ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
------------
PHẠM THÁI MINH
THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DƢỠNG
VÀ PHÕNG TRỊ BỆNH CHO LỢN NÁI SINH SẢN TẠI TRANG TRẠI
NGÔ HỒNG GẤM – XÃ HỢP THANH - LƢƠNG SƠN – HÒA BÌNH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo:
Chính quy
Chuyên ngành:
Thú y
Khoa:
Chăn nuôi Thú y
Khóa học:
2013 - 2017
Thái Nguyên, năm 2017
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
Giảng viên hƣớng dẫn: TS. Ngô Nhật Thắng
Thái Nguyên, năm 2017
i
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập lý thuyết tại trường và thực tập tại cơ sở, đến nay
em đã hoàn thành bản khoá luận tốt nghiệp đại học. Để hoàn thành bản khoá luận này
em đã nhận được sự chỉ bảo, giúp đỡ nhiệt tình của thầy giáo hướng dẫn, sự giúp đỡ
của Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi – Thú y, trường Đại học Nông Lâm Thái
Nguyên và trang trại chăn nuôi “ Ngô Hồng Gấm” xã Hợp Thanh, Huyện Lương Sơn,
Tỉnh Hòa Bình. Em cũng nhận sự giúp đỡ nhiệt tình của người thân trong gia đình. Để
đáp lại tình cảm đó, qua đây em xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc và kính trọng tới tất cả
các tập thể, cá nhân đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong suốt quá trình thực tập.
Trước tiên, em xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu nhà trường, Ban Chủ
nhiệm Khoa Chăn nuôi thú y cùng tập thể các thầy cô giáo trong khoa Chăn nuôi thú y
trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã tận tình dạy dỗ và dìu dắt em trong suốt
thời gian học tại trường cũng như thời gian thực tập tốt nghiệp
Đặc biệt, em xin chân thành cảm ơn sự quan tâm, chỉ bảo và hướng dẫn nhiệt
tình của cô giáo hướng dẫn TS. Ngô Nhật Thắng người đã trực tiếp hướng dẫn em
thực hiện thành công khóa luận này.
Em cũng xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới Chủ trang trại Ngô Hồng
Gấm, kĩ sư kĩ thuật cùng toàn thể anh chị em công nhân trong trang trại đã hướng
dẫn em các công tác kỹ thuật, theo dõi các chỉ tiêu và thu thập số liệu làm cơ sở cho
khóa luận này.
Qua đây, em cũng xin được bày tỏ lòng biết ơn tới gia đình, người thân và bạn bè đã
giúp đỡ và động viên em trong suốt thời gian học tập và rèn luyện tại trường.
Cuối cùng, em xin trân trọng gửi tới các thầy giáo, cô giáo trong hội đồng
đánh giá khóa luận lời cảm ơn chân thành và lời chúc tốt đẹp nhất.
iii
DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT
Cs
:
Cộng sự
CP
:
Charoen Pokphand
NLTĐ
:
Năng lượng trao đổi
Nxb
:
Nhà xuất bản
TS
:
Phần 1: MỞ ĐẦU ............................................................................................ 1
1.1. Đặt vấn đề................................................................................................... 1
1.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài ................................................................... 2
1.2.1 Mục tiêu nghiên cứu................................................................................. 2
1.2.2. Yêu cầu của đề tài ................................................................................... 2
Phần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU ................................................................. 3
2.1.Điều kiện cơ sở nơi thực tập ....................................................................... 3
2.1.1. Quá trình thành lập và phát triển của trang trại ...................................... 3
2.1.2. Đánh giá chung ....................................................................................... 6
2.2. Tổng quan tài liệu....................................................................................... 7
2.2.1. Đặc điểm sinh lý, sinh dục của lợn nái ................................................... 7
2.2.2. Một số chỉ tiêu đánh giá năng suất sinh sản của lợn nái ......................... 9
2.2.3. Quy trình chăm sóc lợn nái sinh sản giai đoạn chửa, đẻ, nuôi con....... 11
2.2.4. Một số bệnh hay gặp ở lợn nái sinh sản ................................................ 16
2.3. Tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước ...................................... 27
2.3.1. Tổng quan các nghiên cứu trong nước .................................................. 27
2.3.2. Tổng quan các nghiên cứu ở nước ngoài .............................................. 29
Phần 3: ĐỐI TƢỢNG,NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
......................................................................................................................... 31
3.1. Đối tượng ................................................................................................. 31
3.2. Địa điểm và thời gian tiến hành ............................................................... 31
v
3.3. Nội dung thực hiện ................................................................................... 31
3.4. Các chỉ tiêu theo dõi và phương pháp thực hiện ...................................... 31
3.4.1. Các chỉ tiêu theo dõi .............................................................................. 31
3.4.2. Phương pháp thực hiện.......................................................................... 32
3.4.3. Quy trình xuất bán lợn .......................................................................... 44
MỘT SỐ HÌNH ẢNH TRONG QUÁ TRÌNH THỰC TẬP
1
Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Trong ngành chăn nuôi – thú y hiện nay, chăn nuôi lợn là một trong các ngành
đem lại hiệu quả kinh tế cao. Nó chiếm một vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân.
Chăn nuôi lợn là một nghề của người nông dân. Từ việc chăn nuôi nhỏ lẻ tại các hộ gia
đình nhằm tận dụng các phế phụ phẩm nông nghiệp, hiện nay đã có nhiều phương thức
chăn nuôi đa dạng góp phần nâng cao thu nhập của người dân. Chăn nuôi lợn ở nước ta
đang được chú ý phát triển, ngày càng chiếm ưu thế và có tầm quan trọng đặc biệt trong
đời sống của nhân dân. Con lợn đã cung cấp nhu cầu về thịt cho thị trường trong nước và
xuất khẩu, đồng thời cung cấp nguồn phân bón cho ngành trồng trọt và các sản phẩm phụ
cho ngành công nghiệp chế biến. Để đáp ứng được nhu cầu thị trường, trong những năm
gần đây nhà nước đã có những chính sách đầu tư lớn về quy mô chăn nuôi, con giống, kỹ
thuật chăm sóc và nuôi dưỡng. Bên cạnh những thành tựu đạt được, nghề chăn nuôi lợn
đang phải đối mặt với khó khăn ngoài các nguyên nhân như sự cạnh tranh với các ngành
nghề khác, các chính sách, chi phí đầu vào, chi phí thức ăn… ngành chăn nuôi lợn còn
phải đối mặt với tình hình dịch bệnh, lợn hay mắc một số bệnh như: Bệnh truyền nhiễm, kí
sinh trùng, đặc biệt là bệnh sản khoa. Một trong những bệnh sản khoa thường gặp ở lợn nái
sinh sản là bệnh viêm tử cung, viêm vú, sót nhau... Để phát triển hơn nữa ngành chăn
nuôi lợn, cần chú ý đến chăn nuôi lợn nái là một trong những khâu quan trọng góp
phần quyết định đến sự thành công trong ngành chăn nuôi lợn. Đặc biệt là trong
việc chăn nuôi lợn nái ở nước ta để có đàn con nuôi thịt sinh trưởng và phát triển
tốt, cho tỷ lệ nạc cao, và đây cũng chính là mắt xích quan trọng để tăng nhanh đàn
lợn cả về số lượng và chất lượng. Xuấ t phát từ thực tiễn trên đươ ̣c sự đồng ý của
Ban Giám Hiệu Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên và sự phân công của
khoa Chăn Nuôi Thú Y cùng với sự hướng dẫn của cô giáo TS. Ngô Nhật Thắng,
2.1.1.1. Quá trình thành lập
Trại lợn Ngô Hồng Gấm nằm trên địa phận thôn Dẻ Cau - xã Hợp Thanh huyện Lương Sơn - tỉnh Hòa Bình. Là trại lợn gia công của Công ty Chăn nuôi CP
Việt Nam. Trang trại do bà Ngô Thị Hồng Gấm làm chủ và được cán bộ kỹ thuật
của Công ty Chăn nuôi CP Việt Nam chịu trách nhiệm giám sát mọi hoạt động của
trang trại.
2.1.1.2. Cơ cấu tổ chức
Trại có đội ngũ cán bộ kĩ thuật giỏi, giàu kinh nghiệm thực tế và có ban lãnh
đạo năng động nhiệt tình và giàu năng lực. Hơn nữa, trại còn có nhiều công nhân
giỏi, có nhiều năm kinh nghiệm trong nghề.
Cơ cấu lao động của trại gồm: 23 người
Chủ trại: 1
Người Quản lý trại: 1
Người Kỹ sư chăn nuôi: 2
Người Kế toán: 1
Người nấu ăn: 1
Người thợ cơ khí: 1
Người Công nhân: 10
Sinh viên thực tập: 6 người
Với đội ngũ nhân công trên, trại phân ra làm các tổ khác nhau như tổ chuồng
đẻ, tổ chuồng bầu. Các tổ có bảng chấm công riêng cho từng công nhân trong tổ,
ngoài ra các tổ trưởng có nhiệm vụ đôn đốc quản lý chung các thành viên trong tổ
nhằm nâng cao tinh thần trách nhiệm và thúc đẩy sự phát triển của trang trại
4
2.1.1.3. Cơ sở vật chất của trang trại
* Hệ thống chuồng trại
Hệ thống chuồng trại được xây dựng trên nền đất cao, dễ thoát nước. Được
bố trí tách biệt với khu hành chính và hộ gia đình, được xây dựng theo hướng Đông
Nam - Tây Bắc, đảm bảo mát về mùa hè, ấm về mùa đông. Xung quanh khu sản
thì tiến hành cai sữa và chuyển sang các Trại chăn nuôi lợn giống của Công ty.
Theo đánh giá của Công ty Chăn nuôi CP Việt Nam thì Trại Ngô Hồng Gấm là một
trong những trại đứng tốp đầu trong khu vực miền bắc.
Ngoài ra trại có 15 con lợn đực Pi-Du 31 (Pietrain-Duroc), các lợn đực
giống này được nuôi nhằm mục đích kích thích động dục cho lợn nái và khai thác
tinh để thụ tinh nhân tạo. Lợn nái được phối 3 lần và được luân chuyển đến khu
chăm sóc nuôi dưỡng riêng.
Thức ăn cho lợn nái là thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh có chất lượng cao, được
Công ty Chăn nuôi CP Việt Nam cấp cho từng đối tượng lợn của trại.
* Công tác vệ sinh thú y của trại
Vệ sinh phòng bệnh là công tác rất quan trọng. Nó có tác dụng tăng sức đề
kháng cho vật nuôi, giảm nguy cơ xảy ra dịch bệnh, hạn chế những những bệnh có
tính chất lây lan từ đó phát huy tốt tiềm năng của giống.
- Công tác vệ sinh:
Chuồng trại được xây dựng thoáng mát về mùa Hè, mùa Đông được che
chắn cẩn thận, xung quanh các chuồng nuôi có rèm che bằng tấm lưới nhựa để tránh
ánh nắng chiếu trực tiếp vào trong chuồng nuôi. Trước cửa vào các chuồng có chậu
pha nước sát trùng để dẫm ủng để hạn chế mầm bềnh xâm nhập từ môi trường vào
chuồng nuôi. Hàng ngày luôn có công nhân và sinh viên quét dọn vệ sinh chuồng
trại, thu gom phân, nước tiểu, khơi thông cống rãnh, đường đi trong trại được quét
dọn, phun thuốc sát trùng, hành lang đi lại được quét dọn và rắc vôi theo quy định.
Công nhân, kỹ sư, khách tham quan trước khi vào khu chăn nuôi đều phải sát trùng
tắm rửa sạch sẽ, thay quần áo bảo hộ lao động.
- Công tác phòng bệnh:
6
Trong khu vực chăn nuôi hạn chế đi lại giữa các chuồng, hành lang giữa các
chuồng và bên ngoài chuồng đều được rắc vôi bột và có chậu pha nước sát trùng để
dẫm ủng, các phương tiện vào trại được sát trùng một cách nghiêm ngặt ngay tại
2.1.2.2. Khó khăn
Đội ngũ công nhân trong trại còn thiếu, do đó ảnh hưởng đến tiến độ công việc.
Thời tiết diễn biến phức tạp cho nên chưa tạo được vành đai phòng dịch triệt
để. Trang thiết bị vật tư, hệ thống chăn nuôi còn thiếu chưa đáp ứng được nhu cầu
sản xuất
Công tác sửa lại giàn mát khu vực chuồng đẻ đã không tuân thủ đúng quy
định phòng dịch nên đã xảy ra dịch PED thiệt hại lớn đến đàn lợn con của trại.
2.2. Tổng quan tài liệu
2.2.1. Đặc điểm sinh lý, sinh dục của lợn nái
2.2.1.1. Quy luật sinh trưởng và phát dục của bào thai
Hiểu rõ quy luật sinh trưởng và phát dục của bào thai có ý nghĩa rất quan
trọng trong công tác chăm sóc và nuôi dưỡng nái mẹ trong thời kỳ mang thai. Đây
là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp tới tỷ lệ sảy thai, chết thai và số lượng cũng như khối
lượng sơ sinh trên ổ và trên con.
Theo Bùi Hữu Đoàn và cs, (2009) [7] cho biết: quá trình phát triển của phôi
thai trải qua 3 giai đoạn sau:
+ Giai đoạn phôi thai (1 - 22 ngày)
Giai đoạn này được tính từ ngày thứ nhất đến ngày thứ 22 sau khi thụ tinh.
Sau khi thụ tinh được 20 giờ thì sự phân chia tế bào bắt đầu diễn ra. Phôi thai được
hình thành sau thụ tinh là thời điểm cho quá trình phát triển của cơ thể mới.
Từ một tế bào, phôi tăng cường trao đổi chất thành túi phôi. Tiếp theo túi
phôi thực hiện quá trình phân cắt, phôi thai phát triển thành hợp tử. Trong giai đoạn
này hợp tử sử dụng chất dinh dưỡng của tế bào trứng và tinh trùng.
Sau khi thụ tinh được 5-6 ngày thì mầm thai và túi phôi được hình thành. Lúc
đầu mầm thai lấy chất dinh dưỡng từ tế bào trứng, chất tiết từ các tuyến nội mạc tử
cung. Sau khi các màng thai được hình thành, mầm thai lấy chất dinh dưỡng từ cơ
thể mẹ bằng con đường thẩm thấu qua các màng. Sau 7 - 8 ngày, màng ối được hình
8
9
Nhưng trên thực tế để tiện theo dõi và chăm sóc, giai đoạn chửa kỳ II được
phân ra làm hai giai đoạn nhỏ:
- Giai đoạn 1: 84 - 100 ngày.
- Giai đoạn 2: 100 -114 ngày.
Mỗi giai đoạn này đòi hỏi kỹ thuật chăm sóc là khác nhau. Đặc biệt chú ý
trong 2 tuần cuối (100 - 114 ngày) dinh dưỡng và chăm sóc phải thật hợp lý. Đây là
thời kỳ lợn mẹ cần nhiều chất dinh dưỡng nhất cho sự phát triển của bào thai. Tuy
nhiên thể tích bào thai lớn làm giảm lượng thức ăn thu nhận, vì vậy cần phải cho nái
ăn nhiều bữa và đảm bảo chất dinh dưỡng. Trong thời kỳ mang thai tính thèm ăn
của nái bị giảm xuống, để khắc phục điều này cần chế biến và bảo quản thức ăn thật
tốt, kích thích tính ngon miệng cho nái thu nhận thức ăn cao. Giai đoạn này lợn mẹ
cần sự yên tĩnh, những tác động kích thích từ bên ngoài dễ dẫn đến hiện tượng đẻ
non hay xáo trộn sinh lý lợn mẹ, gây khó khăn khi đẻ.
Khi thai đã thành thục sẽ được cơ thể mẹ đẩy ra ngoài (trong khoảng 113 116 ngày), lợn thường đẻ vào ban đêm, thời gian đẻ trung bình từ 2 - 6 giờ. Nếu sức
khoẻ của lợn mẹ và các thai bình thường thì không cần can thiệp nhiều trong khi lợn
đẻ. Nhưng nếu có khó khăn trong quá trình lợn đẻ (sức khoẻ nái mẹ kém, thai nằm
sai ngôi, thai chết khô, chết lưu...) thì can thiệp ngay để đảm bảo cho cả lợn mẹ và
đàn con.
2.2.2. Một số chỉ tiêu đánh giá năng suất sinh sản của lợn nái
2.2.2.1. Số con sơ sinh còn sống đến 24h/lứa đẻ
Là chỉ tiêu kinh tế rất quan trọng. Nó phụ thuộc vào khả năng đẻ nhiều hay ít con
của giống, trình độ phối giống của người nuôi dưỡng chăm sóc và điều kiện chăm sóc
nuôi dưỡng lợn nái chửa. Trong 24 giờ sau khi sinh những con không đạt khối lượng sơ
sinh trung bình của giống, dị dạng...thì sẽ bị loại.
Lợn con mới sinh có thể chia thành 3 dạng dưới đây:
Loại thai non: là loại thai phát triển không hoàn toàn, chết trong thời gian có
chửa và trước khi sinh ra.
còi cọc, dị hình, khuyết tật. Khả năng sinh sản cũng liên quan đến sự thành thục
11
sớm hay muộn, thời gian mang thai, số lần thụ thai của lợn: “Sinh sản của gia súc là
một hình thái của sức sản xuất và cũng là một biểu hiện đặc trưng của tính di truyền
ở mỗi phẩm giống của gia súc”.
2.2.3. Quy trình chăm sóc lợn nái sinh sản giai đoạn chửa, đẻ, nuôi con
2.2.3.1. Chế độ dinh dưỡng
Yếu tố quan trọng đối với lợn nái mang thai và nuôi con là phải cung cấp đầy
đủ số lượng và chất lượng dinh dưỡng cần thiết để có hiệu quả sinh sản cao. Chế độ
dinh dưỡng bao gồm: dinh dưỡng năng lượng, dinh dưỡng protein, ảnh hưởng của
khoáng chất, nguyên tố đa vi lượng và ảnh hưởng của vitamin.
*Nhu cầu năng lượng
Năng lượng không thể thiếu được cho cơ thể mẹ duy trì nuôi thai, tiết sữa,
nuôi con. Nhu cầu năng lượng khác nhau tùy thuộc tùng giai đoạn. Cần phải đủ nhu
cầu về năng lượng cho lợn nái, tránh cung cấp thừa gây lãng phí thức ăn, giảm giá
thành sản phẩm. Nếu thiếu sẽ ảnh hưởng đến sinh lý bình thường của con vật.Năng
lượng được cung cấp dưới hai dạng:gluxit chiếm 70 - 80%, lipit 10 - 13% tổng số
năng lượng cung cấp.
* Ảnh hưởng của khoáng chất
Trong cơ thể lợn khoáng chất chứa 3% trong đó có tới 75% là canxi và
photpho, xấp xỉ 25% là natri và kali, cũng có một lượng nhỏ magie, sắt, kẽm, đồng,
các nguyên tố khác ở dạng dấu vết. Ví dụ canxi làm ngăn trở việc hấp thu kẽm gây
hiện tượng rối loạn ở da, gây sừng hóa.
*Nhu cầu về protein:
Protein là thành phần quan trọng trong khẩu phần thức ăn cung cấp cho lợn,
là thành phần không thể thay thế được cần thiết trước tiên cho mọi hoạt động trao
đổi chất trong cơ thể và tham gia cấu tạo nên các mô trong cơ thể. Do protein tham
gia vào cấu tạo hoạt động trao đổi chất nên hàng ngày luôn có một lượng nhất định
2,6
Met + xys
2,5
2,5
Tryptophan
0,8
0,8
Histidin
2,1
1,9
Lơxin
7,6
6,4
Izoloxin
3,7
sản. Do vậy dinh dưỡng đầy đủ, khẩu phần ăn hợp lý, đáp ứng được nhu cầu sinh
trưởng, phát dục trước và sau khi đẻ, nuôi con... là một trong những biện pháp hữu
hiệu để nâng cao năng suất sinh sản, hiệu quả chăn nuôi.
2.2.3.2. Chăm sóc nuôi dưỡng lợn nái chửa
* Dinh dưỡng lợn nái có chửa
Nguyên tắc nuôi lợn nái có chửa: cho ăn đúng khẩu phần, đảm bảo đủ chất
dinh dưỡng, đặc biệt chú ý cho ăn đủ vitamin và khoáng chất. Thiếu khoáng, xương
lợn con phát triển kém, lợn nái chửa có nguy cơ bại liệt. Thiếu vitamin, lợn con phát
triển chậm, sức sống kém. Không cho ăn quá nhiều tinh bột để chống béo, khó đẻ.
- Nhu cầu dinh dưỡng của lợn chửa: đạm thô 13%, NLTĐ 2900 kcal/kg thức ăn.
- Mức ăn cho lợn nái có chửa (kg thức ăn đã phối trộn/con/ngày).
Giai đoạn chửa kì I:
+ Với nái hậu bị: 1,6 - 1,8 kg/con/ngày cho ăn ngày 1 lần
+ Với nái dạ: 2 - 2,2 kg/con/ngày cho ăn ngày 1 lần
Giai đoạn chửa kì II:
+ Với nái hậu bị: 2,5 kg/con/ngày cho ăn ngày 2 lần
+ Với nái dạ: 3 kg/con/ngày cho ăn ngày 2 lần
- Mức ăn cho nái chửa còn tùy thuộc vào thể trạng của nái: nái quá gầy phải
cho ăn thêm thức ăn tinh, nái quá béo phải giảm thức ăn tinh.
- Vào mùa đông những ngày nhiệt độ dưới 15ºC, lợn nái cần cho ăn thêm 0,2
- 0,3 kg/con/ngày để bù phần năng lượng mất đi do chống rét.
- Không được cho lợn nái chửa ăn thức ăn ẩm mốc, khô dầu bông, lá đu đủ
do dễ gây sảy thai.
- Cho lợn uống nước tự do.
* Chăm sóc lợn nái chửa
+ Cho lợn yên tĩnh tuần đầu tiên sau khi phối giống.
+ Kiểm tra theo dõi lợn có chửa vào ngày thứ 21 và ngày thứ 42 sau khi phối
xem có động dục trở lại không.
15
Theo Trần Văn Phùng và cs,(2004) [22] việc chăm sóc lợn nái mẹ có vai trò
quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất và sức khỏe của cả lợn mẹ và lợn con.
Cần phải theo dõi thường xuyên sức khỏe lợn mẹ, quan sát bầu vú, thân nhiệt lợn mẹ
liên tục trong 3 ngày đầu sau khi đẻ để phát hiện các trường hợp bất thường để có biện
pháp xử lý kịp thời. Trước khi lợn đẻ 10 -15 ngày cần chuẩn bị đầy đủ chuồng đẻ. Tẩy
rửa vệ sinh, khử trùng toàn bộ ô chuồng, nền chuồng, sàn chuồng dùng cho lợn con và
lợn mẹ. Yêu cầu chuồng phải khô ráo, ấm áp, sạch sẽ, có đầy đủ ánh sáng. Sau khi vệ
sinh tiêu độc nên để trống chuồng từ 3 -5 ngày trước khi lợn nái vào đẻ. Trước khi đẻ 1
tuần, cần vệ sinh lợn nái sạch sẽ, lợn nái đượclau rửa sạch sẽđất hoặc phân bám dính
trên người, dùng khăn thấm nước xà phòng lau sạch bầu vú và âm hộ. Làm như vậy
tránh được nguy cơ lợn con mới sinh bị nhiễm khuẩn do tiếp xúc trực tiếp với lợn mẹ
có vi khuẩn gây bệnh. Sau khi vệ sinh sạch sẽ cho lợn nái,chúng ta chuyển nhẹ nhàng
từ chuồng chửa sang chuồng đẻ để lợn quen dần với chuồng mới.
Trong quá trình chăm sóc lợn nái đẻ, công việc cần thiết và rất quan trọng đó
là việc chuẩn bị ô úm lợn cho lợn con.Ô úm rất quan trọng đối với lợn con, nó có
tác dụng phòng ngừa lợn mẹ đè chết lợn con, đặc biệt những ngày đầu mới sinh lợn
con còn yếu ớt, mà lợn mẹ mới đẻ xong sức khỏe còn rất yếu chưa hồi phục. Ô úm
tạo điều kiện để khống chế nhiệt độ thích hợp cho lợn con, đặc biệt là lợn con đẻ
vào những tháng mùa đông. Ngoài ra, ô úm tạo điều kiện thuận lợi cho việc tập ăn
sớm cho lợn con (để máng ăn vào ô úm cho lợn con lúc 7 -10 ngày tuổi) mà không
bị lợn mẹ húc đẩy và ăn thức ăn của lợn con. Vào ngày dựkiến đẻ của lợn nái, cần
chuẩn bị xong ô úm cho lợn con. Kích thước ô úm: 1,2m x 1,5m. Ô úm được cọ rửa
sạch, phun khử trùng và để trống từ 3 - 5 ngày trước khi đón lợn con sơ sinh.
16
Bảng 2.2.Những biểu hiện khi lợn sắp đẻ
Âm hộ tiết ra dịch nhờn màu hồng có lẫn phân su
15 giây - 5 phút
Nái nằm nghiêng 1 bên, hơi thở đứt quãng, ép bụng, ép
đùi, quẩy đuôi rặn đẻ
Theo Hoàng Thị Phi Phượng và cs (2013) [23]: lợn con sau khi đẻ nên sử
dụng bột mistral để làm khô cơ thể giúp lợn con không bị lạnh, làm sạch và nhanh
khô cuống rốn đề phòng nhiễm trùng rốn. Lợn con nhanh cứng cáp sau khi sinh, dễ
dàng tiếp xúc với vú mẹ và sớm được bú sữa đầu. Đó chính là nguồn năng lượng
cũng như tăng khả năng miễn dịch từ mẹ truyền cho con. Sử dụng bột mistral ngăn
chặn vi khuẩn xâm nhập vào cơ thể ngay từ khi mới sinh ra, giảm tỷ lệ mắc bệnh
tiêu chảy và viêm da, tỷ lệ hao hụt của lợn con thấp.
Theo Nguyễn Văn Trí (2008) [28]: nếu lợn nái đẻ bọc thì phải xé bọc ngay,
lấy nhanh hết dịch ở miệng và mũi, dùng vải mềm lau sạch mũi miệng cho lợn con.
Nếu lợn con đẻ ra mà bị ngạt thì hà hơi vào mồm lợn con, nâng 2 chân trước lên
xuống trong 5 phút lợn con sẽ sống và khỏe dần.
2.2.4. Một số bệnh hay gặp ở lợn nái sinh sản
2.2.4.1 Hội chứng viêm vú, viêm tử cung, mất sữa (MMA)
Theo trung tâm Chẩn đoán và cố vấn thú y (2010) [30] hội chứng viêm tử cung viêm vú - mất sữa (MMA - Mastitis - Metritis - Agalactia) là một hội chứng phức hợp các
căn nguyên bệnh trên lợn nái, bệnh thường xảy ra trong giai đoạn lợn nái trước và sau khi
đẻ. Giống tên gọi của nó, hội chứng bao gồm hiện tượng viêm vú trên lợn nái (trong giai
17
đoạn trước khi đẻ), bệnh viêm tử cung ở lợn nái (trong giai đoạn sau đẻ khoảng 1 tuần),
hiện tượng mất sữa ở lợn nái (trong giai đoạn lợn nái nuôi con). Hội chứng này nằm trong
nhóm bệnh do quản lý, bởi vậy, ta hoàn toàn có thể khống chế được.
Theo Nguyễn Thị Hồng Minh và cs (2013) [19], triệu chứng lâm sàng và điển hình