ĐẠI HỌC HUẾ
TRỪƠNG ĐẠI HỌC SU PHẠM
KHOA GIÁO DỤC MẦM NON
…………………………
BÀI TIỂU LUẬN
HỌC PHẦN: PHƯƠNG PHÁP TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG
KHÁM PHÁ MÔI TRƯỜNG XUNG QUANH CHO TRẺ
MẦM NON
Đề tài: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG QUAN SÁT CHO TRẺ
MẪU GIÁO 3-4 TUỔI THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG KHÁM PHÁ THIÊN
NHIÊN VÔ SINH Ở TRƯỜNG MẦM NON VỸ DẠ
Giảng viên hướng dẫn:
Sinh viên thực hiện:
ThS. Lê Thị Nhung
Nguyễn Như Quỳnh
Mã SV: 15S9021144
Lời cám ơn
Để hoàn thành tiểu luận môn học này, tôi xin chân thành cám ơn sâu sắc đến giảng
viên ThS. Lê Thị Nhung – người đã trực tiếp hướng dẫn tận tình, giúp đỡ tôi trong
suốt quá trình thực hiện tiểu luận.
Xin chân thành cám ơn ban giám hiệu trường mầm non Vỹ Dạ đã tạo điều kiện
cho tôi được đến quan sát và khảo sát tình hình thực tế của trường, tôi cũng xin
cám ơn các cô giáo trong trường đã không ngần ngại bỏ chút thời gian để cho tôi ý
kiến trong việc phát triển kỹ năng quan sát cho trẻ thông qua hoạt động khám phá
thiên nhiên vô sinh.
tích cực vào việc giáo dục toàn diện, trong đó có giáo dục tình cảm, trí tuệ, thầm
mĩ, đạo đức cho trẻ. Khi trẻ được làm quen với môi trường xung quanh, trẻ sẽ
được hòa mình với những thứ gần gũi xung quanh chúng từ đó việc tiếp thu những
kiến thức và những kĩ năng đối với trẻ trở nên đơn giản và dễ dàng hơn.
Trong hoạt động làm quen với môi trường xung quanh thì hoạt động khám
phá thiên nhiên vô sinh cũng có vị trí vô cùng quan trọng đối với sự phát triển toàn
diện của trẻ. Thiên nhiên vô sinh là tập hợp các yếu tố có bản chất vô cơ, có mặt ở
khắp nơi xung quanh chúng ta, nó ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng của động
thực vật, con người và ngược lại, nó cũng chịu ảnh hưởng của các yếu tố hữu sinh.
Do vai trò quan trọng của nó đối với đời sống con người và ảnh hưởng của nó đến
thiên nhiên hưu sinh, nên việc hướng dẫn cho trẻ làm quen với thiên nhiên vô sinh
là rất quan trọng.
Vấn đề đặt ra là làm thế nào để phát triển được khả năng quan sát của trẻ
trong hoạt động khám phá thiên nhiên vô sinh. Giúp trẻ phát huy được tính tích
cực và chủ động trong quan sát, từ đó trẻ tích luỹ được nhiều kinh nghiệm, vốn trí
thức của trẻ phong phú, hình thành những biểu hiện chính xác về các sự vật, hiện
tượng trong thế giới thiên nhiên vô sinh. Vì quan sát là một kĩ năng vô cùng quan
trọng là cơ sở ban đầu, đặt nền móng vững chắc cho những kĩ năng của nhận thức
và sự phát triển trí tuệ của trẻ sau này. Quan sát cũng là yếu tố đầu tiên giúp trẻ
tiếp nhận kiến thức về mọi mặt của đối tượng một cách dễ dàng và chính xác hơn
khi khám phá chúng.
Tuy nhiên trong thực tế, việc vận dụng khả năng quan sát của trẻ vào các
hoạt động còn chưa được quan tâm nghiên cứu thoả đáng để đúc kết thành lý luận
phổ biến trong ngành giáo dục mầm non. Hiện nay trong ngành giáo dục mầm
non, đa số các giáo viên trong các trường mầm non chưa nắm được các phương
pháp, biện pháp tổ chức cho trẻ quan sát khi làm khám phá thiên nhiên vô sinh.
Hình thức quan sát chủ yếu thông qua một số tiết học, hoạt động dạo chơi, nội
dung quan sát còn nghèo nàn, sơ sài, gò bó trong khoảng lớp học, ít đưa vào hoàn
cho trẻ sau này.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu lý luận và thực trạng về việc phát triển kỹ năng quan sát cho trẻ
mẫu giáo 3-4 tuổi thông qua hoạt động khám phá thiên nhiên vô sinh ở trường
mầm non Vỹ Dạ. Từ đó đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả phát triển
kỹ năng quan sát ở trẻ thông qua hoạt động khám phá thiên nhiên vô sinh.
6. Phương pháp nghiên cứu
6.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Sưu tầm, phân tích và tổng hợp các tài liệu, sách báo để tìm hiểu cơ sở lý
luận của các yếu tố có liên quan đến việc phát triễn kỹ năng quan sát cho trẻ mẫu
giáo 3-4 tuổi.
6.2 Nhóm phương pháp nghiên cưu thực tiễn
Điều tra bằng bảng hỏi: Điều tra giáo viên về việc phát triển kỹ năng quan
sát cho trẻ mẫu giáo 3-4 tuổi thông qua hoạt động khám phá thiên nhiên vô sinh.
Điều tra bằng trao đổi đàm thoại: thu thập thông tin qua việc trò chuyện, trao đổi
trực tiếp với giáo viên trong trường mầm non Vỹ Dạ về các vấn đề liên quan tới đề
tài
6.3 Nhóm phương pháp xử lý số liệu
Xử lý số liệu bằng phần mềm excel 2016
7. Phạm vi nghiên cứu
Trẻ mẫu giáo 3-4 tuổi ở trường mầm non Vỹ Dạ-TP Huế.
8. Đóng góp mới của đề tài
Đề ra các biện pháp giúp phát triển kỹ năng quan sát cho trẻ mẫu giáo 3-4
tuổi thông qua hoạt động khám phá thiên nhiên vô sinh.
sát. Những nhìn chung tác giả chỉ mới nêu một cách khái quát chưa đi sâu vào
từng kỹ năng trong từng lĩnh vự cụ thể.
TS Hoàng Thị Phương, giáo trình lí luận và phương pháp hướng dẫn trẻ
làm quen với môi trường xung quanh, đã nếu ra những vấn đề cơ bản về môi
trường xung quanh trẻ cần khám phá. Các mục tiêu, nội dung, phương pháp, và
môi trường... trong khám phá môi trường xung quanh. Trong giáo trình mới khái
quát về môi trường xung quanh nói chung chưa đi sâu vào cụ thể các môi trường
như thiên nhiên hữu sinh, vô sinh, môi trường xã hội....
Giáo viên Lê Thị Mi ở trường mầm non Hồng Thái Tây tỉnh Quảng Ninh
với sáng kiến kinh nghiệm về đề tài” một số biện pháp nâng cao khả năng quan sát
của trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi thông qua hoạt động làm quen với một số loại quả”.
Trong sáng kiến đã nếu ra được tầm quan trọng của kỹ năng quan sát đối với trẻ
em nói chung và trẻ 4-5 tuổi nói riêng, đồng thời đưa ra các biện pháp để nâng cao
kỹ năng quan sát cho trẻ khi tham gia hoạt động làm quen với một số loài quả.
Nhưng trong sáng kiến chưa nêu rõ các đặc điểm của kỹ năng quan sát.
Những tác giả trên chưa ai đi sâu phân tích những kỹ năng cụ thể như quan
sát, so sánh, phân tích... Và chưa có ai đi sâu vô phân tích các hoạt động cụ thể
trong khám phá môi trường xung quanh. Kỹ năng quan sát là một kỹ năng rất quan
trong đối với trẻ đó là tiền đề để thực hiên được các kỹ năng tiếp theo vậy nên tôi
xin chon đề tài” Thực trạng phát triển kỹ năng quan sát cho trẻ mẫu giáo 3-4 tuổi
thông qua hoạt động khám phá thiên nhiên vô sinh ở trường mầm non Vĩ Dạ” để
nghiên cứu.
1.2. Kĩ năng quan sát của trẻ mẫu giáo 3 – 4 tuổi
1.2.1. Kĩ năng
Trong cuộc sống người ta thường khen hành vi của một ai đó, ví dụ: Em
viết chữ đẹp thật, em thuyết trình thật hay... Điều này, có nghĩa là chúng ta đang
nói về những cá nhân ấy đã biết sử dụng kiến thức học được vào thực tế một cách
thuần thục các nhiệm vụ khác nhau của cuộc sống đó là kỹ năng. Có kỹ năng sẽ
Giúp học sinh biết cách tìm tòi để nhận ra yếu tố đã cho, yếu tố phải tìm và mối quan hệ
giữa chúng. Giúp học sinh hình thành mô hình khái quát để giải quyết các bài tập, các đối
tượng cùng loại. Xác lập được mối quan hệ giữa bài tập mô hình khái quát và các kiến
thức tương ứng.
1.2.2. Kĩ năng quan sát
Quan sát là sự tri giác sự vật, hiện tượng có kế hoạch có mục đích. Đó là
hoạt động nhận thức phức tạp, có sự tham gia của tri giác, tư duy, lời nói, sự chú ý
bền vững. Trong đó kinh nghiệm, tri thức, kĩ năng của trẻ có ý nghĩa lớn đối với
việc hiểu đối tượng quan sát. Khi tổ chức cho trẻ quan sát, giáo viên đồng thời giải
quyết các nhiệm vụ: cung cấp tri thức, hình thành kỹ năng quan sat, phát triển tính
ham hiểu biết, giáo dục thẩm mỹ[ 9; tr92].
Nói quan sát là một kỹ năng bởi nó không chỉ phụ thuộc vào thị giác, tích
cách con người mà còn có thể rèn luyện để phát triển. Và việc rèn luyện kỹ năng
này sẽ rất có ích cho công việc cũng như trong cuộc sống cho mỗi người. Vậy kỹ
năng quan sát là khả năng tri giác có mục đích nhằm phát hiện những đặc điểm
thuộc tính của sự vật, hiện tượng xung quanh.
Kỹ năng quan sát của mỗi con người không hoàn toàn bẩm sinh mà nó
được hình thành và phát triển trong quá trình hoạt động của con người, phụ thuộc
vào sự rèn luyện và giáo dục. Kết quả quan sát phụ thuộc trước hết vào mục đích
đặt ra rõ ràng đến mức nào, việc định hướng chú ý vào những đối tượng quan sát
và việc tổ chức kế hoạch tiến hành quan sát và cách thức quan sát.
Quan sát đóng vai trò quan trọng đối với nhận thức của con người về thế giới
trong hoạt động, nhất là trong lao động và trong nghiên cứu khoa học.
Đối với trẻ mầm non, nhất là trẻ mẫu giáo thì quan sát lại càng đóng vai trò
hết sức quan trọng trong quá trình nhận thức thế giới xung quanh. Do đó việc rèn
luyện và phát triển khả năng quan sát của trẻ là rất cần thiết. Độ tuổi mầm non là
giai đoạn đặt nền móng cho sự phát triển nhân cách toàn diện. Một đời sống tâm lý
Tri giác là gì? Theo tâm lý học tri giác là quá trình tâm lý phản ánh một
cách trọn vẹn các thuộc tính bên ngoài của sự vật hiện tượng đang trực tiếp tác
động vào các giác quan của chúng ta[2; tr124]. Tri giác phản ánh sự vật hiện tượng
theo những cấu trúc nhất định. Cấu trúc này không phải tổng số các cảm giác mà
là sự khái quát đã được trừu xuất từ cảm giác trong đó mối liên hệ qua lại giữa các
thành phần của cấu trúc ấy ở một khoảng thời gian nào đó. Ví dụ: nhìn một bức
tranh trẻ hiểu được bức tranh đó vẽ công viên, trường học hay một cánh đồng vì
các hình vẽ nằm trong cấu trúc nhất định, có mối quan hệ qua lại xác định, do đó
chúng tạo nên bức tranh tổng thể. Sự phản ánh này không phải đã có từ trước mà
nó diễn ra trong quá trình tri giác. Tri giác là quá trình tích cực được găn liền với
hoạt động của con người, nó mang tính tự giác, giải quyết một nhiệm vụ nhận thức
cụ thể nào đó, là một hành động tích cực trong đó có sự kế hợp của các yếu tố cảm
giác và vận động[2; tr127].
Tri giác có vai trò rất quan trọng trong quá trình quan sát. Với tư cách là
một mức độ nhận thức cảm tính cao hơn cảm giác, tri giác có vai trò quan trong
đối với con người nói chung và với trẻ em nói riêng, nó là thành phần chính của
nhận thức cảm tính, nhất là với người trưởng thành. Tri giác là một điều kiện quan
trọng cho sự định hướng hành vi và hoạt động của con người trong môi trường
xung quanh. Hình ảnh của tri giác thực hiên chức năng điều chỉnh các hành động.
Đặc biệt hình thức tri giác cao nhất, tích cực nhất chủ động và có mục đích là quan
sát đã làm cho tri giác của con người khác xa tri giác của con vật.
Ở độ tuổi 3-4 tuổi trẻ đã làm chủ được tri giác của mình, dưới sự hướng dẫn
bằng lời của người lớn, trẻ đã biết tri giác nhất là những đồ vật quen thuộc. Trẻ tự
tổ chức được quá trình tri giác của mình. Trong qúa trình tri giác trẻ rất tò mò, ham
hiểu biết, hay đặt câu hỏi vì sao, vì sao chiếc lá có màu xanh, vì sao trời mưa... Vì
ở độ tuổi này trẻ có những biểu hiện của khủng hoảng tuổi lên 3 nên nhu cầu quan
sát tìm tòi về cuộc sống, thế giới xung quanh, nhu cầu thích làm người lớn rất cao.
Trẻ luôn suy nghĩ người lớn làm được thì mình cũng làm được mà không biện tự
Đối với trẻ 3-4 tuổi đây là một bước ngoặc mới của sự tư duy. Đến đầu tuổi
mẫu giáo tư duy của trẻ có một bước ngoặc rất cơ bản. Đó là chuyển từ tư duy
bình diện bên ngoài vào bình diện bên trong mà thực chất đó là việc chuyển những
hành động định hướng bên ngoài thành những hành động định hướng bên trong
theo cơ chế nhập tâm. Quá trình tư duy cuả trẻ đã băt đầu dựa vào những hình ảnh
của sự vật và hiện tượng đã có trong đầu, cũng có nghĩa là chuyển từ kiểu tư duy
trực quan - hành động sang kiểu tư duy trực quan - hình tượng. Đồng nghĩa với
việc này thì quan sát đối với trẻ trở nên dễ dàng hơn, trẻ không cần phải thao tác
nhiều với sự vật hiện tượng mà trước đó ở lứa tuổi nhà trẻ thường hay làm mà trẻ
chỉ cần nhìn vào sự vật hiện tượng đã biết được tên gọi của sự vật hiện tượng đó,
đồng thời cô sẽ sử dụng lời nói khiến trẻ tìm hiểu sâu hơn về sự vật hiện tượng đó.
Tuy nhiên bước chuyển này mới chỉ là một bước nhảy từ bờ bên này( tuy duy bình
diện bên ngoài, tư duy trực quan - hành động) sang bờ bên kia( tư duy bình diện
bên trong, tư duy trực quan - hình tượng) nên nó mới chỉ là điểm khởi đầu của
loại tư duy mới. Tư duy của trẻ mẫu giáo bé đạt tới tư duy trực quan hình tượng,
nhưng hình tượng và biểu tượng trong đầu trẻ vẫn còn gắn liền với hành động. Thí
nghiệm sau đây sẽ chứng minh điều đó rõ ràng: Người ta đưa ra một bài toán cho
những trẻ em thuộc ba độ tuổi: mẫu giáo bé (3-4 tuổi) mẫu giáo nhỡ (4-5 tuổi)
mẫu giáo lớn (5-6 tuổi). nội dung bài toán đó là, trước mắt các em là một thanh gỗ
được đặt lên cái trục sao cho thanh gỗ có thể xoay được, một đầu thanh gỗ ở gần
đứa trẻ còn đầu kia thì ở xa nhưng lại có treo ở đấy một thứ đồ chơi khá hấp dẫn.
Vấn đề là làm sao có thể lấy được cái đồ chơi đó. Để giải bài tóan này thì 2 nhóm
có 2 cách khác nhau. Mẫu giáo bé( 3-4 tuổi) : Đại bộ phận trẻ đều cầm ngay lấy
đầu thanh gỗ ở gần rồi đẩy đi đẩy lại, và tình cờ khi đầu thanh gỗ bị đẩy ra xa thì
lập tức đầu kia có treo đồ chơi lại chuyển đến gần, và em bé có thẻ lấy đồ chơi một
cách dễ dàng và ngẫu nhiên. Mẫu giáo nhỡ và mẫu giáo lớn: Trẻ không vội làm
ngay mà phải ngẫm nghĩ một lúc, sau đó mới đưa tay đẩy đầu thanh gỗ ở phía
mình ra xa, do đó đầu bên kia có đồ chơi sẽ lập tức lại gần, và em bé đưa tay ra lấy
đồ chơi một cách dễ dàng. Khi hỏi các em tại sao làm như vậy thì có em trả lời” Vì
đồ của mình. Đó là ở người lớn nhưng còn ở trẻ em ở đầu lứa tuổi mẫu giáo, thì trẻ
đã biết tư duy nhưng tư duy của trẻ chưa đạt tới trình độ cần thiết để phát hiện ra
quy luật khách quan, bởi vì tư duy vẫn còn dính liền với hành động, lại bị chí phối
bởi những cảm xúc, khiến cho trẻ khó nhận biết được đâu là thế giới bên trong,
đâu là thế giới bên ngoài. Trẻ chưa nhận ra được rằng những ý nghĩ, những ý
muốn trong tâm trí của mình chỉ là hình ảnh hay tượng trưng trong đầu óc của
mình cũng chính là sự vật. Ranh giới giữa cái thực và cái hư, giữa ý nghĩ của mình
và ý nghĩ của người chưa rõ[5; tr269]
Trẻ cũng rất hay để ý đến những chi tiết vụn vặt, bởi vì những chi tiết ấy
đối với trẻ lại là tổng thể. Trẻ không bao quát được khi nhìn một sự vật bao gồm
nhiều chi tiết phức tạp mà chỉ để tâm lần lược đến từng chi tiết một và không liên
kết các chi tiết ấy lại với nhau thành một tổng thể. Chẳng hạn đưa ra cho trẻ một
bức tranh nông thôn thì trẻ chỉ lần lược nhận ra đây là cái cây, đây là cái nhà, đây
là con gà...
Đặc biệt trẻ không nhận ra những mối liên quan giữa các chi tiết bộ phận trong
một sự vật. Mỗi chi tiết mỗi bộ phận để lại trong trí óc trẻ như một biểu tượng hỗn
thể, tách biệt tự tại
Về khả năng ngôn ngữ của trẻ.
Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu đặc biệt bởi vì nó bao gồm các yếu tố
(đơn vị: âm vị, hình vị, từ, câu và các đơn vị trên câu) và các quan hệ giữa những
yếu tố đó (quan hệ truyền tính- ngang và quan hệ liên tưởng-dọc). Ta hiểu khái
niệm tín hiệu là một sự vật( hoặc một thuộc tính của vật chất, một hiện tượng) kích
thích vào giác quan của con người, làm cho con người tri giác được và lĩ giải, suy
diễn tới một cái gì đó ngoài sự vật đó( đại diện cho một cái gì đó không phải là
chính nó[6; tr7].
Có thể nói ngôn ngữ liên quan đến tất cả các quá trình tâm lí của con người,
đặc biệt là các quá trình nhận thức. Ngôn ngữ làm cho quá trình tri giác diễn ra dễ
dàng, nhanh chóng hơn và làm cho các tri giác trở thành khách quan đầy đủ và rõ
khái quát bước phát triển ngôn ngữ như sau. Đối với trẻ 3-4 tuổi trẻ đã bắt đầu biết
bắt chước những lời nói của người lớn một cách chính xác hơn, ví dụ” chúng mình
thích cái đó, có phải không nhỉ”. trẻ có thể phát âm rõ hơn, người lạ cũng có thể
hiểu được lời nói của trẻ, trẻ có thể nói các câu dài từ 4 từ trở lên và trẻ biết nói
đúng ngữ pháp nhưng vẫn mắt phải một số lỗi ngữ pháp. Vốn từ vững của trẻ giai
đoạn nãy cũng tăng nhanh và cao, trẻ có thể nhận biết được các bộ phận trên cơ
thể, tên các đồ vật, đồ chơi vật nuôi trong gia đình, trẻ nhận biết và hiểu được các
bài hát, bài thơ dành cho trẻ nhỏ. Đặc biệt trẻ đã có thể tham gia đặc câu hỏi ở các
tình huống đơn giản.
Về đặc điểm ngôn ngữ mạch lạc, ngôn ngữ mạch lạc là ngôn ngữ được
trình bày có lôgic, có trình tự chính xác, đúng ngữ pháp và có hình ảnh. Ngôn ngữ
mạch lạc sẽ giúp trẻ phát triển khả năng nghe, hiểu ngôn ngữ, khả năng trình bày
có loogic, trình tự, chính xác, đúng ngữ pháp và có hình ảnh một nội dung nhất
định. Với trẻ 3-4 tuổi thì đặc điểm ngôn ngữ mạch lạc của trẻ còn chưa phát triển
mạnh. Trẻ có thể hiểu và trả lời được các câu hỏi của người lớn, nhưng trẻ chỉ đàm
thoại được những gì trẻ đang tri giác. Trẻ bắt đầu biết trình bày sự hiểu biết của
mình một cách có liên kết. Trẻ có thể nghe và hiểu được khi người lớn đọc hoặc kể
về những điều phù hợp với nhận thức của trẻ. Nhưng ngôn ngữ của trẻ còn mang
nặng tính ngữ cảnh, trẻ còn nói láu táu, chưa rõ ràng, còn phải sử dụng nhiều đến
cử chỉ, điệ bộ trong khi diễn đạt[3; tr90]. Về đặc điểm vốn từ của trẻ ở giai đoạn
này, trẻ 3 tuổi đã có 500 từ với tốc độ gia tăng vốn từ là 107%, trẻ 4 tuổi có 700 từ
tố độ gia tăng vốn từ là 40%[6; tr109]. Theo nghiên cứu của E.Arkin: Số lượng từ
ngữ trong giai đoạn 3 – 4 tuổi khoảng từ 800 – 1926 từ. Về mặt cơ cấu từ loại thì
trẻ 3-4 tuổi, về cơ bản trong vốn từ của trẻ đã có đủ các từ lọa. Tuy nhiên tỉ lệ danh
từ và động từ nhiều hơn so với các loại từ khác: Danh từ chiếm 38%, động từ
chiếm 32%,còn lại là tính từ chiếm 6,8%, đại từ 3,1%, phó từ 7,8%, tình thái từ
4,7% , quan hệ từ và số từ còn ít xuất hiện( số từ 2,5% quan hệ từ 1,7% [6; tr110].
Như vậy cho thấy trẻ từ 3-4 tuổi khả năng phát triển vôn từ tăng rất nhanh,
Về khối lượng chú ý: Khối lượng chú ý tăng đáng kể. Khối lượng chú ý không chỉ
là số lượng đồ vật trong cùng một thời điểm trẻ tri giác được, mà ngay một vật trẻ
chú ý được nhiều thuộc tính, tính chất hơn. Khối lượng chú ý của trẻ cũng tăng lên
dưới tác động của ngôn ngữ.
Về tính bền vững của chú ý: Tính bền vững của chú ý tăng đáng kể. Theo số liệu
nghiên cứu thì trẻ 3 – 4 tuổi chú ý được 27 phút so với trẻ 1 tuổi là 14,5 phút. Vì
thế khi cho trẻ quan sát, để đạt hiệu quả cao thì nên quan sát trong khoảng thời
gian 27 phút, nếu kéo dài quá sẽ dẫn tới tình trạng nhàm chán và mất hứng thú cho
trẻ.
Về tính chủ định của chú ý, loại chú ý có mục đích định trước và có sự nỗ lực cố
gắng của bản thân. Chú ý có chủ định phụ thuộc chủ yếu vào việc xác định nhiệm
vụ cần thực hiện để đạt mục đích tự giác, nó không phụ thuộc vào các đặc điểm
của kích thích[2; tr85] Giai đoạn này thì chú ý phát triển mạnh nhưng mới chỉ ở
giai đoạn đầu còn sơ khai và cần đến sự tác động của các yếu tố bên ngoài. Để
duy trì chú ý có chủ định, cần có một số điều kiện cần thiết như sau:
Yếu tố khách quan: phải tạo ra hoàn cảnh tốt, yên tĩnh, thuận lợi cho công việc.
Loại bỏ hoặc giảm bớt những kích thích không liên quan. Trong khi quan sát cũng
vậy để tạo ra chú ý có chủ định cho trẻ giáo viên cần hướng trẻ đến mục đích nhất
định, khi cô giới thiệu thì phải để trẻ thật trật tự mơ mới giới thiệu, đối tượng cô
giới thiệu phải được độc lập không có nhiều đối tượng khác ở gần hay ở trên đối
tượng cần quan sát, tránh hiện tượng phân tán sự chú ý của trẻ vào đối tượng lạ.
Yếu tố chủ quan: Phải xác định mục đích rõ ràng, dự kiến được những khó khăn
và cố gắng nỗ lực vượt qua. Mặt khác, phải tổ chức tốt các hành động để đảm bảo
hoạt động kết quả. Chính quá trình hoạt động và kết quả hoạt động cũng là điều
kiện duy tri chú ý có chủ định. Vậy nên trong quá trình tổ chức khám phá đối
tượng cô nên động viên khích lệ trẻ quan sát hết các đặc điểm đối tượng, tạo nhiều
câu đố câu hỏi gây hứng thú khi quan sát.
Như vậy khả năng quan sát của trẻ cũng phụ thuộc vào khả năng chú ý của trẻ ở
Thiên nhiên vô sinh là những sự vật và hiện tượng trong thế giới tự nhiên,
bao gồm sỏi, cát, đất, đá, nước, không khí, ánh sáng…,thiên nhiên vô sinh không
có quá trình đồng hoá và dị hoá, chúng không sinh ra mà chỉ bị tan rã và bị bào
mòn do ảnh hưởng của những hiện tượng tự nhiên, chúng rất gần gũi với con
người, bao quanh con người và có ảnh hưởng rất lớn đến sự tồn tại và phát triển
của con người. Vật liệu trong thiên nhiên vô sinh vừa là phương tiện, vừa là đối
tượng kích thích trẻ hoạt động để phát triển về thể chất và tinh thần. Vì chính trong
quá trình hoạt động với vật liệu của thiên nhiên, trẻ em có thể phát hiện ra nhiều
điều kỳ thú, hấp dẫn, làm nảy sinh ở trẻ những xúc cảm tinh tế, tạo ra trạng thái
tinh thần dễ chịu và thoải mái.
Có thể nói rằng nơi nào có nhiều sỏi, cát, đất đá, nước, ánh sáng… thì nơi đó có
sức quyến rũ đối với trẻ, vì đến với thiên nhiên vô sinh là sở thích vốn có của trẻ,
nhưng không phải cứ đến với thiên nhiên vô sinh là trẻ biết phát hiện và cảm thụ
được tính chất riêng biệt của nó. Nhiều cháu đến với thiên nhiên vô sinh là để
chơi, để nghịch cho thoả thích, nhiều khi còn có hành động phá phách nữa, do đó
người lớn cần phải dạy trẻ biết ngắm nhìn, quan sát và hoạt động với thiên nhiên
vô sinh với thái độ say mê, trân trọng, cần phải tạo điều kiện để trẻ được tiếp xúc
với thiên nhiên vô sinh không chỉ qua các buổi đi dạo, đi chơi, tham quan mà cả
trên tiết học cụ thể nữa.
Về đặc điểm của các đối tượng trong thiên nhiên vô sinh:
Nước: nước chiếm 3/4 diện tích trái đất. Thiếu nước thì người, động vật, thực vật
không thể tồn tại được. Nước cung cấp nhu cầu ăn uống, sinh hoạt và tham gia vào
mọi quy trình công nghệ sản xuất của con người. 97% nước trên Trái Đất là nước
muối, chỉ 3% còn lại là nước ngọt nhưng gần hơn 2/3 lượng nước này tồn tại ở
dạng sông băng và các mũ băng ở các cực. Phần còn lại không đóng băng được
tìm thấy chủ yếu ở dạng nước ngầm, và chỉ một tỷ lệ nhỏ tồn tại trên mặt đất và
trong không khí.
Nước ngọt là nguồn tài nguyên tái tạo, tuy vậy mà việc cung cấp nước ngọt và
sét. Đất có màu đỏ, vàng do có nhiều hợp chất sắt, nhôm.
Nhóm đất mùn núi cao khi lên núi cao, nhiệt độ giảm dần, đất feralit chuyển dán
sang các loại đất mùn feralit và đất mùn núi cao, hình thành dưới thảm rừng á
nhiệt đới hoặc ôn đới vùng núi cao. Nhóm đất này chiếm khoảng 11% diện tích đất
tự nhiên, chủ yếu là đất rừng đầu nguồn cần được bảo vệ.
Nhóm đất bồi tụ phù sa sông và biển chiếm 24% diện tích đất tự nhiên.
Nhóm đất này tập trung tại các đồng bằng lớn, nhỏ từ bắc vào nam. Rộng lớn và
phì nhiêu nhất là đồng bằng sông Cửu Long (40 000 km2) và đồng bằng sông
Hồng (15 000 km2).
Độ phì của đất phù sa phụ thuộc vào đặc tính phù sa của các sông và chế độ canh
tác của con người. Đất phù sa nhìn chung rất phì nhiêu, dễ canh tác và làm thủy
lợi. Đất tơi xốp, ít chua, giàu mùn... thích hợp với nhiều loại cây trồng (lúa, hoa
màu, cây ăn quả v.v...). Nhóm đất này cũng chia thành nhiều loại và phân bố ở
nhiều nơi : đất trong đê, đất ngoài đê (hay đất bãi bồi) khu vực sông Hồng ; đất
phù sa cổ miền Đông Nam Bộ ; đất phù sa ngọt dọc sông Tiền. sông Hậu ; đất
chua, mặn, phèn ở các vùng trũng Tây Nam Bộ v.v...
Không khí: là lớp khí quyển bao quanh quả đất, có không khí thì mới có sự
sống.Thành phần cơ bản của không khí gồm: nitơ và oxy chiếm 99% với tỷ lệ:
nitơ 78%, oxy 21%. Ngoài ra còn có một ít khí cácbonic do các loài sinh vật thải
ra, còn lại khoảng 1% là các chất khí hiếm như ar (argon), Ne (neon), He (heli), Kr
(kripton) và Xe (xenon).
Bầu không khí trên mặt đất có chiều cao nhiều kilomet. Vì không khí là một loại
vật chất, cho nên lực hấp dẫn của trái đất hút chặt, làm cho nó được giữ lại trên
Trái đất. Vì thế, không khí cũng có trọng lượng. Trọng lượng không khí sinh ra áp
lực đối với mọi vật và nó đè lên chúng ta giống như đang lặn dưới nước vậy.
Khi ta leo lên núi cao hoặc khi ngồi trong máy bay ở trên cao không khí loãng
hơn nên áp lực không khí đè lên người cũng giảm đi. Ở độ cao khoảng 13km, áp
lực không khí chỉ còn 1/8 áp lực trên mặt biển. Ở độ cao khoảng 100km, áp
đến những lợi ích mà thiên nhiên vô sinh mang lại cho con người lẫn động thực
vật từ đó giáo dục cho trẻ tình yêu thiên nhiên vô sinh, để trẻ có những thái độ tích
cực(bảo vệ, tiết kiệm, giữ gìn) với các đối tượng trong môi thiên nhiên vô sinh, từ
đó hình thành tình yêu thiên nhiên vô sinh, thích khám phá thiên nhiên vô sinh cho
trẻ. Đối với độ tuổi 3-4 tuổi: có thái độ yêu quý, trân trọng và có tình yêu với thiên
nhiên vô sinh.
Các mục đích trên được tiến hành trong quá trình tổ chức hoạt động khám phá
thiên nhiên vô sinh ở trường mầm non. Sự tăng dần về kiến thức, kĩ năng, thái độ
phụ thuộc vào độ tuổi trẻ, trẻ ở độ tuổi càng lớn thì việc đặc ra mục tiêu khi tổ
chức hoạt động sẽ tăng dần về số lượng và độ khó. Và luôn hướng tơi sự phát triển
toàn diện của trẻ.
1.3.2.2. Nội dung của hoạt động cho trẻ khám phá thiên nhiên vô sinh
Thiên nhiên vô sinh là những sự vật và hiện tượng trong thế giới tự nhiên,
bao gồm sỏi, cát, đất, đá, nước, không khí, ánh sáng…,thiên nhiên vô sinh không
có quá trình đồng hoá và dị hoá, chúng không sinh ra mà chỉ bị tan rã và bị bào
mòn do ảnh hưởng của những hiện tượng tự nhiên, chúng rất gần gũi với con
người, bao quanh con người và có ảnh hưởng rất lớn đến sự tồn tại và phát triển
của con người. Tuy nhiên với những hạn chế về độ tuổi, trẻ không thể hiểu biết
được tất cả các đặc điểm, tính chất, thuộc tính, công dụng, ảnh hưởng của thiên
nhiên vô sinh. Vì vậy việc lựa chọn các đối tượng cho trẻ tiếp cận và xác định
những kiến thức cần khái thác ở đối tượng phù hợp với trẻ ở độ tuổi ( 3-4) này là
rất quan trọng, phải dựa trên các nguyên tắc nhất định sau đây:
Thứ nhất đảm bảo tính mục đích: Nôi dung được đặc ra phải hướng tới việc
thực hiện mục đích của khám phá thiên nhiên vô sinh nói riêng và mục tiêu của
chương trình giáo dục mầm non nói chung. Đó là hình thành những biểu tượng
đúng về thế giới thiên nhiên vô sinh, giáo dục tình cảm, thái độ và rèn luyện kĩ
năng, hành vi phù hợp với mục tiêu đặt ra cho trẻ. Cần lựa chọn những nội dung
cơ bản, phổ biến, phù hợp với lứa tuổi về khả năng nhận thức của trẻ, tạo điều kiện