1. Phần mở đầu
1.1. Lí do chọn đề tài
Môn toán là một trong những môn học có vị trí quan trọng ở
bậc Tiểu học. Trong những năm gần đây, xu thế chung của thế
giới là đổi mới phơng pháp dạy học nhằm phát huy tính tích cực,
tự giác, chủ động sáng tạo của học sinh trong quá trình dạy học.
Một trong những bộ phận cấu thành chơng trình toán Tiểu học
mang ý nghĩa chuẩn bị cho việc học môn hình học ở các cấp
học trên, đồng thời giúp học sinh những hiểu biết cần thiết khi
tiếp xúc với những tình huống toán học trong cuộc sống hàng
ngày là các bài toán mang yếu tố hình học.
Trong nhiều năm học, tôi đã dạy lớp 2, tôi nhận thấy việc dạy
các yếu tố hình học trong chơng trình toán ở bậc tiểu học nói
chung và ở lớp 2 nói riêng là hết sức cần thiết. ở lứa tuổi học
sinh tiểu học, t duy của các con còn hạn chế về mặt suy luận,
phân tích việc dạy Các yêu tốc hình học ở Tiểu học sẽ góp
phần giúp học sinh phát triển đợc năng lực t duy, khả năng
quan sát, trí tởng tợng cao và kỹ năng thực hành hình học đặt
nền móng vững chắc cho các em học tốt môn hình học sau
này ở cấp học phổ thông cơ sở.
Việc dạy các yếu tố hình học lớp 2 nh thế nào để đạt đợc
hiệu quả cao nhất phát huy đợc tính chủ động tích cực của
học sinh phù hợp với yêu cầu đổi mới của phơng pháp dạy học
đó là nội dung tôi muốn đề cập tới trong đề tài Giúp học
sinh lớp 2 học tốt các yếu tố hình học.
1.2. Mục đích nghiên cứu
Đề tài nhằm :
- Tìm hiểu những vấn đề lí luận về đổi mới phơng pháp
dạy học tích cực nói chung và dạy học tích cực trong môn Toán
cụ thể là yếu tố hình học nói riêng.
- Vận dụng phơng pháp dạy học tích cực để thiết kế bài
dới những hình thức hoạt động hình học nh: Nhận dạng và gọi
đúng tên hình chữ nhật, đờng thẳng, đờng gấp khúc, biết
tính độ dài đờng gấp khúc, tính chu vi hình tam giác, hình
tứ giác, biết thực hành vẽ hình.
Một trong những nhiệm vụ cơ bản dạy học các yếu tố
hình học ở lớp 2 là cung cấp cho học sinh những biểu tợng
hình học đơn giản, bớc đầu làm quen với các thao tác lựa
chọn, phân tích, tổng hợp hình, phát triển t duy, trí tởng tợng
không gian. Nội dung các yếu tố hình học không nhiều, các
quan hệ hình học ít, có lẽ vì phạm vi kiến thức các yếu tố
hình học nh vậy đã làm cho việc nghiên cứu nội dung dạy học
này càng lý thú.
Vì lí do trên tôi mạnh dạn xin trình bày một vài kinh
nghiệm mà tôi để tâm suy nghĩ thực hiện trong quá trinh dạy
học ở lớp 2 của mình .
2.2. Thực trạng của vấn đề nghiên cứu
Để có biện pháp, phơng pháp dạy học tốt, chúng ta hãy
nhìn lại và đánh giá thực trạng của việc Dạy- học các yếu tố
hình học trong những năm vừa qua.
* Giáo viên
Hiện nay, trong trờng tiểu học vẫn còn không ít giáo
viên cha thực sự chú trọng đến việc thay đổi phơng pháp dạy
cho phù hợp với sự đổi mới của chơng trình và với đối tợng học
sinh. Bên cạnh đó, vẫn còn một số đồng chí còn làm việc rất
khuôn mẫu theo sách giáo khoa và sách hớng dẫn, chỉ chú ý sao
cho học sinh cho một kết quả đúng là đợc. Hơn nữa các yếu
tố hình học luôn đợc coi là yếu tố trìu tợng, khó cho cả ngời
dạy và ngời học nên việc đi sâu, khai thác và phát triển các bài
2
TL
6
1
21,4 %
42,8 %
1
35,64 %
0
0%
2
Làm bài đúng bằng một cách .
0
Làm bài có sáng tạo
Từ kết quả trên, bản thân là giáo viên dạy lớp 2 nhiều
năm, tôi đã trăn trở về biện pháp dạy các yếu tố hình học lớp 2
nh thế nào để đạt đợc hiệu quả cao nhất, phát huy đợc tính
chủ động tích cực của học sinh, phù hợp với yêu cầu đổi mới
của phơng pháp dạy học. Đó là nội dung tôi muốn đề cập tới
trong đề tài Giúp học sinh lớp 2 học tốt các yếu tố hình
học .
2.3. Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề
Giải pháp 1: Tìm hiểu các dạng toán có yếu tố hình
Giải pháp 3: Phát huy trí lực của học sinh trong việc
nhận dạng hình.
* Về đoạn thẳng, đờng thẳng.
Vấn đề đoạn thẳng, đờng thẳng đợc giới thiệu ở tiểu
học có thể có nhiều cách khác nhau. Trong sách toán 2, khái
niệm đờng thẳng đợc giới thiệu bắt đầu từ đoạn thẳng
(đã đợc học ở lớp 1) nh sau:
- Cho điểm A và điểm B, lấy thớc và bút nối hai điểm đó
ta đợc đoạn thẳng AB.
A
B
- Kéo dài đoạn thẳng AB về hai phía, ta đợc đờng thẳng
AB
- Lu ý: Với học sinh lớp 2 khái
niệm đờng
thẳng không định
A
B
nghĩa đợc, học sinh làm quen với biểu tợng về đờng thẳng
thông qua hoạt động thực hành: Vẽ đờng thẳng qua 2 điểm,
vẽ đờng thẳng qua 1 điểm.
Để giúp học sinh có khái niệm, nhận diện và phân biệt
giữa đoạn thẳng và đờng thẳng tôi đã cho các em thực hành
chấm điểm chuẩn nối hai điểm để có đoạn thẳng và kéo
dài về 2 phía của hai điểm để có đờng thẳng. Thông qua
các ví dụ giáo viên sẽ khắc sâu cho học sinh biểu tợng về đoạn
4
- Khi chữa bài giáo viên cho học sinh tập diễn đạt kết quả
bài làm. Chẳng hạn học sinh nêu lại Đoạn thẳng AB cắt đoạn
thẳng CD tại điểm O.
Hoặc giáo viên hỏi: Có cách nào khác không? Học sinh
suy nghĩ trả lời: Hai đoạn thẳng AB và CD cắt nhau tại điểm
O. Hoặc O là điểm cắt nhau của đờng thẳng AB và CD.
*Nhận biết 3 điểm thẳng hàng:
Ví dụ: Bài 2 trang73; Nêu tên 3 điểm thẳng hàng (dùng thớc
thẳng để kiểm tra).
a)
b)
O
M
O
C
B
N
P
Q
A
B
D
C
N
Q
P
- Nhận biết đợc hình chữ nhật trong tập hợp một số hình
(có cả hình không phải là hình chữ nhật), chẳng hạn:
Tô màu (hoặc đánh dấu x ) vào hình chữ nhật có trong
mỗi hình sau:
- Thực hành củng cố nhận biết hình chữ nhật:
Ví dụ: Bài 1 trang 85: Mỗi hình dới đây là hình gì?
a)
d)
b)
c)
g,
Giáo viên giới thiệu đờng gấp khúc ABCD:
Đây là đờng gấp khúc ABCD (chỉ vào hình vẽ). Học sinh
lần lợt nhắc lại: Đờng gấp khúc ABCD.
Giáo viên hỏi: Đờng gấp khúc này gồm mấy đoạn? Học sinh
nêu: Gồm 3 đoạn thẳng AB, BC, CD ( Gv giới thiệu thêm B là
điểm chung của hai đoạn thẳng AB và BC, C là điểm chung
của hai đoạn thẳng BC và CD).
Học sinh đợc thực hành tiếp ở bài tập 3 (trang 104).
Ghi tên các đờng gấp khúc có trong hình vẽ sau, biết:
+ Đờng gấp khúc đó gồm 3 đoạn thẳng.
+ Đờng gấp khúc đó gồm 2 đoạn thẳng.
B
A
C
D
Yêu cầu cầu sinh ghi tên , đọc tên đờng gấp khúc
Giáo viên cho học sinh dùng bút chì màu và phân biệt các
đờng gấp khúc có đoạn thẳng chung:
a. Đờng gấp khúc gồm 3 đoạn thẳng là: AB, BC, CD.
b. Đờng gấp khúc gồm 2 đoạn thẳng là: ABC và BCD.
Theo tôi để dạy tốt đợc các bài tập thuộc dạng này cho
học sinh thì trớc hết giáo viên cần nắm đợc :
ở lớp 2, cha yêu cầu học sinh nắm đợc các khái niệm,
cha yêu cầu học sinh nắm đợc những hình học dựa trên các
đặc điểm quan hệ các yếu tố của hình (chẳng hạn cha yêu
cầu học sinh biết hình chữ nhật là hình tứ giác có 4 góc
D
QƯ
PƯ
Yêu cầu bớc đầu học sinh vẽ đợc hình chữ nhật, hình tứ
giác (nối các điểm có sẵn trên giấy kẻ ô ly).Sau đó yêu cầu học
sinh đọc tên hình vừa vẽ.
- Sau đó Gv củng cố: Để vẽ đợc hình chữ nhật và hình tứ
giác thì các con đã phải nối qua mấy điểm ( nối 4 diểm ). Gv
cho học sinh lên chỉ lại hình các em vừa nối.
* Vẽ hình theo mẫu:
Ví dụ bài 4 trang 59: Vẽ hình theo mẫu.
Mẫu
-Giáo viên cho học sinh nhìn kỹ mẫu và trả lời câu hỏi :
Hình mẫu là hình gì ? ( là hình chữ nhật)
- Để vẽ đợc hình này ta cần nối qua mấy điểm ? ( 4 điểm
)
- Học sinh bắt đầu vẽ:
Dùng thớc kẻ và bút nối các điểm để có hình chữ nhật.
Lu ý: Đối với các bài vẽ hình theo mẫu thì giáo viên cần lu ý
cho học sinh quan sát kĩ mẫu nêu đặc điểm của mẫu rồi mới
chấm điểm chuẩn để vẽ
* Vẽ đờng thẳng.
Ví dụ bài 4 trang 74
Vẽ đờng thẳng:
a, Đi qua hai điểm M, N
O.
Học sinh tự vẽ vẽ đợc nhiều đờng thẳng qua O.
Giáo viên kết luận: Qua 1 điểm có rất nhiều đờng thẳng.
Phần (c). Vẽ đờng thẳng đi qua 2 trong 3 điểm A, B, C.
Học sinh: Thực hiện thao tác nối.
Giáo viên yêu cầu kể tên các đờng thẳng có trong hình.
Học sinh: Đoạn AB, BC, CA.
Giáo viên hỏi: Mỗi đờng thẳng đi qua mấy điểm ? (đi qua 2
điểm).
Giáo viên cho học sinh thực hành vẽ đờng thẳng.
Học sinh nêu cách vẽ: Kéo dài đờng thẳng về 2 phía để có các
đờng thẳng.
Giáo viên hỏi: Ta có mấy đờng thẳng? Đó là những đờng thẳng
nào?
Học sinh: Ta có 3 đờng thẳng đó là: đờng thẳng AB, đờng
thẳng BC, đờng thẳng CA.
* Vẽ thêm đờng thẳng để đợc hình mới:
Ví dụ bài 3 trang 23.
9
Kẻ thêm một đoạn thẳng trong hình sau để đợc:
+ Một hình chữ
nhật và một hình tam
giác
+
Ba hình tứ
Giáo viên yêu cầu học sinh đọc tên các hình vẽ đợc trong cả
2 cách vẽ.
Học sinh đọc tên hình: ABGE, EGCD, ABCD và AEGD,
BCGE, ABCD.
A
A
E
D
E
B
B
G
C
D
G
C
- Khi dạy ở học sinh cách vẽ hình, dựng hình tôi thờng
tuân thủ theo các bớc sau:
+ Hớng dẫn học sinh biết cách sử dụng thớc kẻ, bút chì, bút
mực để vẽ hình. Cần sử dụng hợp lý chức năng của mỗi dụng
cụ, thớc thẳng có vạch chia dùng để đo độ dài đoạn thẳng, vẽ
Loại toán, xếp, ghép hình chỉ có ý nghĩa khi mỗi học
sinh phải đợc tự xếp, ghép hình (các em có thể xếp, ghép
thanh chậm khác nhau), nhng kết quả đạt đợc là sản phẩmdo
mỗi em đợc tự thiết kế và thi công và do đó sẽ gây hứng thú
học tập cho mỗi em).
- Điều cơ bản là khuyến khích học sinh tìm đợc các cách
khác nhau đó. Qua việc xếp, ghép này các em đợc phát triển t
duy, trí tởng tợng không gian và sự khéo tay, kiên trì, sáng tạo.
Ví dụ: Xếp 4 hình tam giác:
Thành hình sau
3cm
2
m
2m
2
m
2
m
b.
2
m
làm đúng.
Từ đó học sinh tự làm câu b. Độ dài đờng gấp khúc là: 2 x
5 = 10 (cm)
*Yêu cầu học chu vi ở lớp 2 phù hợp với trình độ chuẩn của
toán 2. Cụ thể là: ở lớp 2, cha yêu cầu học sinh nắm đợc khái
niệm, biểu tợng về chu vi của hình, chỉ yêu cầu học sinh biết
cách tính chu vi hình tam giác, tứ giác khi cho sẵn độ dài mỗi
cạnh của hình đó, bằng cách tính tổng độ dài của hình (độ
dài các cạnh của hình có cùng một đơn vị đo).
Chẳng hạn:
- Tính chu vi của hình tam giác có độ dài 3 cạnh là: 10cm,
20cm, 15cm.
Bài giải
Chu vi hình tam giác là:
10 + 20 + 15 = 45 (cm)
Đáp số: 45 (cm)
- Tính chu vi hình tứ giác có độ dài 4 cạnh là: 10 cm, 20cm,
10cm và 20 cm.
Bài giải
Chu vi hình tứ giác là:
10 + 20 + 10 + 20 = 60 (cm)
Đáp số: 60 (cm)
A
Hoặc một dạng bài nữa:
Ví dụ: Bài 3 (trang 130):
B
+ Đo rồi ghi số đo độ dài các cạnh của hình tam C
giác ABC.
+ Tính chu vi hình tam giác ABC.
13
Hoặc : 4 x 3 = 12 (cm)
Cho học sinh so sánh các kết quả khẳng định là làm
đúng.
Lúc đó giáo viên hỏi: Tại sao con lại lấy 4 x 3 để tính chu vi
hình tam giác (vì 3 cạnh hình tam giác có số đo bằng nhau =
4 cm).
-So sánh 2 cách làm trên con thấy cách nào làm nhanh hơn?
(cách 2).
Lu ý: Sau mỗi bài tập giáo viên khắc sâu cho học sinh chu
vi của một hình chính là tổng độ dài các cạnh của hình đó .
Đối với đối tợng học sinh khá giỏi tôi còn su tầm cho các em
làm thêm một số bài tập nh :
Bài 1: Một hình tam giác có 3 cạnh bằng nhau và bằng 15
cm, nếu tăng mỗi cạnh 3 cm thì chu vi mới là bao nhiêu ?( su
tầm đề thi violimp )
Bài 2 : Một hình tứ giác có 4 cạnh bằng nhau và bằng 20
cm, nếu giảm mỗi cạnh đi 3cm thì chu vi mới bằng bao nhiêu ?
( su tầm đề thi violimp )
Một cách khác nữa, khi dạy thì giáo viên cần lu ý cho
học sinh có thói quen đặt câu hỏi tại sao và tự suy nghĩ để
trả lời các câu hỏi đó. Trong nhiều tình huống giáo viên còn có
thể đặt ra câu hỏi Tại sao làm nh vậy? Có cách nào khác
không? Có cách nào hay hơn không?. Các câu hỏi của giáo
viên nh tại sao, vì sao đã thôi thúc học sinh phải suy nghĩ
tìm tòi giải thích. Đó là chỗ dựa để đa ra cách làm hoặc cách
giải sự lựa chọn trong vốn kiến thức đã học để trả lời.
Khi dạy các yếu tố hình học cho học sinh lớp 2, việc tập
(Có 4 hình là hình 1, hình 2,
hình 3 và hình 4).
Hình tam giác nào gồm 2 hình có đánh số? (Có 2 hình là
hình gồm hình 2, hình 3 gồm 1 hình và hình 4).
- Hình tam giác nào gồm 3 hình có đánh số? (không có).
- Hình tam giác nào gồm 4 hình có đánh số? (Có 1 hình
là hình gồm: hình 1, hình 2, hình 3 và hình 4).
Vậy tất cả có 7 hình tam giác (4 + 2 + 0 + 1 = 7).
Ví dụ 2:
Trong hình bên có mấy
hình tứ giác
A
1
E
B
2
3
4
5
Gợi ý cách đếm:
D
C
- Ghi tên và đánh số vào hình, chẳng hạn.
và phát triển một số bài tập thuộc yếu tố hình học trong môn
Toán, Tôi nhận thấy học sinh có nhiều tiến bộ và đặc biệt là
các em không còn ngại khi gặp các bài tập thuộc yếu tố hình
học nữa mà ngợc lại các em rất tích cực, phấn khởi khi đợc cô
giao các bài tập thuộc yếu tố hình học, không còn học sinh bỏ
qua bài tập hình trong bài kiểm tra toán hoặc trong bất cứ
một tiết học Toán nào. Tỉ lệ học sinh làm bài sai đã giảm và
hơn thế nữa, với mỗi bài toán các em đã không đơn thuần đa
ra một cách giải đơn điệu mà đã đa ra đợc nhiều cách giải
khác nhau. Học sinh đã tích cực, chủ động, tìm tòi sáng tạo
xây dựng kiến thức của bài học. Nhờ vậy mà học sinh nắm
bài nhanh, nhớ kiến thức lâu hơn và tự tin hơn làm cho không
khí tiết học sôi nổi hơn. Học sinh đã thực sự bộc lộ hết khả
năng của mình và điều này thể hiện rõ qua bảng đối chứng
sau:
Bài kiểm tra lần 1
Mức độ hoàn thành bài tập hình trong
bài kiểm tra .
Không làm bài .
Làm bài sai
.
SL
TL
6
TL
2
7
1
7.2%
25%
53.6
%
14.2
%
5
Làm bài có sáng tạo.
Bài kiểm tra số 3:
Mức độ hoàn thành bài tập hình trong
bài kiểm tra .
Không làm bài.
Làm bài sai.
4
SL
TL
0
5
7.2
%
60.7
%
32.1
%
Làm bài đúng bằng một cách .
1
6
Làm bài có sáng tạo.
Bài kiểm tra số 4
7
Làm bài có sáng tạo.
9
3. Kết luận- Kiến nghị
3.1. Kết luận:
Đứng trớc vai trò, vị trí, tầm quan trọng của việc dạy học
Toán nói chung và dạy học các yếu tố hình học nói riêng cho
học sinh lớp 2. Tôi thấy việc khai thác và phát triển các bài tập
thuộc yếu tố hình học là rất cần thiết bởi nó thực sự phát huy
đợc năng lực t duy và khả năng quan sát, trí tởng tợng không
gian và sự khéo tay, kiên trì sáng tạo của học sinh. Trong quá
áp dụng trình giảng dạy bản thân Tôi rút ra đợc một số kinh
nghiệm nh sau:
giúp đỡ tôi hoàn thành tốt hơn nữa trọng trách của ngời giáo
viên trong Sự nghiệp trồng ngời.
Xin chân thành cảm ơn các
đồng chí !
Thanh Hóa, ngày 2 tháng 4 năm
2018
Tụi xin cam oan õy l
SKKN ca tụi
vit khụng sao chộp ca ngi khỏc.
Xác nhận của nhà trờng
SKKN
Ngời làm
Lê Lam Vơng
18
1-
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tài liệu bồi dưỡng giáo viên dạy các môn học lớp 2 – NXB
GD.
2345trung tâm.
67-
Phương pháp dạy học các môn học ở lớp 2 – NXB GD.
Sách giáo khoa toán 2 – tập 1.