các nhạc cụ gõ to lớn hơn, âm vang khoẻ hơn.
- Loại trống hai mặt: Trống đại, trống cái, trống chầu, trống bản, trống cà rùng.
Các loại trống này thường được sử dụng trong các đền, chùa, nhà thờ họ vào các ngày hội, ngày lễ, hoặc trong đám rước.
2) Loại nhạc cụ gõ trực tiếp: Đó là loại nhạc cụ gõ không qua màng rung.
- Loại thứ nhất được làm bằng gỗ như: Đuống (dân tộc Mường), T’rưng gỗ (dân tộc Tây Nguyên - Khơ Me Nam Bộ), Mõ, Song Loan, Phách, Sênh.
- Loại thứ hai được làm bằng tre nứa như: Đàn T’rưng (Tây Nguyên), Mõ tre, Phách ả đào.
- Loại thứ ba được làm bằng đồng như: Cồng, chiêng (dân tộc Mường và các dân tộc ở Tây Nguyên sử dụng cồng, chiêng trong lễ hội, đánh thành bài bản
có sức hấp dẫn, lôi cuốn mọi người vào những cuộc nhảy múa thâu đêm). Qua nhạc (lắp ở tính tẩu). Não bạt, chũm choẹ: được sử dụng kết hợp với các loại
trống to, nhỏ, tạo không khí vui tươi, hùng hồn, giục giã.
- Loại thứ tư được làm bằng đá như:
Đàn đá: có ở Tây Nguyên, Khánh Sơn, Đồng Nai. Tiếng đàn đá vừa ấm, vừa đanh, lại trong sáng, mang lại vẻ huyền bí của hang động cổ sơ. Nhiều nghệ
sĩ Việt Nam đã nghiên cứu và biểu diễn đàn đá như một nhạc cụ độc tấu có màu sắc riêng biệt.
Khánh đá: Khánh đá đặt ở đền, chùa, được sử dụng cùng với trống, chiêng kết hợp trong hồi "khởi nhạc", báo hiệu buổi hành lễ bắt đầu. Tiếng khánh đá
trong, ngân nga, tạo không khí trang nghiêm, thành kính.
Câu hỏi: Lối hát Sli của dân tộc Nùng diễn ra vào thời gian nào trong năm?
Trả lời:
Lượn của người Tày gồm ba loại: Lượn cọi, lượn slương, lượn Nàng hai. Nếu như lượn cọi và lượn Nàng hai có địa bàn chính ở phía tây Việt Bắc thì lượn
slương lưu hành ở địa bàn Lạng Sơn là chính. Khác với lượn cọi là loại lượn sử dụng vần lưng để kéo dài khổ thơ, lượn slương chỉ dùng loại thất ngôn tứ
tuyệt vào cuộc lượn. Sau những bài mời của chủ bản, khi vào cuộc, chỉ có một đôi trai gái hát đối đáp với nhau, các bài hát đều được nhập tâm, hoặc ứng khẩu
chứ không phải có thầy dẫn lượn như lượn cọi. Lượn slương thường được tổ chức vào ngày hội lồng tồng mùa xuân, hay vào những đêm trăng sáng của dịp
nông nhàn. Theo những tài liệu sưu tầm được, sơ bộ có thể chia lượn slương thành ba phần: Lượn đi đường, lượn sử và lượn chúc mừng. Trong đó phần lượn
chúc mừng không phải là hát giao duyên, chỉ là lời cảm tạ của người lượn đối với gia chủ nên nó có tính chất gắn kết khá lỏng lẻo với cuộc lượn. Phần lượn
sử với một thời gian khá lớn dành cho việc lượn về các truyện cổ dân gian của người Tày và các tích truyện có nguồn gốc từ Trung quốc thể hiện chiều sâu
của cuộc lượn slương khi tình cảm của người hát đã hết sức sâu nặng. Nhưng chính vì tính chất và nội dung của nó, lượn sử không có sức thu hút mạnh đối
với người nghe. Còn phần lượn đi đường là phần chứa đựng nhiều tình huống bất ngờ nhất. Về mặt hình thức, đó là phút ban đầu thăm dò, tìm hiểu, làm quen,
dỗi hờn, trách móc. Về mặt nội dung, tình cảm được diễn tả ở đây từ nỗi nhớ thương kín đáo, e ấp đến sâu sắc, mạnh bạo. Phần này rất được người nghe yêu
thích, và đây chính là phần trọng tâm của một cuộc lượn slương. Không có một cuộc lượn slương nào thiếu phần này dù cho hai phần kia có thể không lượn
đến.
Đúng như tên gọi, lượn slương (nghĩa là lượn thương) nổi bật lên mục đích bộc bạch niềm thương nhớ nhuốm màu đau th ương. Đó là nỗi buồn, nỗi đau
cách biệt do cảnh ngộ và một niềm ước ao vô vọng về sự sum họp. Niềm bộc bạch nhớ thương này trong lượn slương đậm hơn rất nhiều nhu cầu giao duyên
(tìm hiểu, làm quen…) thường thấy ở các làn điệu dân ca giao duyên khác, khiến cho lượn slương nghiêng về phía diễn tả một tình yêu đã nặng sâu hơn là
một tình yêu vừa chớm hé. Và cách diễn đạt mang đậm sắc màu độc thoại hơn là những dấu hiệu hình thức của ngôn ngữ đối thoại. Có thể thấy rõ điều này
qua các chặng (chương) của một cuộc lượn slương.
Các chặng hát của lượn slương cũng như những làn điệu dân ca khác đều có những cái cớ, những khuôn mẫu tức cảnh để biểu lộ tâm tình. Chẳng hạn
những chương như Gà gáy, Đứng thuyền hái hoa hay Bốn mùa, Mười hai tháng thì không nhằm mục đích miêu tả không gian và thời gian mà chỉ nhân đó để
diễn tả lòng mình.
Chẳng hạn:
Gà gáy dạo chơi ta kết giao
Trông lên trời thẳm sáng đầy sao
Trăng lên sáng trời trăng phải lặn
Giờ này đôi ta biết làm sao?
Đó là hiện tượng phổ biến trong ca dao, dân ca nói chung, ý tứ thường được triển khai trên những cái khuôn ước lệ có sẵn. Ví dụ: Ca dao người Kinh
thường có khuôn mẫu: Ngày ngày... Thân em... Nhưng điều đặc biệt đáng nói ở đây là lượn slương thường sử dụng cách diễn đạt ước lệ của văn chương cổ
điển để bộc lộ tình cảm trên một cái khuôn ước lệ dân gian.
Ta đây định vài lời chào trước,
Chẳng biết bạn có đáp lời hay không
Hay bạn muốn để ta phải chào suông!
Khách bao giờ cũng giữ ý tứ, không phải nghe lời mời là đáp ngay; buộc chủ phải tiếp tục:
Mở bài khai khấu ước chào xuân,
Đồn rằng chốn ấy đầy hải ân
Đồn rằng chốn ấy đầy xuân sắc
Sĩ tử xin chào để vui xuân!
Có khi chủ phải mời tha thiết:
Thời hoa với nguyệt chẳng lâu gì,
Xuân sắc đương thì được mấy khi,
Xuân sắc đương thì hãy kết bạn
Hoa tàn xuân vãn đời còn chi!
hay:
đầu,
được
chia
làm
Bạn hỡi khan ngay chớ để chờ,
Vì ngồi đợi sao, sao đã xa,
Vì ngồi đợi sao, sao đã sa xuống,
Tiếc chi tiếng hát với lời ca!
b) Khan: là đáp lời. Thoạt tiên khách thường hát dưới dạng từ chối:
Hôm nay em đi chợ về tối,