Ðờn ca tài tử – một tài sản quý báu của âm nhạc dân tộc - Pdf 50

Trong lịch sử hình thành và phát triển âm nhạc dân tộc cổ truyền Việt Nam, Ðờn ca tài tử
được xem như là thể loại sinh ra muộn hơn cả. Cuối thế kỷ 19, trên các miền quê sông
nước Nam Bộ, đâu đâu cũng hình thành những nhóm nhạc dân gian tổ chức đàn ca giải trí,
gọi là phong trào “đàn cây”.
Sang đầu thế kỷ 20, trong đời sống thường nhật, các ban nhạc đàn ca đã “chính danh” hoạt
động khắp nơi, được gọi là ban nhạc tài tử.
Phương thức âm nhạc và bài bản chịu ảnh hưởng từ ba dòng nhạc lớn là nhạc lễ Nam Bộ,
tuồng và nhạc thính phòng – cung đình Huế. Nổi tiếng có ban Kinh Lịch Quờn ở Vĩnh
Long, ban Ba Chột ở Bạc Liêu, ban Ái Nghĩa ở Cần Thơ, ban Bảy Ðồng ở Sa Ðéc, ban Tư
Triều và ban Bảy Triều ở Mỹ Tho. Trên cơ sở các cung điệu truyền thống, những nhạc sĩ
dân gian đã nhanh chóng sáng tác, bồi đắp những hệ thống bài bản mới, hình thành một
biểu mục kinh điển còn lưu truyền đến ngày nay – gọi là 20 bản tổ, bao gồm: Ba bản Nam
(Nam xuân, Nam ai, Nam đảo); sáu bản Bắc (Lưu thủy, Phú lục, Bình bán, Cổ bản, Xuân
tình, Tây thi); bảy bản Nhạc (còn gọi là Bắc lớn: Ngũ đối thượng, Ngũ đối hạ, Long đăng,
Long ngâm, Vạn giá, Tiểu khúc, Xàng xê); bốn bản Oán (Phụng cầu, Phụng hoàng, Giang
nam, Tứ đại oán).
Bên cạnh 20 bản tổ, còn có thêm hệ thống các bài bản khác. Ðáng kể nhất là hệ thống tám
bản Ngự, gồm: Ðường Thái Tôn, Vọng phu, Chiêu quân, Ái tử kê, Bát man tấn cống,
Trường tương tư, Duyên kỳ ngộ, Quả phụ hàm oan của ông Ba Ðợi (có người cho rằng ông
cũng chính là tác giả của bốn bản Oán trong 20 bản tổ). Kế đến là Ngự giá đăng lâu, Ái tử
kê của ông Hai Khị, Văn Thiên Tường của ông Trần Quang Quờn và ông Mười Hơn, Bình
sa lạc nhạn của ông Trần Quang Quờn…
Từ sinh hoạt đờn ca tài tử thuần túy, nghệ sĩ dân gian dần tìm đến những nội dung dài hơi
có tích truyện. Bắt đầu nảy sinh cách diễn xướng mang tính trò diễn sơ khai gọi là hình
thức ca ra bộ – có nghĩa vừa ca vừa làm những điệu bộ thể hiện tính cách nhân vật theo cốt
truyện. Và, chỉ trong một vài thập niên đầu thế kỷ 20, từ hình thức ca ra bộ, sân khấu cải
lương đã hình thành và nhanh chóng khẳng định vị trí như một kịch chủng mới của dân
tộc.
So với chèo và tuồng, nghệ thuật cải lương sử dụng kho tàng nhạc đờn ca tài tử làm nền
tảng âm nhạc sân khấu trên cơ sở áp dụng lối diễn tả thực của kịch nói tây phương. Nội
dung chủ đề cũng được mở rộng tối đa, khiến cải lương nhanh chóng chiếm lĩnh được vị

cấu trúc được dùng cho tới ngày nay. Những thập niên cuối thế kỷ 20, một số tay đàn lão
luyện như Văn Giỏi, Thanh Hải còn tiếp tục thử nghiệm những bản độc tấu, hòa tấu Vọng
cổ với cấu trúc nhịp 64. Vọng cổ là một bài bản có vị trí đặc biệt trong nền ca nhạc đờn ca
tài tử. Trên thế giới, có lẽ không một nơi nào mà người nghệ sĩ lại được tôn vinh ở việc hát
chỉ… duy nhất một bài bản cụ thể!? Ở Nam Bộ, có một thời hình thành danh hiệu Ðệ nhất
danh ca vọng cổ của nghệ sĩ Út Trà Ôn. Ðiều đó chứng tỏ sức hấp dẫn đặc biệt của vọng
cổ với những khoảng tự do ứng tác lớn nhất so với mọi bài bản khác.
Trong nền âm nhạc cổ truyền Việt Nam, trên cách nhìn toàn bộ, đờn ca tài tử hầu như triệt
tiêu vai trò các nhạc khí tiết tấu như trống, phách… Người chơi nhạc chỉ dùng một loại mõ
nhỏ đặc chủng có cần kích âm gắn liền dậm chân gọi là song loan với chức năng báo câu,
không nhằm giữ nhịp. Ðổi lại, vai trò các nhạc cụ họ dây lại được đề cao hơn bao giờ. So
với các thể loại đàn anh, có thể nói nghệ thuật đàn dây của đờn ca tài tử phát triển tới đỉnh
cao vượt bậc với đậm độ phức hợp nhất. Ðiều này lý giải tại sao ở từng thời kỳ khác nhau,
bao giờ cũng nổi lên những danh cầm tài ba với những ngón đàn điêu luyện, xuất thần.
Chính họ là những người tạo nên những phong cách đàn khác nhau gây ảnh hưởng sâu
rộng tới giới nghề. Ở thập kỷ 60 – 70 của thế kỷ 20, không ai không biết ba danh cầm được
coi như tam hùng huyền thoại của tài tử – cải lương là Năm Cơ, Văn Vĩ và Bảy Bá. Các
thập niên gần đây là thời kỳ của các danh cầm như Ba Tu, Văn Giỏi và Thanh Hải… Có lẽ
vì thế mà nghệ nhân lão thành đất Bắc – danh cầm Kim Sinh, đã nhận định: Bao giờ Nam
Bộ hết… cỏ thì mới hết người đàn hay!.
Có một điều lý thú là, trong khi hệ thống nhạc viện ở miền bắc, một số người thi nhau cải
tiến các nhạc cụ dân tộc hướng theo nguyên tắc nhạc phương Tây thì ở Nam Bộ, các nhạc
sĩ đờn ca tài tử lại làm theo hướng ngược lại. Cụ thể là, họ đã thành công trong việc Việt
Nam hóa ba nhạc cụ Tây phương là ghi-ta, vi-ô-lông và ghi-ta ha-oai. Trong đó, đáng chú
ý nhất là cây ghi-ta đã được khoét lõm phím để có thể nhấn nhá ra những chữ nhạc cổ
truyền dân tộc, trở thành cây đàn chủ lực trong dàn nhạc. Ðó quả thực là những thành tựu
đáng tự hào! Và từ đó có thể nói, qua một thế kỷ hình thành và phát triển, đờn ca tài tử đã
tạo cho mình chỗ đứng bề thế uy nghi như một tòa lâu đài tráng lệ, góp thêm sức nặng
khẳng định vẻ đẹp huyền diệu của âm nhạc dân tộc Việt Nam.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status