PHÒNG GD-ĐT CẨM GIÀNG
ĐỀ KIỂM TRA NĂNG LỰC GIÁO VIÊN
TRƯỜNG THCS TÂN TRƯỜNG
THỜI GIAN: 90 PHÚT.
Câu 1 (3,0 điểm)
a. Thầy (cô) hãy nêu quy trình biên soạn bộ câu hỏi, bài tập kiểm tra đánh
giá theo định hướng năng lực của một chủ đề.
b. Hãy trình bày yêu cầu cụ thể của 4 mức độ năng lực. Mỗi mức độ lấy
một ví dụ?
Câu 2 (5,0 điểm):
Thầy cô hãy trình bày cách thiết kế nội dung một giờ dạy học theo định
hướng đổi mới phương pháp dạy học.
Câu 3 (2,0 điểm):
a.Theo thầy cô, dạy học tình huống có phải là tình huống dạy không ? vì
sao
b. Hãy nêu quá trình xây dựng tình huống dạy học?
--- Hết ---
PHÒNG GD-ĐT CẨM GIÀNG
ĐỀ KIỂM TRA NĂNG LỰC GIÁO VIÊN
TRƯỜNG THCS TÂN TRƯỜNG
THỜI GIAN: 90 PHÚT.
b. Mức độ năng lực:
- Yêu cầu: Trình bày đúng yêu cầu trong từng mức độ: 2,0 điểm. Mỗi mức
độ trình bày đúng,đủ các , được 0,5 điểm. nếu mỗi mức độ chỉ nêu được nội dung
mức độ, chưa nêu được dấu hiệu mức độ chỉ chấm 0,25 điểm.
- Đáp án: Các mức độ này được sắp xếp theo 4 mức: nhận biết, thông hiểu,
vận dụng thấp, vận dụng cao (nên từ một chuẩn xây dựng các câu hỏi ở những
mức khác nhau):
* Mức nhận biết: Học sinh nhớ được các khái niệm cơ bản, có thể nêu lên hoặc
nhận ra chúng khi được yêu cầu. Các động từ thường sử dụng: Nêu, tóm tắt, nhớ,
nhận diện, trình bày…
* Mức thông hiểu:
- Học sinh lí giải, suy diễn, kết nối các thông tin, biết vận dụng các kiến
thức, khái niệm theo cách tương tự.
- Các động từ thường sử dụng: giải thích, lí giải, xác định, nhận xét…
* Mức vận dụng thấp:
- Học sinh tạo ra sự liên kết, kết nối, so sánh giữa kiến thức đã học và vận
dụng chúng để thực hành các yêu cầu tương tự như giáo viên đã dạy hoặc SGK
đã hướng dẫn.
- Các động từ thường sử dụng: tạo lập (câu, đoạn); so sánh, nhận
xét, đánh giá, phân tích…
* Mức vận dụng cao:
- Học sinh sử dụng các khái niệm, kiến thức về môn học để giải quyết các
vấn đề mới hoặc những tình huống tương tự như trong thực tiễn cuộc sống.
- Các động từ thường sử dụng: tạo lập (bài viết, đoạn); so sánh, nhận xét,
đánh giá,
phân tích, trình bày (quan điểm cá nhân); …
Câu 2 (5,0 điểm):
- Yêu cầu: Trình bày rõ ràng, đứng yêu cầu cách thiết kế nội dung một giờ
+ Hướng dẫn HS chuẩn bị bài học (soạn bài, làm bài tập, chuẩn bị tài liệu và
đồ dùng học tập cần thiết).
Tổ chức các hoạt động dạy học: Trình bày rõ cách thức triển khai các hoạt
động dạy- học cụ thể. Với mỗi hoạt động cần chỉ rõ:
+ Tên hoạt động ;
+ Mục tiêu của hoạt động;
+ Cách tiến hành hoạt động;
+ Thời lượng để thực hiện hoạt động;
+ Kết luận của GV về: những KT, KN, thái độ HS cần có sau hoạt động;
những tình huống thực tiễn có thể vận dụng KT, KN, thái độ đã học để giải quyết;
những sai sót thường gặp; những hậu quả có thể xảy ra nếu không có cách giải
quyết phù hợp;...
Hướng dẫn các hoạt động tiếp nối: xác định những việc HS cần phải tiếp tục
thực hiện sau giờ học để củng cố, khắc sâu, mở rộng bài cũ hoặc để chuẩn bị cho
việc học bài mới.
2. Thực hiện giờ dạy học (2,0)
- Yêu cầu: Nêu đúng các bước thực hiện giờ dạy được 2,0 điểm. Mỗi bước
trình bày đúng, đủ yêu cầu được 0,25.
- Nội dung cần đạt: Đảm bảo các bước cơ bản sau:
a. Kiểm tra sự chuẩn bị của HS
- Kiểm tra tình hình nắm vững bài học cũ và những KT, KN đã học có liên
quan đến bài mới.
- Kiểm tra tình hình chuẩn bị bài mới (soạn bài, làm bài tập, chuẩn bị tài liệu
và đồ dùng học tập cần thiết))
Lưu ý: Việc kiểm tra sự chuẩn bị của HS có thể thực hiện đầu giờ học hoặc
có thể đan xen trong quá trình dạy bài mới.
b. Tổ chức dạy và học bài mới
- GV giới thiệu bài mới: nêu nhiệm vụ học tập và cách thức thực hiện để đạt
quá trình dạy học đang diễn ra.
Bản chất của dạy học tình huống là dạy học gắn liền với thực tiễn, dạy học
trong những hoàn cảnh, điều kiện cụ thể và luôn biến động.
Tình huống dạy học (là khái niệm quan trọng nhất của dạy học tình
huống.): Tình huống dạy học là khái niệm mô tả hoàn cảnh, điều kiện dạy học cụ
thể như: thầy, trò, sách giáo khao (SGK) có gì đặc biệt? Mục đích, nội dung,
phương pháp, phương tiện, môi trường dạy học… như thế nào?
Tình huống dạy học luôn luôn thay đổi, vì vậy để dạy học tốt đòi hỏi người
thầy phải quan sát thực tế, nhạy cảm và tập trung sự chú ý của mình vào công
việc.
b. Quá trình xây dựng tình huống dạy học 0,75):
- Yêu cầu: Chỉ cần nêu được 3 giai đoạn, mỗi giai đoạn, nêu đúng được 0,25
điểm
- Nội dung cần đạt: Xây dựng tình huống dạy học qua 3 giai đoạn: trước giờ
học, trong giờ học, sau giờ học.
+ Trước giờ học: Hiện nay, việc xây dựng tình huống dạy học trước giờ học
có thể xem là quan trọng nhất.
+ Trong giờ học: Đây là lúc xảy ra sự tương tác trực tiếp giữa thầy và trò, là
giai đoạn quan trọng nhất, quý báu nhất của quá trình dạy học, vì chất lượng dạy
học – giáo dục thường được quyết định vào lúc này.
Khi lên lớp người thầy vừa quan sát lớp học vừa giảng dạy, lúc nói, lúc viết,
lúc sử dụng tranh, ảnh, bản đồ, lúc làm thí nghiệm, lúc ra bài tập, lúc dùng power
point, lúc hỏi đáp, lúc tổ chức thảo luận, lúc kiểm tra học sinh…
Giọng nói của thầy lên bổng, xuống trầm, lúc nhanh, lúc chậm, lúc nhấn
mạnh điểm này, lúc lướt qua điểm kia. Thái độ kiên quyết, lúc mềm dẻo, lúc
nghiêm trang, lúc hài hước.
Ngôn ngữ, phong thái của thầy kết hợp hài hòa với nhau, phù hợp với yêu
cầu, nhiệm vụ học tập và không khí hoạt động chung của lớp học, tạo ra vẻ đẹp tự
II. Mục tiêu, phương pháp, nội dung của kế hoạch dạy học theo hướng tích hợp.
điểm)
1. Mục tiêu (0,5)
- Hiểu được bản chất của kế hoạch dạy học tích hợp.
- Làm cho quá trình học tập có ý nghĩa.
- Phân biệt cái cốt yếu với cái ít quan trọng hơn.
- Dạy sử dụng kiến thức trong tình huống cụ thể.
- Xác lập mối quan hệ giữa các khái niệm đã học.
2. Phương pháp (0,5)
Phương pháp dạy học theo hướng tích hợp là lồng ghép nội dung tích hợp vào các
bài dạy, tùy theo từng môn học mà lồng ghép tích hợp ở các mức độ như liên hệ,
lồng ghép bộ phận, toàn phần, ... từ đó giáo dục và rèn kĩ năng sống, giá trị sống
cho học sinh. Cần chú ý đến ba hình thức tích hợp sau:
+ Tích hợp ngang.
+ Tích hợp dọc.
+ Tích hợp liên môn.
3. Nội dung:
3.1 Mức độ tích hợp tùy theo từng môn học, nội dung để lựa chọn mức độ tích
hợp: (0,5)
+ Mức độ tích hợp từ liên hệ (chỉ khai thác nội dung bài học và liên hệ với kiến
thức (mức độ hạn chế);
+ Tích hợp bộ phận, chỉ một phần của bài học, hoạt động thực hiện nội dung giáo
dục (mức độ trung bình);
+ Đến tích hợp toàn phần, cả một bài có nội dung trùng khớp với nội dung giáo
dục (mức độ cao).
3,2. Cách thức tích hợp (3,0): Mỗi cách tích hợp trình bày được yêu cầu và lấy
được ví dụ phù hợp, được 1,0 điểm)
a. Tích hợp ngang: Là kiểu tích hợp giữa các phân môn, Chủ đề, bài,…/ môn.
Là những từ có âm thanh giống nhau
nhau
Từ đồng nghĩa
Là những từ có nghĩa giống
nhưng nghĩa khác nhau, không liên
hoặc gần giống nhau.
quan gì với nhau.
VD:
VD:
-Con ngựa đang đứng bỗng lồng lên.
- Rủ nhau xuống bể mò cua
Đem về nấu quả mơ chua trên rừng
- Tôi nhốt con chim vào lồng.
- Chim xanh ăn trái xoài xanh
Ăn no tắm mát đậu cành cây đa.
* Tích hợp dọc trong cùng một phân môn nhưng khác khối (lớp)
Đây là kiểu tích hợp theo chiều dọc từ dưới lên .
Lớp 9
gói, học mở.
c. Tích hợp liên môn:
Đây là quan điểm tích hợp mở rộng kiến thức trong 1 bài học/ môn các kiến thức
của các bộ môn KHTN-KHXH các nghành khoa học, nghệ thuật khác với các
kiến thức đời sống mà học sinh tích lũy được từ cuộc sống cộng đồng, qua đó làm
giàu thêm vốn hiểu biết và phát triển nhân cách cho học sinh.
Ví dụ dạy Ngữ văn 7: Khi dạy văn bản “Tục ngữ về thiên nhiên và lao động sản
xuất” (Ngữ văn 7 - Tập 2 - Trang 3) để học sinh hiểu một cách rõ ràng, cụ thể
hiện tượng ngày và đêm dài ngắn khác nhau trên trái đất qua bài 1:
“Đêm tháng năm chưa nằm đã sáng
Ngày tháng mười chưa cười đã tối ”.
Giáo viên tích hợp kiến thức qua môn Địa lí lớp 6 (Bài 9 - SGK Trang 28): Hiện
tượng ngày đêm dài ngắn theo mùa…
- Giáo viên đặt câu hỏi: Vị trí của nước ta nằm ở nửa cầu nào ? Hãy giải thích tại
sao có hiện tượng tháng 5 ngày dài đêm ngắn và tháng 10 lại ngày ngắn đêm dài ?
- Học sinh trả lời: Vào tháng 5, nửa cầu Bắc ngả về phía mặt trời nên nhận được
nhiều ánh sáng. Vì thế mà ngày dài hơn và đêm ngắn lại.
Vào tháng 10, nửa cầu Bắc không ngả về phía mặt trời nên nhận được ít ánh
sáng. Vì thế mà ngày ngắn lại và đêm dài ra.