Nghiên cứu kết quả hoạt động kinh doanh của một số doanh nghiệp dược tại việt nam nghiên cứu trường hợp tại công ty TNHH một thành viên dược phẩm (tt) - Pdf 50

1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI

NGUYỄN NHẬT HẢI

NGHIÊN CỨU KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG
KINH DOANH CỦA MỘT SỐ
DOANH NGHIỆP DƯỢC TẠI VIỆT NAM:
NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP TẠI
CÔNG TY TNHH MỘT THÀNH VIÊN
DƯỢC PHẨM BALI
CHUYÊN NGÀNH: TỔ CHỨC QUẢN LÝ DƯỢC
MÃ SỐ: 62.72.04.12
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ DƯỢC HỌC

Hà Nội, năm 2017


2

Công trình được hoàn thành tại Trường Đại học Dược Hà Nội
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Nguyễn Thị Song Hà
TS. Nguyễn Đức Vân
Phản biện 1:
Phản biện 2:
Phản biện 3:
Luận án đã được bảo vệ trước Hội đồng đánh giá cấp Trường
họp tại Phòng Hội đồng - Trường Đại học Dược Hà Nội

lượng được kết quả hoạt động kinh doanh cũng là một trong các yếu
tố cốt lõi giúp công ty hướng tới thực hiện sứ mạng của mình trong
việc cung ứng thuốc có chất lượng cho tất cả mọi người. Vì vậy,
“Nghiên cứa kết quả hoạt động kinh doanh của một số doanh
nghiệp dược tại Việt Nam: Nghiên cứu trường hợp tại Công ty
TNHH một thành viên dược phẩm Bali” được thực hiện với mục tiêu:
(1) Phân tích kết quả hoạt động kinh doanh của một số doanh
nghiệp dược tại Việt Nam, giai đoạn 2013 -2016;
(2) Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến kết quả hoạt động kinh
doanh của công ty TNHH một thành viên dược phẩm Bali, giai đoạn
2013 – 2016;
(3) Xây dựng mô hình tiên lượng kết quả hoạt động kinh doanh của
công ty TNHH một thành viên dược phẩm Bali


2
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN
1.1. Phương pháp phân tích kết quả hoạt động kinh doanh
Phân tích kinh doanh là thuật ngữ sử dụng để chỉ quá trình nghiên
cứu toàn bộ hoạt động của một doanh nghiệp với mục đích sinh lời.
Phân tích kinh doanh là việc phân chia các hoạt động, các hiện tượng,
các quá trình và kết quả kinh doanh ra thành các bộ phận cấu thành rồi
dùng các phương pháp liên hệ, so sánh, đối chiếu và tổng hợp lại nhằm
rút ra bản chất, tính quy luật và xu hướng vận động, phát triển của hiện
tượng, quá trình nghiên cứu; tính toán, truyền đạt và xác định yêu cầu
cho việc thay đổi quá trình kinh doanh, chính sách kinh doanh và hệ
thống thông tin. Phân tích kinh doanh góp phần giúp hiểu được các
vấn đề kinh doanh và cơ hội kinh doanh, trong đó chứa đựng các yêu
cầu cụ thể, cần thiết và đề xuất các giải pháp khả thi để đạt được mục
đích kinh doanh. Trong phạm vi của nghiên cứu này, việc phân tích

luận đa biến với chuỗi số thời gian với mô hình hồi quy tuyến tính
(Linear regression), mô hình vector tự hồi quy (VAR-Vector
autoreression), mô hình vector điều chỉnh sai số (VEC-vector error
correction).
Sử dụng các kỹ thuật nhân quả (causative techniques) bao gồm
các phân tích hồi quy đa biến, nhằm mục đích tìm hiểu một cách hệ
thống và toàn diện về các mối quan hệ có thể ảnh hưởng và quyết định
đến sự thay đổi của thị trường. Hiểu biết về các mối quan hệ nhân quả
này cùng với các giả định cơ bản trong tương lai đóng vai trò nền tảng
của việc tiên lượng. Vì thông thường mối liên hệ nhân quả này được
tìm hiểu dựa vào các số liệu hồi cứu đã có sẵn, do đó kỹ thuật này có
ưu điểm trong trường hợp các giả định về tương lai tương đối ổn định,
không có sự thay đổi một cách đột biến.
Sử dụng các kỹ thuật phán đoán (judgmental techniques) khi mà
việc tiên lượng doanh thu được yêu cầu thực hiện đối với các sản phẩm
mới hoặc các thị trường mới trong bối cảnh không có bất kì các số liệu
hồi cứu trong quá khứ nào. Trong các trường hợp này, việc tiên lượng
doanh thu có thể được thực hiện theo hướng phán đoán dựa trên các
nguyên tắc nhất định, cụ thể là dựa trên kết quả của các nghiên cứu


4
sẵn có về các sản phẩm và các bối cảnh thị trường tương tự. Tuy nhiên
nhược điểm lớn nhất của cách tiếp cận này là kết quả tiên lượng có thể
trở nên rất chủ quan.
1.4. Các nghiên cứu liên quan
1.4.1. Nghiên cứu về kết quả hoạt động kinh doanh của các doanh
nghiệp dược phẩm
Tổng quan cho thấy kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp dược
phẩm tại Việt Nam trong những năm qua tuy có sự khác nhau nhưng


5
trọng. Một tổng quan hệ thống khác trên 25 nghiên cứu của tác giả
Mousnad nhấn mạnh ảnh hưởng của hành vi sử dụng thuốc, lựa chọn
phương pháp điều trị, cầu và hệ thống y tế là các yếu tố thuộc về môi
trường vĩ mô có ảnh hưởng đến doanh thu công ty dược phẩm. Nghiên
cứu của Luis cho thấy mối liên quan giữa GDP và chi tiêu cho thuốc
tại các quốc gia châu Âu. Đối với thị trường thuốc mới, tổng quan tài
liệu của Agnes Lubloy cho thấy nhiều yếu tố liên quan đến người kê
đơn như các đặc điểm về nhân khẩu – xã hội học, các yếu tố thuộc về
người bệnh có ảnh hưởng lớn nhất đến doanh thu của các thuốc mới.
Tại Việt Nam, các nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở mô tả bức tranh về
kết quả hoạt động kinh doanh, và đưa ra những bàn luận về những khó
khăn và thuận lợi trong hoạt động kinh doanh. Chỉ có một bài báo gần
đây của tác giả Antonio phân tích một số yếu tố thuộc về môi trường
vĩ mô ảnh hưởng chung đến tiêu thụ dược phẩm tại Việt Nam bao gồm
(1) tăng trưởng kinh tế nhanh và gia tăng thu nhập bình quân đầu
người; (2) gia tăng dân số và đô thị hóa có liên quan đến hành vi của
người tiêu dùng trong việc tìm kiếm thuốc và dịch vụ y tế; (3) già hóa
dân số và các vấn đề sức khỏe mạn tính.
1.4.3. Các mô hình tiên lượng kết quả hoạt động kinh doanh
Nghiên cứu của Duccio và cộng sự tiên lượng doanh thu của thị
trường dược phẩm tại châu Âu từ 2012 đến 2016. Các tác giả xác định
góc độ đánh giá từ cả phía cơ sở y tế và nhà sản xuất; và phân tách mô
hình gồm hai cấu phần theo hai nhóm khách hàng chính là nhà thuốc
bán lẻ và bệnh viện. Nghiên cứu khác của Wettemark tiên lượng doanh
thu của các sản phẩm mới sử dụng mô hình hồi quy tuyến tính. Mô
hình được xây dựng cho từng nhóm thuốc (theo mã ATC) dựa trên số
liệu từ 2006 đến 2009 để tiên lượng cho năm 2010-2011. Theo đó kết
quả cho thấy mức độ gia tăng doanh thu hàng năm vào khoảng 2-4%.

kinh doanh trong giai đoạn từ năm 2013 đến năm 2016 của các công
ty Bali, ANPER, APEC và HP. Đối với số liệu của công ty Bali: tiến
hành thu thập toàn bộ số liệu về các sản phẩm theo các hóa đơn mua
vào và bán ra. Tổng số hóa đơn được rà soát của công ty Bali trong


7
giai đoạn nghiên cứu là 3.908 hóa đơn với tổng số lượt sản phẩm được
đưa vào nghiên cứu là 15.562.
Đối với cấu phần định tính: Lựa chọn đối tượng nghiên cứu định tính
dựa trên phương pháp chọn mẫu có chủ đích với số lượng như sau:
• Công ty Bali: Gồm 02 Phó giám đốc; 01 đại diện bộ phận kế toán;
01 đại diện bộ phận kinh doanh; 01 đại diện bộ phận giao nhận,
vận chuyển; 01 đại diện bộ phận kho
• Công ty bán buôn: 02 Đại diện/lãnh đạo
• Cơ sở KCB công lập: 02 Phụ trách khoa dược/bộ phận quản lý
• Nhà thuốc BV: 02 Phụ trách nhà thuốc
• Cơ sở bán lẻ: 02 Phụ trách nhà thuốc
• Nhóm chuyên gia: 01 đại diện từ Cục Quản lý Dược; 01 chuyên
gia về kinh tế y tế
2.3.3. Công cụ thu thập số liệu: Thu thập số liệu định lượng dựa trên
mẫu trích xuất số liệu được thiết kế sẵn trên định dạng excel. Phỏng
vấn sâu các đối tượng dựa trên Bộ câu hỏi hướng dẫn phỏng vấn sâu
cho từng nhóm đối tượng. Mỗi cuộc phỏng vấn sâu kéo dài từ 30-45
phút được ghi chép hoặc ghi âm tùy vào yêu cầu của đối tượng.
2.4. Nhập liệu, quản lý số liệu: Số liệu định lượng sau khi được thu
thập được làm sạch, nhập vào máy tính với phần mềm Excel, và được
xử lý bằng phần mềm STATA 10.0. Các băng phỏng vấn sâu được gỡ
bang, mã hóa, tổng hợp thông tin ghi chép và phân tích theo chủ đề.
2.5. Phân tích số liệu:

giai đoạn nghiên cứu (tương đương 0,7) và trị số giảm dần qua thời
gian, đến năm 2015 chỉ còn là 0,45 (dưới 0,5) và đến năm 2016 chỉ
còn 0,28. Tương tự, hệ số này cũng giảm ở ba công ty ANPER, APEC
và HP ở mức lần lượt là 0,29; 0,37; 0,62 vào năm 2013 và xuống còn
mức lần lượt 0,25; 0,33; 0,28 ở năm 2016. Hay nói cách khác là đến
năm 2016, vốn chủ sở hữu của bốn công ty thuộc nghiên cứu lần lượt
chỉ chiếm 28%, 25%, 33% và 28%.
Hệ số khả năng thanh toán tổng quát có xu hướng giảm theo thời
gian ở cả bốn công ty trong nghiên cứu. Hệ số này của công ty Bali
2013 có giá trị lớn nhất (3,31) và giảm dần, đến 2015 chỉ còn là 1,86
đến 2016 còn 1,38. Công ty HP cũng có hệ số này cao nhất vào 2013
và có xu hướng giảm dần xuống giá trị 1,38 năm 2016. Trong khi đó,
hệ số này của công ty ANPER tăng từ 1,40 (2013) lên 1,52 (2014) và
giảm xuống ở 2 năm kế tiếp; còn lại 1,34 vào năm 2016. Tương tự, hệ
số khả năng thanh toán tổng quát của công ty APEC tăng từ 1,59
(2013) lên 1,86 (2014); nhưng giảm xuống 1,50 (2016).
Hệ số giữa nợ phải thu so với nợ phải trả của công ty Bali tăng
đột biến vào năm 2015 sau đó lại có xu hướng giảm theo thời gian. Hệ
số giữa nợ phải thu so với nợ phải trả của năm 2013 có giá trị bằng 0,4
và tăng lên thành 1,09 và giảm dần qua thời gian, đến năm 2015 chỉ
còn là 0,65 và đến năm 2016 chỉ còn 0,33. Tương tự, hệ số giữa nợ
phải thu so với nợ phải trả của công ty APEC cũng tăng từ 0,42 năm
2013 lên 0,99 năm 2014 và giảm xuống từ năm 2015 và xuống còn
0,65 vào năm 2016. Trong khi đó, hệ số này của công ty ANPER tăng


9
từ 0,31 năm 2013 lên 0,41 năm 2016 và duy trì ở con số này năm 2015
rồi giảm xuống 0,33 năm 2016. Ngược lại, hệ số này ở công ty HP lại
giảm từ 1,16 năm 2013 xuống 0,50 năm 2014 và tăng trở lại ở 2 năm

trong các chu kỳ trước và tỷ trọng khách hàng nhóm doanh nghiệp
dược được chỉ ra là có ý nghĩa thống kê trong cả mô hình 1 và mô hình
2. Theo khuyến cáo của một số tác giả, sự phù hợp của mô hình có thể
được phiên giải thông qua giá trị SBIC (Schwarz's Bayesian


10
Information Criterion), trong đó giá trị SBIC càng nhỏ thì mô hình
càng được ưa chuộng. Kết quả phân tích mối liên hệ giữa các biến số
nội tại trong mô hình 1 có thể được sự dụng tốt trong mô hình tiên
lượng doanh thu của mục tiêu 3.
Bảng 3.2. Mô hình VAR phân tích mối liên quan giữa tổng doanh thu
theo quý và một số biến số độc lập
Hệ số
SE
z
P
95%KTC
Mô hình 1:
N=14; AIC=89,9116; HQIC=89,7595; SBIC=91,55499
L.Doanh thu (-1)
0,363
0,249
1,45
0,146
-0,126
0,852
L.Doanh thu (-2)
1,032
0,314

-9,95.109
1,82.1008
9
9
10
N1(-1)
-5,85.10
3,82.10
-1,53
0,125
-1,33.10
1,63.109
N1(-2)
-6,85.109
3,55.109
-0,19
0,847
-7,63.109
6,26.109
Mô hình 2:
N=14; AIC=92,6966; HQIC=92,6079; SBIC=93,6552
L.Doanh thu (-1)
0,400
0,262
1,53
0,126
-0,113
0,913
L.Doanh thu (-2)
1,026

0,168
-7,90.109
1,37 .109
Mô hình 3:
N=14; AIC=93,3522; HQIC=93,31; SBIC=93,8087
L.Doanh thu (-1)
0,328
0,332
0,99
0,324
-0.323
0,980
L.Doanh thu (-2)
0,861
0,436
1,97
0,048
0.006
1,715
Vốn (-1)
-0,010
-0,033
-0,31
0,759
-0,075
0,055
Vốn (-2)
-0,026
-0,036
-0,72

Yếu tố quản lý: Vai trò của các mô hình quản trị doanh nghiệp được
đề cập đến rất nhiều trong việc xem xét ảnh hưởng đến kết quả hoạt
động kinh doanh của công ty Bali nói riêng và các công ty dược phẩm
nói chung. Cụ thể mô hình trực tuyến được đề cập đến nhiều với những
phân tích về ưu nhược điểm liên quan đối với mô hình các công ty
dược phẩm vừa và nhỏ. Bên cạnh vai trò của các mô hình quản trị
doanh nghiệp, các vấn đề liên quan đến chiến lược của nhà quản
lý/lãnh đạo công ty cũng được nhấn mạnh có ảnh hưởng quyết định
đến kết quả hoạt động kinh doanh của công ty. Kết quả phỏng vấn sâu
cũng cho thấy điểm tương đồng và lý giải cho yếu tố đã được đưa ra
phân tích trong cấu phần phân tích định lượng về định hướng tỷ trọng
các nhóm khách hàng khác nhau cũng như nhập khẩu các sản phẩm có
xuất xứ khác nhau đóng vai trò rất quan trọng đến tổng doanh thu.
Yếu tố cơ sở vật chất: Với thế mạnh này về cơ sở vật chất đạt chuẩn
GSP, mục tiêu của công ty Bali trong các năm tiếp theo là nhập khẩu
trực tiếp hoặc nhập khẩu ủy thác các mặt hàng công ty có thế mạnh.
Hệ thống thông tin cũng là yếu tố thuộc về cơ sở vật chất được nhấn
mạnh là ảnh hưởng đến kết quả hoạt động kinh doanh của công ty theo
hai chiều hướng. Thứ nhất, hệ thống thông tin về kết quả kinh doanh
của tự thân công ty Bali cùng những phân tích khai thác số liệu của hệ
thống này sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc thu hút vốn đầu tư cho
công ty. Thứ hai, hệ thống thông tin về thị trường và các nhóm khách
hàng, sản phẩm và các đối thủ cạnh tranh là hết sức cần thiết để công
ty Bali có thể tận dụng được mọi lợi thế nhằm tăng cường kết quả hoạt
động kinh doanh của công ty.


12
3.2.2. Ảnh hưởng của các yếu tố môi trường ngành
Yếu tố khách hàng: doanh thu của công ty theo các nhóm khách

công ty phục vụ; vấn đề rủi ro do nhập khẩu…


13
Bảng 3.3. Hồi quy tuyến tính đơn biến giữa tổng doanh thu hàng năm
(biến đổi hàm logarit) và các biến số độc lập là các yếu tố bên ngoài
Hệ số góc a
95% KTC
t
p
R2
Chỉ số CPI
0,011
-0,005; 0,027
2,82
0,106
0,699
Chỉ số giá đô la Mỹ
0,216
0,046; 0,386
5,48
0,032*
0,096
Chỉ số cước vận tải (VT)
-0,052
-0,081; -0,022 -7,53
0,017*
0,948
Chỉ số cước kho bãi và hỗ trợ (KB)
-0,049

3.3. Mô hình tiên lượng kết quả hoạt động kinh doanh của Công
ty Bali
Dựa vào kết quả của mục tiêu 1 và mục tiêu 2, mô hình tiên lượng
kết quả hoạt động kinh doanh của công ty Bali phản ánh sự chú trọng
của công ty vào phát triển đối với từng nhóm khách hàng cụ thể, tổng
doanh thu tại một thời điểm (t) của công ty Bali được ước tính bằng
tổng của cấu phần doanh thu từ 5 nhóm khách hàng được ký hiệu từ
KH1 đến KH5 bao gồm nhóm doanh nghiệp (KH1); nhóm cơ sở y tế
công lập (KH2); nhóm nhà thuốc bệnh viện (KH3); nhóm bán lẻ (KH4)
và nhóm khác (KH5). Đối với từng nhóm khách hàng, phản ánh sự
khác biệt lớn về xuất xứ của các mặt hàng kinh doanh cho từng nhóm
khách hàng cũng như ảnh hưởng của các yếu tố khác nhau lên các
nhóm mặt hàng có xuất xứ khác nhau này (doanh thu của các mặt hàng
nhập khẩu chịu ảnh hưởng lớn của các yếu tố bên ngoài như tỷ giá đô
la Mỹ, vấn đề nhập khẩu, vốn…; doanhthu của các mặt hàng có nguồn
gốc Việt Nam chịu ảnh hưởng lớn của các yếu tố liên quan đến đấu
thầu và môi trường chính sách…), doanh thu cho mỗi nhóm khách
hàng lại được chia thành tổng doanh thu của từ từng nhóm quốc gia.
Với các giả định về nguồn vốn như đã được trình bày ở trên, Bảng
3.4 dưới đây trình bày kết quả tiên lượng hoạt động kinh doanh của
công ty Bali giai đoạn 2018-2020 theo các kịch bản/mô hình khác
nhau, trong đó mô hình 1, mô hình 2, mô hình 3 và mô hình 4 thể hiện
mối liên quan giữa các biến số độc lập/các tham số đầu vào là các yếu
tố về doanh thu chu kì trước, vốn, tỷ trọng khách hàng nhóm 1 và tỷ
trọng hàng hóa xuất xứ từ quốc gia nhóm 1 đã được phân tích trong
mục tiêu 2.


14
Bảng 3.4. Tiên lượng doanh thu và lợi nhuận trên doanh thu của công

19,3%

74.390.000.000
103.090.000.000
142.570.000.000

85.900.000.000
128.660.000.000
192.890.000.000

15,4%
24,8%
35,3%

57.120.000.000
72.830.000.000
92.060.000.000

59.610.000.000
76.390.000.000
96.460.000.000

4,4%
4,9%
4,8%

CHƯƠNG 4. BÀN LUẬN
4.1. Kết quả hoạt động kinh doanh của một số công ty dược phẩm
tại Việt Nam
Tình hình kinh doanh của các công ty dược phẩm trong nghiên cứu

chịu sự sụt giảm tỷ lệ này lên đến 3,7%. Như vậy, tỷ lệ này của công
ty Bali là 23,6%/năm trong giai đoạn 2013-2016 tương tự như xu thế
kinh doanh của các công ty cùng ngành nghề. Tuy nhiên, là thấp nhất
so sánh với các công ty ANPER, APEC và HP.
Khi xem xét tỷ trọng vốn chủ sở hữu trong tổng nguồn vốn, hay
còn gọi là tỷ suất tài trợ (thực chất là một cách tính khác của chỉ tiêu
hệ số tài trợ) cho ta thấy trong tổng số vốn tài trợ tài sản của công ty,
vốn chủ sở hữu chiếm bao nhiêu %. Về mặt lý thuyết trị số của chỉ tiêu
này càng lớn, chứng tỏ tài sản của công ty được đầu tư bằng vốn chủ
sở hữu càng cao, mức độ độc lập về mặt tài chính của công ty càng
lớn. Thực tế, tỷ suất này của công ty Bali có sự thay đổi đáng kể, năm
2014 có sự tăng về mặt giá trị sau đó không có sự thay đổi nhiều vào
các năm 2015 và 2016. Tuy xét về giá trị tuyệt đối, vốn chủ sở hữu
tăng lên và giữ nguyên nhưng vì có sự điều chỉnh tổng nguồn vốn của
công ty nên tỷ trọng của vốn chủ sở hữu trong tổng nguồn vốn có sự
thay đổi đáng kể, năm 2013 chiếm 69,77%, đến năm 2014 chỉ còn
55,01%, đến năm 2015 tỷ trọng của vốn chủ sở hữu tiếp tục giảm
xuống còn 46,16% và tiếp tục giảm xuống còn 27,76% vào năm 2016.
Nhìn chung nhóm các doanh nghiệp dược phẩm đều duy trì cơ cấu
nguồn vốn khá lành mạnh, vốn chủ sở hữu bình quân chiếm đến 66%
cơ cấu nguồn vốn. Trong đó, Công ty Cổ phần Dược phẩm Imexpharm
là doanh nghiệp có tỷ trọng vốn chủ sở hữu cao nhất (83%). Khi so
sánh với các doanh nghiệp kinh doanh dược phẩm khác, kết quả cho
thấy, tỷ suất này của công ty Bali hiện đang ở trạng thái chưa được tốt
như các doanh nghiệp kinh doanh cùng ngành nghề và ban giám đốc
công ty cần chú trọng điều chỉnh trong thời gian tới.
Hệ số nợ hay tỷ trọng nợ phải trả trong tổng nguồn vốn phản ánh
trong tổng số vốn tài trợ tài sản của công ty, nợ phải trả chiếm bao



và định lượng ảnh hưởng đến doanh thu. Vấn đề về huy động vốn của
doanh nghiệp thông qua vốn vay trong giai đoạn 2013-2016 cũng như
trong thời gian tới có nhiều điểm thuận lợi và có khả năng được tăng
cường nhờ sự ổn định của các chính sách vĩ mô. Cụ thể, từ cuối 2011
đến nay, Ngân hàng nhà nước đã có nhiều đều chỉnh căn bản giúp đạt
được mục tiêu giảm mặt bằng lãi suất cho vay nhằm giảm khó khăn
cho doanh nghiệp trong nước nói chung.


17
Các vấn đề về nguồn nhân lực cũng được nhấn mạnh là yếu tố quyết
định kết quả hoạt động kinh doanh của công ty. Số lượng và chất lượng
nguồn nhân lực được lãnh đạo công ty quan tâm thông qua các chính
sách thu hút, duy trì và đào tạo liên tục. Bên cạnh đó vai trò của nhà
lãnh đạo/quản lý cùng các vấn đề về quản trị doanh nghiệp cũng được
đề cập đến là yếu tố ảnh hưởng quan trọng. Trong thời gian tới, việc
phân tích trường hợp về mô hình quản trị doanh nghiệp của một số các
doanh nghiệp khác nhau là rất quan trọng để có thể trả lời được câu
hỏi mô hình quản trị doanh nghiệp nào là phù hợp nhất với bối cảnh
các doanh nghiệp dược vừa và nhỏ trong nước.
Nhược điểm thuộc về hệ thống thông tin của nội bộ doanh nghiệp
cũng như thiếu hệ thống thông tin cập nhật và toàn diện bên ngoài về
thị trường, cạnh tranh, sản phẩm…được chỉ ra là hạn chế cho các hoạt
động kinh doanh hiệu quả của công ty Bali nói riêng và các doanh
nghiệp dược nói chung. Mặc dù hiện trạng về vấn để sử dụng công
nghệ thông tin trong việc cập nhật thông tin về dược phẩm tại Việt
Nam nhìn chung còn hạn chế, tuy nhiên một số nghiên cứu như của
tác giả Nguyễn Trung Hà (2014) đã chỉ ra một số cơ sở y tế đã bắt đầu
áp dụng công nghệ thông tin trong việc lưu trữ các số liệu về tình hình
sử dụng thuốc và sử dụng các số liệu này trong hoạt động đấu thầu.

đến ảnh hưởng của yếu tố này đến kết quả hoạt động kinh doanh của
công ty, đặc biệt trong bối cảnh thực hành tự điều trị của người dân tại
Việt Nam còn rất phổ biến.
Đối với hoạt động bán buôn cho nhóm doanh nghiệp dược, các mặt
hàng chính của công ty bao gồm nhóm cơ xương khớp, máu và chế
phẩm và nhóm tim mạch là các mặt hàng nhập khẩu từ cả các quốc gia
nhóm 1 và quốc gia nhóm 2. Doanh thu từ nhóm khách hàng này có
nhiều đặc điểm riêng biệt, chịu ảnh hưởng lớn bởi các yếu tố thuộc về
tỷ giá, các vấn đề liên quan đến nhập khẩu. Trong thời gian tới, việc
tìm hiểu và phân tích kỹ nhóm khách hàng này đóng vai trò rất quan
trọng để tăng cường hiệu quả kinh doanh. Nghiên cứu của tác giả
Nguyễn Văn Quân (2010) cũng đã chỉ ra những chiến lược tiếp thị sản
phẩm hiệu quả với nhóm khách hàng này. Mặc dù chỉ tập trung vào
các mặt hàng thuốc thảo dược, nhưng việc nghiên cứu các chiến lược
tiếp thị hiệu quả này có thể hữu ích với hoạt động kinh doanh của công
ty, đặc biệt là đối với các mặt hàng kinh doanh tương tự.
Đối với khách hàng là cơ sở y tế công lập, các mặt hàng công ty
cung ứng tương đối đa dạng với nhóm tiêu hóa chiếm tỷ trọng lớn, có
nguồn gốc từ cả quốc gia nhóm 1, nhóm 2 và trong nước, chịu sự cạnh
tranh lớn của các công ty dược trong nước, các quy định liên quan đến
đấu thầu và khả năng thanh toán của khách hàng. Những ảnh hưởng
liên quan đến vấn đề đấu thầu đến kết quả hoạt động kinh doanh của
công ty Bali được chỉ ra trong nghiên cứu này cũng đồng thuận với
những phân tích về ảnh hưởng của các phương thức đấu thầu mua sắm
thuốc cho các cơ sở khám chữa bệnh công lập ở Việt Nam của tác giả
Phạm Lương Sơn (2012). Trong bối cảnh các cơ sở y tế công lập nói
chung và các bệnh viện nói riêng có xu hướng không ngừng cải thiện


19

nghiệp dược tại Việt Nam được xuất bản trên tạp chí quốc tế vào tháng
7 năm 2017. Trong đó tác giả nhấn mạnh ảnh hưởng của sự tăng trưởng
kinh tế nhanh chóng và thu nhập bình quân đầu người trong vòng 20
năm qua có những ảnh hưởng nhất định lên nhận thức về sức khỏe và
y tế của người dân từ đó dẫn đến những gia tăng trong cầu dịch vụ y
tế cũng như các mặt hàng dược phẩm.


20
Ngoài ra, nếu như một số nghiên cứu trên thế giới cũng cho thấy
mối quan hệ ngược chiều giữa lạm phát với mức chi tiêu dành cho
thuốc, nghĩa là nếu lạm phát càng tăng sẽ dẫn tới sự giảm chi tiêu dành
cho thuốc của người dân, do đó ảnh hưởng tới kết quả hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp. Trong nghiên cứu này, tổng doanh thu của
công ty Bali lại không được chỉ ra là có mối liên quan có ý nghĩa thống
kê với giá trị chỉ số CPI. Trong một số trường hợp đặc thù như doanh
thu của nhóm máu và chế phẩm; và doanh thu của nhóm kháng khuẩn
của công ty Bali lại được chỉ ra là có mối liên hệ thuận chiều một cách
có ý nghĩa thống kê trong giai đoạn từ 2013 đến 2016. Sự khác biệt có
thể lý giải theo hướng nếu như nghiên cứu tại Trung Quốc diễn ra
trong một giai đoạn khá dài thì kết quả nghiên cứu này chỉ mang tính
chất chỉ ra mối liên hệ trong ngắn hạn, và về mặt bản chất khi lạm phát
càng tăng thì giá trị tổng doanh thu càng lớn là điều dễ hiểu.
Một trong những vấn đề được gợi mở từ kết quả nghiên cứu định
tính của nghiên cứu này đó là ảnh hưởng của các vấn đề liên quan đến
khách hàng, cụ thể là các yếu tố như quy mô dân số của cộng đồng dân
cư mà công ty phục vụ, các vấn đề liên quan đến dịch tễ học, quy mô
bệnh tật của quần thể. Tuy nhiên kết quả nghiên cứu không đồng nhất
khi phân tích với các nhóm thuốc khác nhau, các nhóm khách hàng
khác nhau phản ánh sự phức tạp trong mối quan hệ này. Bản chất khi

nghiên cứu đầu tiên áp dụng một cách bài bản các khuyến cáo về tiên
lượng hiệu quả hoạt động kinh doanh, phối hợp cả phương pháp hồi
quy tuyến tính và phân tích chuỗi thời gian trong phân tích số liệu về
kết quả hoạt động kinh doanh của công ty quy mô vừa và nhỏ; việc áp
dụng phối hợp cả phương pháp định tính và định lượng góp phần cung
cấp các thông tin hữu ích cho nhà quản lý trong việc ra quyết định
trong tương lai; mô hình tiên lượng có khả năng áp dụng không chỉ
đối với công ty mà còn doanh nghiệp tương tự.
Về hạn chế, nghiên cứu viên đã phải sử dụng số liệu thời gian theo
năm do đó số quan sát chỉ dừng lại 4 năm nên không cho phép thực
hiện các mô hình chuỗi thời gian phức tạp hơn. Vì hạn chế về số quan
sát, việc xây dựng mô hình dự báo kết quả hoạt động kinh doanh buộc
phải áp dụng nhiều cách tiếp cận bao gồm cả sử dụng mô hình hồi quy
tuyến tính, mô hình chuỗi thời gian và dựa theo các nhận định liên
quan đến biến động về môi trường bên ngoài và chiến lược kinh doanh
của công ty. Mô hình tồn tại những hạn chế nhất định về tính bất định
của các tham số đầu vào mặc dù nghiên cứu viên đã áp dụng các
phương pháp nhằm xử lý tính bất định này thông qua phương pháp
phân tích độ nhạy đa biến. Cuối cùng, mặc dù đã cố gắng đề cập đến
nhiều biến số ảnh hưởng khác nhau (các yếu tố môi trường nội bộ và
vĩ mô), do hạn chế về số liệu đầu vào, nghiên cứu viên chưa thể phân
tích một cách định lượng ảnh hưởng của biến động về chính sách cũng
như các yếu tố thuộc về văn hóa – xã hội và hành vi của người tiêu
dùng như tự điều trị, điều trị tại nhà…


22

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
5.1. Kết luận

tương tự với công ty ANPER và HP cho thấy các công ty này vẫn chưa
thực sự sử dụng hiệu quả vốn chủ sở hữu, cần thiết phải chú trọng
trong hoạt động quản lý tài chính để cải thiện chỉ tiêu này. Sức sinh
lợi của doanh thu thuần (ROS) của các công ty APEC, Bali có xu


23
hướng giảm theo thời gian. Các giá trị này ở ANPER và HP ở mức
thấp hơn khá nhiều.
5.1.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả hoạt động kinh doanh
của công ty Bali
Yếu tố môi trường nội bộ: Yếu tố vốn được nhấn mạnh là có ảnh
hưởng quan trọng. Vấn đề huy động vốn của công ty Bali nói riêng và
các doanh nghiệp khác thông qua vốn vay trong giai đoạn 2013-2016
và thời gian tới có nhiều điểm thuận lợi và có khả năng được tăng
cường nhờ sự ổn định của chính sách vĩ mô. Yếu tố nguồn nhân lực
trong đó vấn đề mô hình quản trị doanh nghiệp được nhấn mạnh và
cần được quan tâm nghiên cứu trong thời gian tới để tăng cường hiệu
qủa hoạt động của doanh nghiệp kinh doanh dược phẩm có quy mô
vừa và nhỏ. Yếu tố cơ sở vật chất trong đó có việc đầu tư để công ty
đạt chuẩn GSP là một trong các yếu tố được đánh giá là tạo điều kiện
thuận lợi cho hoạt động kinh doanh. Tuy nhiên, nhược điểm của hệ
thống thông tin nội bộ doanh nghiệp cũng như hệ thống thông tin về
thị trường, cạnh tranh, sản phẩm…gây khó khăn cho hoạt động kinh
doanh của công ty Bali nói riêng và các doanh nghiệp dược nói chung.
Yếu tố môi trường ngành: Các chính sách hiện tại ảnh hưởng đặc
biệt tới hoạt động kinh doanh của công ty Bali gồm chính sách kiểm
soát giá, chính sách đấu thầu, yêu cầu bằng chứng về đánh giá kinh tế
y tế, chính sách thuốc generic. Việc tìm hiểu kỹ lưỡng, phân tích các
thuận lợi – khó khăn và các bài học kinh nghiệm trong quá trình thực


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status