ĐẠI HỌC HUẾ
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
NGUYỄN THÙY TRANG
TIỂU THUYẾT VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1986 – 2014
TỪ GÓC NHÌN PHÊ BÌNH SINH THÁI
Chuyên ngành: VĂN HỌC VIỆT NAM
Mã số
: 62 22 01 21
LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC VIỆT NAM
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học:
1. PGS.TS ĐỖ LAI THÚY
2. TS. TÔN THẤT DỤNG
HUẾ - NĂM 2018
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ....................................................................................................................1
1. Lí do chọn đề tài ......................................................................................................1
2. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu ...........................................................................2
2.1. Đối tƣợng nghiên cứu ...........................................................................................2
2.2. Phạm vi nghiên cứu ..............................................................................................2
3. Cơ sở lí thuyết và phƣơng pháp nghiên cứu ...........................................................2
3.1. Cơ sở lí thuyết.......................................................................................................2
3.2. Phƣơng pháp nghiên cứu .......................................................................................3
3.1.2. Sự mơ hồ sinh thái – những ngộ nhận trong quy luật sinh tồn .......................67
3.2. Kiểu nhân vật nạn nhân sinh thái – hậu quả của văn minh ................................74
3.2.1. Nông dân, ngƣời nghèo và dấu ấn của sinh thái giai cấp ................................75
3.2.2. Thị dân, trí thức và làn sóng sinh thái đô thị...................................................81
3.2.3. Nữ giới và những thấu chạm sinh thái nữ quyền ............................................86
3.3. Kiểu nhân vật thức tỉnh – ý niệm về sự hợp nhất ..............................................91
3.3.1. Sám hối, trăn trở – niềm kính sợ sinh mệnh ...................................................91
3.3.2. Bảo vệ tự nhiên – nỗ lực tái thiết Trái đất.......................................................95
3.3.3. Hƣớng đến lối sống điền viên – cuộc hành hƣơng về với tự nhiên ..............100
CHƢƠNG 4. PHỤC HƢNG TINH THẦN SINH THÁI TỪQUYỀN LỰC VĂN
HÓA ........................................................................................................................105
4.1. Quyền lực của diễn ngôn – những khai mở nhãn quan văn minhđƣơng đại ...107
4.1.1. Định hình diễn ngôn lãng mạn tự nhiên trong tầm nhận thức mới .......................... 108
4.1.2. Kiến tạo diễn ngôn sinh thái hiện đại – tƣởng tƣợng khác về môi trƣờng............... 117
4.2. Quyền lực liên văn bản – tạo liên kết với tổng thể sống linh thiêng trong vũ trụ .124
4.2.1. Sự biện chứng giữa văn chƣơng và thực tế ...................................................124
4.2.2. Những huyền tích, tập tục nhƣ cách thức điều chỉnh tƣ duy về Trái đất ................. 131
KẾT LUẬN ............................................................................................................141
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ CÓ LIÊN
QUAN ĐẾN LUẬN ÁN ........................................................................................145
TÀI LIỆU THAM KHẢO ....................................................................................146
PHẦN PHỤ LỤC
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Bƣớc sang thế kỉ XXI, khi khoa học kĩ thuật – công nghệ và văn minh nhân loại
đã đạt những thành tựu vƣợt bậc, và khi con ngƣời trở thành “bá chủ” trong hành tinh
Trái đất, thì cũng chính là lúc nhân loại phải đối mặt với một vấn nạn bức thiết: sự hủy
hoại môi trƣờng sinh thái ngày càng tàn khốc. Cái giá mà nhân loại phải trả cho những
nhân loại? Đó cũng chính là sứ mệnh của văn học sinh thái. Vì lẽ đó, chúng tôi lựa chọn
đề tài: Tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn 1986 – 2014 từ góc nhìn phê bình sinh thái. Hƣớng
nghiên cứu này sẽ góp phần khỏa lấp mảng trống của phê bình sinh thái trong văn học
Việt Nam; đồng thời thúc đẩy các nhà văn chú ý nhiều hơn đến đề tài môi trƣờng và mối
quan hệ giữa văn học với môi trƣờng, trách nhiệm của nhà văn với giới tự nhiên và sự an
nguy, tồn vong của dân tộc, nhân loại; thể hiện sự gắn kết giữa khoa học với thực tiễn,
đƣa văn học Việt Nam hội nhập và phát triển trong bối cảnh toàn cầu hóa.
2. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
2.1. Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu của luận án là tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn sau 1986.
Đặc biệt luận án khảo sát những tiểu thuyết của một số tác giả mà cảm thức sinh thái
hiện lên khá rõ nét, tiêu biểu nhƣ: Đỗ Phấn (Gần như là sống; Ruồi là ruồi, Rụng xuống
ngày hư ảo), Nguyễn Khắc Phê (Thập giá giữa rừng sâu); Trần Duy Phiên (Trăm năm
còn lại); Nguyễn Ngọc Tƣ (Sông); Đỗ Bích Thúy (Bóng của cây sồi, Chúa đất), Ma Văn
Kháng (Chó Bi, đời lưu lạc), Nguyễn Thế Hùng (Họ vẫn chưa về), Đặng Thiều Quang
(Săn cá thần), Bùi Ngọc Tấn (Biển và chim bói cá), Nguyễn Xuân Thủy (Nhắm mắt
nhìn trời), A Sáng (Thân xác), Đỗ Tiến Thụy (Con chim joong bay từ A đến Z)… Danh
mục cụ thể các tác phẩm khảo sát trong luận án chúng tôi sẽ đƣa vào phần Phụ lục 1.
2.2. Phạm vi nghiên cứu
Dù luận án có tên: Tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn 1986 – 2014 từ góc nhìn phê
bình sinh thái, nhƣng mốc giai đoạn 1986 – 2014 chỉ mang tính chất đánh dấubƣớc khởi
đầu một thời kì văn học sau Đổi mới cho đến năm 2014 – là thời điểm chúng tôi tiếp nhận
đề tài nghiên cứu. Về cơ bản, những vấn đề sinh thái trong tiểu thuyết Việt Nam thể hiện
rõ nét vào những năm đầu thế kỉ XXI cho đến tận bây giờ. Vì thế, chúng tôi cũng khảo sát
thêm cả những tiểu thuyết sau năm 2014 (cụ thể là 2015, 2016, 2017).
Luận án tập trung nghiên cứu những yếu tố thể hiện dấu ấn sinh thái trong tiểu
thuyết Việt Nam giai đoạn sau 1986 đến nay trên các phƣơng diện cơ bản sau: hệ sinh
thái, hình tƣợng con ngƣời và các hình thức nghệ thuật thể hiện góc nhìn sinh thái.
3. Cơ sở lí thuyết và phƣơng pháp nghiên cứu
3.1. Cơ sở lí thuyết
ngƣời nghiên cứu có thể khẳng định vai trò quan trọng của lí thuyết phê bình sinh thái
trong việc thay đổi nhận thức, thái độ của nhà văn, độc giả, cũng nhƣ cộng đồng trên
thế giới về mối quan hệ giữa con ngƣời và tự nhiên trong thế bình đẳng, tƣơng trợ,
giao hòa. Phƣơng pháp này còn giúp tiến hành nghiên cứu văn chƣơng đƣợc toàn diện
hơn khi liên hệ với các lĩnh vực khác liên quan đến bảo vệ môi trƣờng, bảo vệ Trái đất,
nhƣ sinh học, địa lí, vật lí…
3
4. Đóng góp của luận án
Thứ nhất, từ sau năm 1986 đến nay, văn học Việt Nam đã hòa mình trong xu
thế toàn cầu hóa, không ngừng giao lƣu, tiếp nhận những lí thuyết phê bình mới mẻ,
nhân văn và ứng dụng tinh chọn, hiệu quả nhƣ: thi pháp học, tự sự học, phân tâm học,
hậu hiện đại, hậu thực dân, nữ quyền luận… Tuy nhiên, phê bình sinh thái vẫn còn là
mảng đề tài, sáng tác, phê bình ít đƣợc các nhà nghiên cứu quan tâm. Cho nên, triển
khai đề tài “Tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn 1986 – 2014 từ góc nhìn phê bình sinh
thái” sẽ đƣa ra những minh chứng về mối liên hệ mật thiết giữa văn học với môi
trƣờng sinh thái, và vai trò quan trọng của văn chƣơng đối với sự thức tỉnh của con
ngƣời trong việc tàn phá, xâm lấn môi sinh.
Thứ hai, vận dụng lí thuyết phê bình sinh thái, chúng tôi minh giải những đặc trƣng
tiêu biểu của tiểu thuyết Việt Nam từ sau Đổi mới đến nay qua những vấn đề căn bản:
- Tiểu thuyết Việt Nam đang bƣớc vào quỹ đạo mới của kỉ nguyên hậu hiện đại
qua những phân nhánh nhƣ phê bình sinh thái. Điều này thể hiện rõ ở tính chất giải cấu
trúc phê bình sinh thái trong tiểu thuyết.
- Quá trình tái thiết quan niệm mới về tự nhiên thông qua sự lật đổ quan niệm “nhân
loại trung tâm”. Trên cơ sở này, xác lập hệ chuẩn tắc đạo đức sinh thái của con ngƣời.
- Gợi mở vấn đề sinh thái tinh thần nhƣ một hành trình phục hƣng lại giá trị cao
đẹp của văn hóa nhân loại trong tâm thức và lối hành xử với tự nhiên.
- Khẳng định văn học cũng đóng một vai trò quan trọng trong sự sinh tồn và phát
sinh thái đang ở mức báo động, đe dọa sự sống còn của Trái đất. Vì vậy, tìm hiểu tổng
quan tình hình nghiên cứu của đề tài phải xem xét từ bình diện khái quát đến cụ thể.
Về cơ bản, những thành tựu trong nghiên cứu phê bình sinh thái trên thế giới nói
chung, ở Việt Nam nói riêng đƣợc khởi thành, đóng góp từ những công trình, những
bài nghiên cứu đáng chú ý sau:
1.1. Nghiên cứu lí thuyết phê bình sinh thái
1.1.1. Nghiên cứu lí thuyết phê bình sinh thái trên thế giới
Từ khi ra đời đến nay, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu – phê bình có liên
quan luận bàn về lí thuyết và ứng dụng phê bình sinh thái trong nghiên cứu văn học/
văn hóa. Do khuôn khổ của luận án và khả năng tƣ liệu, chúng tôi chỉ quan tâm đến
những nghiên cứu lí thuyết phê bình sinh thái trên mảng tƣ liệu tiếng Anh. Hơn nữa,
nhìn nhận quá trình hoạt động và phát triển của phê bình sinh thái, chúng tôi xin chia
thành ba chặng đƣờng nghiên cứu cơ bản sau:
1.1.1.1. Chặng một từ 1972 đến 1991: Thời kì manh nha
Đến nay, nhiều nhà nghiên cứu đều thừa nhận, phê bình sinh thái chính thức bắt
nguồn từ Mĩ, cụ thể vào năm 1972, cuốn sách Hài kịch của sinh tồn: nghiên cứu sinh thái
học văn học (The Comedy of Survival: Studies in Literary Ecology) của W. Meeker xuất
bản, ông đã chú ý đến vấn đề sinh thái trong văn học. Bằng việc phân tích một số sáng tác
của Dante Alighieri, William Shakespeare, cùng một số nhà văn đƣơng đại, Meeker nhận
thấy văn học nhƣ là một sự mô phỏng, bắt chƣớc những phạm trù căn bản của cuộc sống
con ngƣời. Hơn nữa, soi chiếu kịch Hi Lạp cổ đại, kịch của William Shakespeare, Meeker
còn tìm thấy những điểm khác biệt đáng kể giữa hài kịch và bi kịch liên quan đến cái nhìn
về tự nhiên: bi kịch hầu nhƣ chỉ là sự sáng tạo của nền văn minh phƣơng Tây, phát sinh từ
những huyền thoại anh hùng, ca ngợi sự vĩ đại của con ngƣời; trong khi đó hài kịch “gần
nhƣ phổ biến, xảy ra bất cứ nơi nào có văn minh nhân loại hiện hữu”. Bi kịch tập trung
5
vào một anh hùng cá nhân “chịu chết và sẵn sàng chết vì lí tƣởng của mình”. Hài kịch lại
nhìn những lí tƣởng, những siêu việt hay chiến thắng của một cá nhân với cái nhìn giễu
học (Revaluing Nature: Toward an ecological criticism) đã lần nữa khẳng định sự hiện diện
của phê bình sinh thái rất thiết thực trong văn học và lí luận phê bình hiện đại.
Năm 1990, cuốn The Norton: Cuốn sách của lối viết tự nhiên (The Norton: book
of nature writing) do Robert Finch và John Elder chủ biên ra đời, đã giới thiệu những
tác phẩm quan trọng viết về tự nhiên của Âu Mĩ từ thế kỉ XVIII. Hiệu ứng cuốn sách
mang lại là sự mở rộng hiểu biết của độc giả về phê bình sinh thái, đƣa lí thuyết này đến
gần hơn với mọi ngƣời.
Đến năm 1991, hội thảo “Phê bình sinh thái: Xanh hóa nghiên cứu văn học”
(Ecocriticism: The Greening of Literary Studies) do Harold Fromm chủ trì đã diễn ra
tại Hội Ngôn ngữ học Hiện đại Mĩ, tập hợp những công trình nghiên cứu về “lối viết tự
nhiên” và văn học viết về môi trƣờng. Cũng trong năm này, tại Anh, Jonathan Bate
(Đại học Liverpool) xuất bản chuyên luận Sinh thái học lãng mạn: Wordsworth và
truyền thống môi trường (Romantic Ecology: Wordsworth and the Environmental
Tradition). Khi nghiên cứu, J. Bate đã sử dụng thuật ngữ “phê bình sinh thái văn học”
(literary ecocriticism). Các chuyên gia cho rằng, sự xuất hiện của cuốn sách này đánh
dấu bƣớc mở đầu của phê bình sinh thái Anh.
Ở giai đoạn này, phê bình sinh thái vẫn đang bƣớc những bƣớc đầu tiên chậm
rãi và chƣa có hệ thống. Các nhà nghiên cứu văn học và văn hóa đã phát triển lí thuyết
và phê bình về phƣơng diện sinh thái bằng cách tiếp cận liên ngành. Nhƣng các nghiên
cứu của họ đƣợc coi là “những nghiên cứu của lối viết tự nhiên” (the study of nature
writing) xuất hiện đơn lẻ với những tên gọi khác nhau nhƣ: chủ nghĩa đồng quê, sinh
thái học nhân văn, chủ nghĩa địa phƣơng (regionalism), phong cảnh trong văn học,
nghiên cứu liên ngành (interdisciplinary studies)… Cho nên, hai mƣơi năm đầu tiên
vẫn là giai đoạn manh nha hình thành của phê bình sinh thái.
1.1.1.2. Chặng hai từ 1992 đến 2004: bùng nổ lí thuyết phê bình sinh thái
Năm 1992, một sự kiện quan trọng tạo nên bƣớc chuyển cho phê bình sinh thái là
Hội nghiên cứu văn học và môi trƣờng (The Association for the Study of literature and
Environment), gọi tắt là ASLE đƣợc thành lập ở trƣờng đại học Nevada (Mĩ). Đây là
Mĩ (The Environmental Imagination: Thoreau, Nature Writing, and the Formation of
American Culture) của Lawence Buell xuất bản đã nghiên cứu trƣờng hợp nhà văn
Thoreau qua tác phẩm Walden và kiến nghị vai trò, trách nhiệm của văn học đối với môi
trƣờng, vì ông cho rằng, “nguy cơ môi trƣờng bao gồm cả nguy cơ trong tƣởng tƣợng”.
Tuy nhiên, tác phẩm đƣợc xem nhƣ tài liệu nhập môn của phê bình sinh
tháilàTuyển tập Phê bình sinh thái: Các mốc quan trọng trong Sinh thái học Văn học (The
Ecocriticism Reader: Landmarks in Literary Ecology), xuất bản năm 1996, do Cheryll
8
Glotfelty và Harold Fromm chủ biên. Cuốn sách gồm hai mƣơi sáu bài viết, là kết hợp
những bài tái bản lẫn mới công bố, đƣợc chia làm ba phần: Phần một – Lí thuyết sinh thái
học: Sự phản ánh thiên nhiên và văn hóa; Phần hai – Những quan tâm phê bình sinh thái
trong tiểu thuyết và kịch; Phần ba – Các nghiên cứu quan trọng của Văn học Môi trƣờng.
Đi sâu tìm hiểu mối quan hệ giữa văn học và môi trƣờng vật lí, công trình đã chỉ ra Sinh
thái văn học là nghiên cứu những cách thức của lối viết vừa phản ánh lại vừa ảnh hƣởng
tƣơng tác nhƣ thế nào giữa con ngƣời với thế giới tự nhiên. Tác phẩm đã cung cấp một hệ
thống tổng quan về những vấn đề then chốt xung quanh lí thuyết mới này, nhƣ: khái niệm
phê bình sinh thái, nguồn gốc hình thành, quá trình phát triển trong hơn hai mƣơi năm qua
và đƣa ra những diễn giải tại sao phê bình sinh thái lại có vai trò quan trọng trong nghiên
cứu văn học hôm nay. Đây chính là công trình đầu tiên chiếu sáng vào một lĩnh vực
nghiên cứu có sự tham gia một cách đầy đủ của các ngành khoa học – xã hội với các vấn
đề đƣơng đại cấp bách của chúng ta – cuộc khủng hoảng môi trƣờng toàn cầu.
Năm 1999, công trình chuyên sâu về phê bình sinh thái đô thị đƣợc ấn hành do
Michael Bennett và David W. Teague biên soạn có tên Bản chất của các thành phố: Phê
bình sinh thái và Môi trường đô thị (The Nature of Cities: Ecocriticism and Urban
Environments). Vốn là những nhà nghiên cứu xuất thân từ thành thị, Michael Bennett và
David W. Teague đã trình bày trên tinh thần đƣa phê bình sinh thái từ vùng hoang dã trở
về nhà. Qua 6 phần chính: phần 1 – Bản chất của các thành phố, phần 2 – Lối viết bản
chọn cũng nhƣ thảo luận tác phẩm văn học có khuynh hƣớng tự nhiên tiêu biểu và
những tác phẩm văn học có khuynh hƣớng văn hóa, làm rõ quan điểm tƣ tƣởng khác
nhau trên hệ thống diễn ngôn luân lí sinh thái, hiện đại hóa, phát triển, tài nguyên, ô
nhiễm. Phƣơng pháp nghiên cứu nhƣ vậy có lợi đối với việc thúc đẩy sự hình thành
những tri thức chung cơ bản trong quá trình đối thoại của những quan điểm khác nhau,
đồng thời làm cho phê bình sinh thái càng có tính sắc bén, mang đến mô hình có ý
nghĩa cho văn học truyền thống từ góc nhìn sinh thái.
Greg Garrard, giáo sƣ tại Đại học British Columbia, thành viên sáng lập và là
cựu chủ tịch Hiệp hội nghiên cứu về Văn học và Môi trƣờng (Anh và Ireland). Ông là
tác giả cuốn sách Phê bình sinh thái (Ecocriticism) xuất bản năm 2004, trong đó lƣu ý
việc: phê bình sinh thái nhấn mạnh cách thức mà chúng ta tƣởng tƣợng và miêu tả mối
quan hệ giữa con ngƣời và môi trƣờng trong tất cả các lĩnh vực sáng tạo văn hóa. Sự
tiếp cận của Greg Garrard dựa trên sự phát triển của phong trào và nghiên cứu những
khái niệm mà các nhà phê bình sinh thái đang sử dụng nhiều nhất, bao gồm: Sự ô
nhiễm; Vùng hoang dã; Tận thế; Nơi trú ngụ; Động vật; Trái đất, cùng với một danh
mục thuật ngữ và những đề xuất để tham khảo thêm. Ông chứng minh rằng không có
quan điểm duy nhất hay đơn giản hợp nhất tất cả các nhà phê bình sinh thái. Chuyên
10
luận này đƣợc xem là một bƣớc đi ý nghĩa trong phát triển nghiên cứu văn học và văn
hóagần đây, tạo tiền đề cho những nghiên cứu mới về phê bình sinh thái sau này.
Ngoài ra còn có một số giáo trình lí luận đề cập đến phê bình sinh thái nhƣ một lí
thuyết văn học mới nổi cuối thế kỉ XX, đầu thế kỉ XXI, chẳng hạn nhƣ: Giới thiệu Phê
bình đầu thế kỉ XXI (Introducing Criticism at the Twenty-First Century) do Julian
Wolfreys biên tập, có Chƣơng 7 - “Phê bình sinh thái” đƣợc Kate Rigby viết đã giới
thiệu tƣờng tận về phê bình sinh thái. Giáo trình Nhập môn lí thuyết: dẫn luận lí luận
văn học và văn hóa (Beginning Theory: An Introduction to Literary and Cultural
Theory) tái bản năm 2002, cũng có một chƣơng mới là “Phê bình sinh thái” do Peter
Barry soạn thêm (ấn phẩm xuất bản năm 1995 chƣa có chƣơng này). Ngoài ra, còn có
ẩn dụ của nó trong các hoạt động văn học và văn hóa khác. Từ đó, tác phẩm tạo ra một
cuộc đối thoại xuyên Đại Tây Dƣơng đã từng đƣợc diễn ra từ thập niên cuối thế kỉ XX,
chủ yếu là giữa các nhà phê bình sinh thái Mĩ và Anh; đồng thời cũng mở rộng cuộc trò
chuyện này với những tiếng nói mới (từ Đức, Estonia, Lithuania) và đối tƣợng khu vực
khác (văn học bằng tiếng Đức, ngôn ngữ học định hƣớng về mặt sinh thái).
Năm 2008, Scott Slovic xuất bản cuốn Đi xa để suy nghĩ: Nhập thế, xuất thế và
trách nhiệm của phê bình sinh thái (Going Away to Think: Engagement, Retreat, and
Ecocritical Responsibility) gợi mở tầm quan trọng của phê bình sinh thái trong việc
tham gia vào đời sống xã hội. Qua 17 tiểu luận, tác giả đƣa ngƣời đọc phiêu lƣu cùng
những chuyến đi thâm nhập thực tiễn từ Oregon, Mexico, Nevada… để chứng minh
rằng ngôn ngữ và truyền thông là mấu chốt tạo ra sự thay đổi tích cực về môi trƣờng,
trong đó, các nhà phê bình sinh thái là ngƣời có vai trò quan trọng điều phối phê bình
sinh thái đến gần hơn với công chúng bằng cách hòa nhập vào tự nhiên, vào cộng đồng
hoặc cống hiến nghiêm túc, chuyên sâu vào nghiên cứu khoa học. Không đơn thuần là
một cuốn sách về học thuật, cuốn sách đã mở đầu cho những chuyển hƣớng sau này
của phê bình sinh thái từ góc nhìn trải nghiệm của nhà nghiên cứu.
Năm 2011, giáo sƣ Susan Rowland ra mắt tác phẩm Tinh thần phê bình sinh
thái: Văn học, sự phức tạp của tiến hóa và Jung (The Ecocritical Psyche: Literature,
Evolutionary Complexity and Jung) đƣợc xem là “bƣớc đột phá” của phê bình sinh
thái, bởi đây là lần đầu tiên, nghiên cứu phê bình sinh thái đã có sự kết hợp liên ngành
với tâm lí học, cùng các ý tƣởng của Jung, huyền thoại và lí thuyết tiến hóa của
Shakespeare và Jane Austen. Thông qua việc nghiên cứu sự sản sinh những biểu
tƣợng, huyền thoại và tiến hóa trong các văn bản nhƣ Khu vườn bí mật (The Secret
Garden), Giông tố (The Tempest), Đỉnh cao lộng gió và Sư tử (Wuthering Heights and
The Lion), Phù thủy và tủ quần áo (The Witch and the Wardrobe), Susan đã chứng
12
minh văn học là nơi tƣởng tƣợng, xa rời với tự nhiên, mà khởi nguồn của nó là từ một
thế giới phi-nhân-loại khác. Nhận thấy, “biểu tƣợng không chỉ là thuộc tính của một
hài, âm nhạc thời xƣa, văn học thiếu nhi, và phƣơng tiện truyền thông kĩ thuật số. Tác
phẩm đã thu hút nhiều mối quan tâm của nhiều nhà phê bình trong những năm cuối thế kỉ
XX về vấn đề sinh thái trong văn học, tạo ra một hiệu ứng phát triển của lĩnh vực này tới
từng khu vực, quốc gia.
Năm 2014, cuốn sách Sự mơ hồ sinh thái, Cộng đồng và Phát triển: Hướng tới một
Phê bình sinh thái Chính trị (Ecoambiguity, Community, and Development: Toward a
Politicized Ecocriticism) do Scott Sloviic, S. Rangarajan và V. Sarveswaran biên tập lại là
một công trình đƣợc đóng góp bởi rất nhiều nhà lí luận hàng đầu về văn hóa – môi trƣờng
ở các nƣớc đang phát triển, từ Nam Á đến Mĩ Latin. Mƣời hai chƣơng của cuốn sách đƣợc
gắn kết với nhau thông qua sự nhất trí của các tác giả về sự phức tạp của “văn hóa tự
nhiên”, làm sáng tỏ mối tƣơng quan của các vấn đề nhân quyền và suy thoái môi trƣờng.
Một số tác giả giải quyết sự mơ hồ trong vai trò biểu hiện ngôn ngữ và văn học, nghiên
cứu tƣơng phản ngôn ngữ của chính nó “để đƣa ra sự truyền đạt thế giới vật chất mà các
nền văn hóa tìm kiếm để tồn tại”. Qua đó, công trình thiết lập nhận thức mới trong mối
quan hệ giữa địa chính trị và bảo vệ môi trƣờng và xã hội. Tuyển tập này áp dụng một
diễn thuyết của Nam Địa cầu nhƣ một cấu trúc chuẩn để điều hƣớng về cách thức suy biến
sinh thái và áp bức văn hóa bị lây lan ở cộng đồng địa phƣơng lẫn toàn cầu.
Từ những công trình mà chúng tôi tiếp cận đƣợc trong nghiên cứu về phê bình
sinh thái, có thể nhận thấy đây là vấn đề đang đƣợc nhiều chuyên gia văn hóa – văn
học từ khắp nơi trên thế giới quan tâm; hơn nữa lí thuyết về phê bình sinh thái vẫn còn
đang ở quá trình định hình, hoàn thiện hơn. Cho nên, tƣơng lai của phê bình sinh thái
gắn với bối cảnh toàn cầu hóa. Nhìn vào những công trình ban đầu, các nhà phê bình
sinh thái tập trung tìm hiểu những văn bản tại quốc gia họ sinh sống (gồm văn bản
tiếng Anh, Đức, và những ngôn ngữ thuộc Tây phƣơng), sau đó, phê bình sinh thái dần
dần rời khỏi địa hạt trung tâm, lƣu ý đến các văn bản ngoài Âu – Mĩ để khai mở những
tiềm năng lí thuyết mới trong nội tại chính nó. Cũng trong quá trình nghiên cứu những
văn bản ngoài Âu – Mĩ, cụ thể ở đây là những văn bản Đông Á, các nhà phê bình sinh
thái còn phát hiện ra “sự mơ hồ” trong thái độ, tình cảm của ngƣời phƣơng Đông đối
học và tính khả dụng” (Văn nghệ, số 15/ 2014). Tác giả cho rằng, phê bình sinh thái
trƣớc hết là một phong trào văn hóa – xã hội bảo vệ môi trƣờng, và “nếu cứ lấy một vấn
đề xã hội bất kì để gắn một cách gƣợng ép với văn học và gọi nó là mỹ học thì chúng ta
sẽ có vô vàn lí thuyết mỹ học nhƣng không áp dụng đƣợc” [11]. Chỉ khi làm rõ những
định kiến và mập mờ trên, phê bình sinh thái mới đƣợc chấp thuận và xem nhƣ là một
ngành nghiên cứu văn học mới có tính khả dụng, cấp bách.
15
Nhìn chung có thể thấy, phê bình sinh thái vận dụng quan điểm sinh thái học hiện
đại khảo sát mối quan hệ giữa văn học nghệ thuật và tự nhiên, xã hội và trạng thái tinh
thần con ngƣời; chất vấn quan hệ giữa ba yếu tố: con ngƣời, tự nhiên, nghệ thuật, qua đó
thể hiện chủ nghĩa sinh thái nhân văn mới, tái cấu trúc các quan niệm cũ để có đƣợc các
quan niệm mới. Lấy vấn đề sinh thái tự nhiên và sinh thái tinh thần trong nghiên cứu
văn học làm trọng yếu, phê bình sinh thái muốn tác phẩm văn chƣơng phải chuyển tải
những chiều hƣớng phức tạp của con ngƣời và tự nhiên, cũng nhƣ quan hệ tƣơng tác
giữa chúng. Hơn nữa, từ góc độ sinh thái, độc giả tiến hành “đọc lại” những tác phẩm
quen thuộc trong văn học truyền thống, đồng thời tìm ra ý nghĩa văn hóa sinh thái và ý
nghĩa mĩ học sinh thái từng bị che lấp, phớt lờ, và “tái xây dựng” (re-construction) mối
quan hệ thẩm mĩ giữa tự nhiên và con ngƣời, con ngƣời và xã hội, con ngƣời và Trái
đất, con ngƣời và tự ngã. Ngoài ra, cần phải hiểu, đây là một lí thuyết liên ngành, có sự
kết hợp giữa văn chƣơng và các ngành khoa học khác để đƣa ra những kiến nghị về vấn
nạn sinh thái. Qua những diễn ngôn về tự nhiên và môi trƣờng, lí thuyết này tác động
đến nhận thức và điều chỉnh quan niệm, hành xử của con ngƣời với thế giới tự nhiên.
Hiểu một cách đơn giản, phê bình sinh thái là sự thức tỉnh của văn học sau khi nhân loại
đối mặt với thảm họa sinh thái, là sự định vị lại vị trí con ngƣời trên Trái đất của các nhà
tƣ tƣởng, nhà nghiên cứu - phê bình văn học hiện đại.
Tất nhiên, bất kì phƣơng pháp nghiên cứu mới hình thành nào cũng đều có
những điểm thiếu rõ ràng về lí luận, phê bình sinh thái cũng không ngoại lệ. Phê bình
luận văn học sinh thái Trung quốc và thế giới, Nxb Đại học Công thƣơng Chiết Giang,
2010). Tác giả giới thiệu một cách hệ thống diễn trình phát triển của phê bình sinh thái
từ những năm 70 của thế kỉ XX cho đến nay, cũng nhƣ chỉ ra cội nguồn tƣ tƣởng, triết
học sinh thái.
Năm 2013, một công trình nữa của Karen Thornber đƣợc Trần Ngọc Hiếu dịch
là Những tương lai của phê bình sinh thái và văn học, in trong tập Phê bình sinh thái
Đông Á: Tuyển tập phê bình (Các nền văn học, văn hóa và môi trường) (East Asian
Ecocriticism: A Critical Reader (Literatures, Cultures, and the Environment)). Qua
bản dịch này, chúng ta thấy tiềm năng cũng nhƣ triển vọng của phong trào phê bình
sinh thái trong văn học mà Karen Thornber nhấn mạnh. Đặc biệt, khu vực Đông Á là
nơi chịu nhiều ảnh hƣởng sâu sắc của những bất công môi trƣờng, xuống cấp tự nhiên.
Chính lẽ đó, Karen Thornber yêu cầu nhận thức lại về mối quan hệ giữa con ngƣời và
tự nhiên trong văn học, để chấm dứt tình trạng “mơ hồ sinh thái”, xây dựng “ý thức
hành tinh” trong nghiên cứu văn chƣơng.
17
Năm 2014, Trần Thị Ánh Nguyệt đóng góp bản dịch Nghiên cứu văn học trong
thời đại khủng hoảng môi trường đƣợc lấy từ lời giới thiệu của Cheryll Glotfelty trong
Tuyển tập Phê bình sinh thái: Các mốc quan trọng trong Sinh thái học văn học (The
Ecocriticism Reader: Landmarks in Literary Ecology) do Cheryll Glotfelty và Harold
Fromm chủ biên – một cuốn sách đƣợc xem là tài liệu nhập môn của phê bình sinh
thái, bởi công trình này có giá trị tổng thuật và khái quát sâu rộng, rõ ràng về lí thuyết.
Năm 2017, cuốn sách Phê bình sinh thái là gì? do Hoàng Tố Mai chủ biên xuất
bản, tập hợp những bản dịch và tổng thuật của các nhà nghiên cứu nhƣ Phạm Phƣơng
Chi, Đặng Thị Thái Hà, Lê Quốc Hiếu, Trần Ngọc Hiếu, Hoàng Tố Mai, Nguyễn
Trƣờng Sinh. Qua những công trình nổi tiếng về phê bình sinh thái của các chuyên gia
văn học có uy tín trên thế giới, cuốn sách đã mang đến những tri thức nền tảng về phê
bình sinh thái, giúp bạn đọc có cái nhìn tổng quan về lí thuyết này.
Về mặt thực hành phê bình sinh thái, nhiều nhà nghiên cứu cũng bày tỏ sự quan
ngắn hạn (chiến tranh khu vực liên miên) lẫn dài hạn (chạy đua vũ trang, trong đó có vũ
khí hạt nhân hủy diệt)” [24, tr.17]. Kết thúc, Phƣơng Lựu đƣa ra những hƣớng nghiên cứu
chuyên sâu của phê bình sinh thái trong tƣơng lai, nhƣ Chủ nghĩa Mác sinh thái, bày tỏ lí
thuyết này là một khuynh hƣớng văn học với nhiều bổ ích và cần đƣợc khám phá sâu hơn.
Đến đầu năm 2017, Nguyễn Thị Tịnh Thy ra mắt cuốn sách Rừng khô, suối cạn,
biển độc… và văn chương – Phê bình sinh thái, đƣợc đánh giá là công trình nghiên
cứu quy mô về phê bình sinh thái ở nƣớc ta. Với hơn 500 trang sách, những vấn đề
xung quanh các khái niệm tiền đề, các đặc trƣng, đặc tính của phê bình sinh thái, văn
học sinh thái đƣợc tác giả diễn giải tƣờng tận, công phu. Hơn nữa, Nguyễn Thị Tịnh
Thy còn đề xuất phƣơng pháp nghiên cứu thích hợp đối với phê bình sinh thái: “Phê
bình sinh thái là một kiểu tiếp cận văn chƣơng theo chủ đề. Vấn đề sinh thái trong tác
phẩm, quan điểm sinh thái, trách nhiệm sinh thái của nhà phê bình là mục đích chính.
Điều này giống nhƣ phê bình văn hóa, phê bình nữ quyền, phê bình hậu thực dân… Vì
thế, vấn đề phƣơng pháp không quá phức tạp, và cũng không có nhiều khác biệt so đặc
điểm chung của nghiên cứu văn học. Điều cốt yếu là xác định mục tiêu, nhiệm vụ
nghiên cứu, sau đó tùy vào đối tƣợng khảo sát là văn bản văn học cụ thể, ngƣời nghiên
cứu có thể chọn, kết hợp những phƣơng pháp thích hợp” [60, tr.277]. Từ đó, tác giả
đƣa ra những công trình ứng dụng và thực hành tham khảo qua những sáng tác cụ thể
ở Việt Nam và các nƣớc lân cận nhƣ Trung Quốc, Nhật Bản.
Về ứng dụng phê bình sinh thái trong nghiên cứu văn học, có rất nhiều công
trình, bài viết đã phân tích các hiện tƣợng văn học từ góc nhìn sinh thái, tiêu biểu nhƣ:
Bài báo Bước đầu tìm hiểu truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp – Từ điểm nhìn phê bình sinh
thái của Đặng Thị Thái Hà (đăng trên ), đã soi chiếu truyện ngắn
19
Nguyễn Huy Thiệp từ góc nhìn phê bình sinh thái. Tác giả phát hiện và trình bày những
phản ứng cụ thể của diễn ngôn văn học đƣơng đại (thông qua tác phẩm của một nhà văn
tiêu biểu) trƣớc thực trạng môi trƣờng, và trƣớc cả những tạo dựng đã có về môi trƣờng.
Mọi sự xem xét trong bài viết đều bắt đầu từ sự đối sánh những cách “phản ứng”, “kiến
thảo nguyên Nội Mông. Thực ra, Tôtem sói mang lại cho độc giả một cái nhìn sâu sắc
mang tính phản tƣ về một nền văn hóa “man rợ” (đƣợc gọi là phi Hán) thuộc các dân
tộc thiểu số, bị ngƣời Hán cai trị, khinh miệt, hiểu lầm, xâm phạm và bức tử.
Soi chiếu phê bình sinh thái vào văn học Trung đại – mảnh đất vốn đƣợc xem là
ít khả dụng của lí thuyết này, bài báo Biến đổi môi trường sống – nhân tố thúc đẩy
không gian văn hóa mới trong thơ Tú Xương (Nghiên cứu văn học, số 5/ 2015) của
Dƣơng Thu Hằng đã nhấn mạnh việc vận dụng một lí thuyết phƣơng Tây hiện đại vào
nghiên cứu các sáng tác văn học mang đậm dấu ấn tƣ tƣởng, văn hóa phƣơng Đông,
đặc biệt là văn học Việt Nam thời trung đại, xét trên một khía cạnh nhất định là những
khả giải thú vị, đầy mới mẻ. Vì thế, thơ Tú Xƣơng vắng bóng những hình ảnh thiên
nhiên thân thuộc vốn cho là quy phạm, chuẩn mực, thay vào đó là sự phác thảo một
bức tranh toàn cảnh về đô thị Việt Nam thời kì đầu, thể hiện sự bức bối với môi trƣờng
sống ngột ngạt, khắc khoải mong chờ cuộc chuyển đổi.
Phê bình sinh thái không chỉ đƣợc các nhà nghiên cứu vận dụng trong thơ ca,
truyện ngắn và tiểu thuyết mà còn áp dụng trên các thể loại khác nhƣ phóng sự, tản
văn… Chẳng hạn, Luận án Phóng sự Việt Nam trong môi trường sinh thái văn hóa
thời kì đổi mới (Đại học Sƣ phạm Hà Nội, 2008) của Trịnh Thị Bích Liên, trên cơ sở
khảo sát những công trình liên quan trực tiếp phóng sự Việt Nam từ những năm 30 thế
kỉ XX trên hai lĩnh vực văn học và báo chí, đặc biệt là các tác phẩm phóng sự tiêu biểu
của thời kì đổi mới, đặt phóng sự trong mối tƣơng tác với các yếu tố thuộc môi sinh
văn hóa để nghiên cứu, tác giả đã chỉ ra bƣớc phát triển mới của giai đoạn phóng sự
này dƣới tác động trực tiếp của các yếu tố môi sinh hiện đại. Hay Luận án Tản văn
Việt Nam thế kỉ XX (từ cái nhìn thể loại) (Đại học Sƣ phạm Hà Nội, 2009) của Lê Trà
My, trong chƣơng ba, tác giả đề cập đến tản văn trong diễn tiến môi trƣờng sinh thái
văn hóa thế kỉ XX. Bài viết của Trần Đình Sử - Phê bình sinh thái tinh thần (Nghệ
thuật 360, Nxb Hội Nhà văn, 2016), trong bài này tác giả vận dụng tƣ tƣởng sinh thái
để xem xét quan hệ giữa văn học và môi trƣờng văn hóa, tinh thần xã hội nhƣ một vấn
đề sinh thái, không tập trung vào quan hệ con ngƣời và tự nhiên, mà xem xét môi
trƣờng tinh thần xã hội nhƣ là môi trƣờng sống của văn nghệ, sự tƣơng tác giữa môi
trƣờng văn hóa tinh thần với sáng tạo văn nghệ.
ninh môi trường ở Việt Nam hiện nay, Luận văn thạc sĩ, Trƣờng Đại học Khoa học Xã hội
và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội, 2014).
Cho đến nay, theo tìm hiểu của chúng tôi, phê bình sinh thái đang dần đƣợc các
học giả, nhà nghiên cứu quan tâm, đón nhận và tìm hiểu. Số lƣợng những công trình, bài
viết nghiên cứu phê bình sinh thái ở Việt Nam ngày càng tăng lên. Đã có những công
22