ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Gia đình là một nhóm xã hội nhỏ đặc thù, là tế bào cấu thành xã hội.
Gia đình có bền vững thì xã hội mới bền vững. Không những thế, gia đình
chính là nơi giữ gìn gia phong, giá trị văn hóa, phong tục tập quán của người
dân Việt Nam. Trong lịch sử phát triển của mình, gia đình vừa là một đơn vị
kinh tế, vừa là cái nôi đầu tiên và suốt đời nuôi dưỡng, giáo dục con người,
duy trì và phát triển những quan hệ tình cảm đặc biệt từ thế hệ này sang thế
hệ khác. Cùng với thiết chế giáo dục, gia đình có vai trò vô cùng quan trọng
trong việc xã hội hoá con người, đưa con người từ con người sinh vật sang
con người xã hội. Qúa trình xã hội hoá trong gia đình được thực hiện chủ
yếu thông qua sự tương tác giữa vai trò người cha, người mẹ và các con
trong gia đình. Do những chức năng xã hội đặc thù của mình, gia đình đã
góp phần quan trọng trong việc duy trì sự tồn tại của đời sống xã hội, phát
triển kinh tế, ổn định xã hội, xây dựng các chuẩn mực và các giá trị đạo đức,
phong tục tập quán, lối sống văn hoá.
Gia đình là một trong những thiết chế xã hội cơ bản nhất, có ý nghĩa
thật to lớn đối với cuộc sống của mỗi cá nhân cũng như sự tồn tại và phát
triển của xã hội. Gia đình thực hiện các chức năng của mình thông qua việc
thực hiện vai trò của các thành viên, mà trong đó vai trò của người vợ và
người chồng là trung tâm. Trong điều kiện nền kinh tế thị trường như hiện
nay, gia đình Việt Nam nói chung và trong các dân tộc ít người vùng núi
Tây Bắc nói riêng đang trải qua những biến đổi để thích ứng với điều kiện
mới. Nền kinh tế thị trường đã tạo điều kiện để gia đình trở thành một đơn vị
kinh tế tự chủ đầy tính năng động, tạo cơ hội cho phụ nữ tham gia vào các
hoạt động và có khả năng cải thiện vị thế xã hội của mình.Tuy nhiên trong
1
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
gia đình hiện nay cũng chứa đựng không ít những hiện tượng đáng lo ngại
như: con cái hư hỏng, phụ nữ làm việc quá sức, bất bình đẳng nam, nữ.
Nói tới gia đình là nói tới môi trường xã hội hoá đầu tiên của mỗi đứa
trẻ, là nguồn gốc, là cội nguồn của mỗi con người. Gia đình chính là nơi
định hướng giá trị tốt đẹp nhất cho mỗi cá nhân. Là nơi nuôi dưỡng những
phẩm chất, những đức tính tốt của con người.
Dưới tác động của nền kinh tế thị trường đã làm cho các chức năng, vị
thế, vai trò của các thành viên trong gia đìnhcó sự thay đổi. Sự thay đổi này
trong gia đình đã tác động rất lớn đến phong tục, tập quán, thói quen ứng xử
trong gia đình Việt Nam truyền thống, các giá trị mới xuất hiện đã phá vỡ
các giá trị truyền thống. Chính vì thế mà gia đình đã trở thành vấn đề quan
tâm của toàn xã hội.
Trước sự biến đổi về vị trí, vai trò của các thành viên trong gia đình
hiện nay, có rất nhiều các đề tài nghiên cứu của một số tác giả liên quan đến
vấn đề gia đình như:
- Vài nhận xét về vai trò chăm sóc và dạy dỗ của người cha (Mai
Huy Bích- Viện Xã hội học- 2003). Trong bài viết của mình, tác giả đã đề
cập đến vai trò của người cha trong gia đình. Sự có mặt hay vắng mặt của
người cha có ảnh hưởng như thế nào đến sự hình thành tính cách, nhân cách
của con cái.
- Nghiên cứu đặc thù của gia đình Việt Nam truyền thống để xây
dựng gia đình Việt Nam trong giai đoạn CNH, HĐH (TS. Ngô Thị Ngọc
3
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Anh – Vụ Gia đình). Trong đó đề tài nghiên cứu về việc Xác định những đặc
thù của gia đình Việt Nam truyền thống. Khẳng định những truyền thống tốt
đẹp, tích cực cần được kế thừa, phát huy; đồng thời, nêu rõ những yếu tố lạc
hậu, bảo thủ cần loại bỏ để tiến tới xây dựng gia đình Việt Nam trong giai
đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá và xu thế toàn cầu hoá.
- Gia đình hiện đại: Phân chia vai trò và vấn đề thủ lĩnh (TS
Nguyễn Thị Thu Hà- Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn- Đại
học Quốc gia Hà nội) trong đó đề tài nghiên cứu vai trò của mọi thành viên
rất lớn trong việc phát huy vai trò, khả năng ảnh hưởng của giới đối với việc
sản xuất và tái sản xuất trong nền kinh tế thị trường đã và đang tác động
mạnh mẽ tới mọi mặt của đời sống của gia đình và xã hội.
3. Ý nghĩa khoa học và nghĩa thực tiễn.
3.1. Ý nghĩa khoa học:
Đề tài nghiên cứu là một quá trình vận dụng một số tri thức, một số
phương pháp nghiên cứu, hệ thống các lý thuyết, một số khái niệm xã hội
học nhằm tìm hiểu về vai trò giới trong sản xuất và tái sản xuất tại các gia
đình dân tộc H’mông. Kết quả nghiên cứu sẽ làm rõ hơn một số vấn đề lý
luận với thực tiễn, là cơ sở thực nghiệm, kiểm chứng các lý thuyết xã hội
học và vận dụng chúng vào việc nghiên cứu các vấn đề xã hội, đồng thời
thông qua đó nhằm góp phần phát triển lý thuyết xã hội học mà cụ thể trong
đề tài này là lý thuyết vai trò, lý thuyết cấu trúc- chức năng. Từ đó nêu ra
những cơ sở khoa học về việc thay đổi vai trò giới trong sản xuất và tái sản
xuất của các dân tộc nói chung, gia đình dân tộc H’mông nói riêng.
5
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
3.2. Ý nghĩa thực tiễn:
Trên cơ sở phân tích, tìm hiểu vai trò giới trong sản xuất và tái sản
xuất trong các gia đình dân tộc H’mông, đề tài chỉ ra một số khía cạnh vai
trò, chức năng, mối quan hệ giữa các giới trong sản xuất và tái sản xuất.
4. Mục tiêu nghiên cứu:
- Sử dụng các phương pháp nghiên cứu để tìm thấy sự khác nhau giữa
vai trò của người vợ và người chồng ở xã Lao Chải- huyện Sapa.
- Phân tích thực trạng vai trò giới trong sản xuất và tái sản xuất của
các gia đình dân tộc.
- Phân tích sự biến đổi trong vai trò giới.
- Chỉ ra các nhân tố tác động tới vai trò giới.
- Tìm hiểu nghiên cứu, đánh giá về vai trò của người vợ và người
chồng
vụ cho đề tài nghiên cứu, nhóm sinh viên sử dụng một số phương pháp xã
hội học cụ thể như sau:
6.2.1. Phương pháp phân tích tài liệu:
Trên cơ sở những thông tin thu được trong cuộc điều tra thực tế, đề tài
còn tham khảo một số tài liệu như báo cáo, giáo trình chuyên nghành, công
7
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
trình nghiên cứu của một số tác giả. Thông tin thu thập được tiến hành phân
tích trên cơ sở kế thừa và sử dụng có chọn lọc nghiêm túc, khoa học.
6.2.2. Phương pháp phỏng vấn sâu:
Phỏng vấn sâu 3 nam giới.
Phỏng vấn sâu 3 phụ nữ.
Phỏng vấn sâu 2 thanh niên (chưa có gia đình).
6.2.3. Phương pháp quan sát:
Phương pháp trực quan giúp quan sát trực tiếp thái độ của người được
phỏng vấn để đánh giá độ tin cậy, cũng như thái độ thực tế của họ trong sự
phân công lao động của gia đình.
7. Gỉa thuyết nghiên cứu:
Thực hiện đề tài này chúng tôi nêu ra một số giả thuyết:
Trong gia đình dân tộc H’mông ở xã Lao Chải- Sapa hiện nay, sự
phân công vai trò giới vẫn theo kiểu truyền thống chiếm ưu thế; một bộ
phận khá lớn người vợ đóng vai trò quan trọng trong lao động sản xuất và
nội trợ của gia đình, song vị thế của họ rất thấp; quyền lực trong gia đình
phần lớn vẫn thuộc về người chồng.
Điều kiện kinh tế - xã hội là nhân tố khách quan có tác động mạnh
mẽ tới việc đảm nhận vai trò của giới trong gia đình. Việc đảm nhận vai trò
của họ dựa trên những điều kiện kinh tế - xã hội nhất định và chịu sự chi
phối của nó. Trên cơ sở chức năng của gia đình, vai trò của giới được thể
hiện trong các lĩnh vực hoạt động cơ bản của đời sống gia đình như: Hoạt
động sản xuất, nội trợ và giáo dục con cái. Ngược lại các lĩnh vực hoạt động
H’mông được xác định rộng và nó thay đổi theo từng điều kiện xã hội khác
nhau. Trong xã hội phong kiến thì vai trò giới luôn dược đề cao đặc biệt là
người cha, người chồng là trụ cột chính trong gia đình, và trong xã hội hiện
đại thì vai trò của người cha được nhắc đến cùng với vai trò của người mẹ.
10
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
1.1.2. Lý thuyết chức năng :
E.Durkhiem cho rằng xã hội muốn tồn tại và phát triển thì phải dựa
trên những cở sở giá trị chung.Theo ông có hai loại giá trị cơ bản: xã hội
phải được kiểm soát để xã hội có trật tự mới tồn tại, phát triển được và xã
hội phải đoàn kết.
Quan điểm về đoàn kết và kiểm soát xã hội được xây dựng trên sự
đồng thuận và sự hài hoà. Cơ sở của trật tự xã hội này nằm trong mạng lưới
của hệ thống giá trị. Sự đồng thuận về hệ thống giá trị có ý nghĩa là mọi
người trong xã hội nhất định đều nhất trí với nhau về một cái gì đó là tốt, là
quá trình mong ước…khi đó, các thành viên trong xã hội hợp tác với nhau
để hành động, những hành động này tồn tại trong tất cả các thiết chế xã hội,
trong đó có thiết chế gia đình.
Lý thuyết chức năng coi xã hội là một hệ thống và trong xã hội lại có
những tiểu hệ thống và gia đình chính là một trong những tiểu hệ thống đó.
Mỗi tiểu hệ thống đều phải nhận thức và thực hiện những chức năng của
mình thì xã hội mới tồn tại, phát triển.
1.2. Các khái niệm công cụ:
1.2.1. Khái niệm gia đình:
Gia đình với tính chất là tế bào của xã hội đã tồn tại từ lâu trong sự
phát triển của lịch sử. Cơ sở của nó là mối quan hệ hôn nhân huyết thống và
thân tộc.
11
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Theo quan niệm chung nhất, gia đình là một nhóm đặc thù, có đặc
số lượng, thành phần và mối quan hệ giữa các thành viên và các thế hệ trong
gia đình. Từ đây, ta có thể thấy gia đình được cấu trúc theo chiều dọc và
chiều ngang: Chiều ngang là quan hệ hôn nhân và chiều dọc là quan hệ
huyết thống.
1.2.2. Khái niệm vai trò:
Vai trò là mô hình hành vi xã hội được xác lập một cách khách quan
căn cứ vào đòi hỏi của xã hội đối với từng vị trí, vị thế nhất định để thực
hiện quyền hạn và trách nhiệm tương ứng với các vị trí, vị thế đó. Như vậy,
vai trò thể hiện những đòi hỏi của xã hội với các vị thế xã hội. Những đòi
hỏi này được xác định căn cứ vào các chuẩn mực, giá trị xã hội. Trong các
xã hội khác nhau các chuẩn mực và giá trị xã hội là không đồng nhất, vì vậy
vai trò xã hội cũng không đồng nhất. Ngay trong một xã hội, những quyền
hạn và trách nhiệm của các vị thế xã hội, những mô hình hành vi được mong
đợi trong các nhóm xã hội cũng khác nhau. Mỗi nhóm cũng có thể đặt ra
những đòi hỏi về hành vi khác nhau từ một vị thế xã hội.
Vai trò xã hội có hai loại mà chúng ta cần phải phân biệt một cách rõ
ràng là vai trò hình thức và vai trò cá nhân.
Vai trò hình thức là vai trò xã hội do quyền lực của vị thế xã hội tạo
ra. Mô hình hành vi của vị thế chỉ giới hạn ở phạm vi quyền lực của vị thế
đó.
Vai trò cá nhân là vai trò xã hội do uy tín cá nhân tạo ra. Uy tín cá
nhân phụ thuộc vào năng lực hành vi xã hội của mình, nó chứa đựng những
13
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
tri thức, kỹ năng lao động, đạo đức, tình cảm, sự đoàn kết thương yêu lẫn
nhau.
Hiện nay, trong điều kiện kinh tế thị trường, vai trò của giới có nhiều
thay đổi. Nếu như, trước kia người mẹ (người vợ) có vai trò là người trông
nom nhà cửa, nuôi dậy và chăm sóc con cái, thì ngày nay người vợ tham gia
sâu hơn vào công việc xã hội, công việc làm kinh tế và đã có nhiều phụ nữ
lao động (không chỉ bao gồm tái sản xuất sinh học, mà còn có cả chăm lo,
duy trì lực lượn lao động hiện tại và lực lượng lao động trong tương lai.
1.2.6. Khái niệm xã hội hoá:
Có nhiều quan điểm khác nhau về xã hội hoá như sau:
Xã hội hoá là quá trình các cá thể tiếp thu, học tập nền văn hoá của xã
hội mà anh ta sinh ra, tức là học các kinh nghiệm xã hội, học hỏi những gì
cần phải làm, những gì không được làm, học ngôn ngữ, học các chuẩn mực
giá trị của xã hội để thích ứng được với xã hội.
Xã hội hoá bao gồm tất cả các quá trình tiếp diễn văn hoá giao tiếp,
qua đó cá nhân phát triển bản chất xã hội và có khả năng tham gia vào đời
sống xã hội.
15
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Xã hội hoá là quá trình tương tác giữa cá nhân và xã hội, trong đó cá
nhân học hỏi và thực hành những tri thức, kỹ năng và phương pháp hành
động để hội nhập với xã hội.
Xã hội hoá là một diễn tiến ảnh hưởng tương hỗ giữa người này với
người khác, kết quả là sự chấp nhận những khuân mẫu, tác phong xã hội và
thích nghi với các khuôn mẫu đó.
Xã hội hoá là quá trình tiếp thu và nắm vững các khuân mẫu, hành vi,
những chuẩn mực và giá trị cần thiết để hoạt động có hiệu quả trong một xã
hội nhất định.
Tóm lại, xã hội hoá là quá trình tương tác giữa con người với con
người, con người với xã hội, qua đó con người với tư cách là cá thể học hỏi,
lĩnh hội, tiếp nhận những quy tắc văn hoá của xã hội; những kiến thức,
chuẩn mực và giá trị, những kỹ năng và phương pháp hành động để thực
hiện vai trò trên vị thế xã hội nhất định của mình. Trên cơ sở đó, cá thể biến
thành cá nhân, trở thành chủ thể xã hội.
16
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
từ 1.200 m đến 1.800 m, địa hình nghiêng và thoải dần theo hướng Tây -
Tây Nam đến Đông Bắc. Điểm cao nhất là đỉnh Phan Xi Păng cao 3.143 m
và thấp nhất là suối Bo cao 400 m so với mặt biển.
Địa hình của Sa Pa chia thành ba dạng đặc trưng sau:
17
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
- Tiểu vùng núi cao trên đỉnh: Gồm các xã Tả Giàng Phình, Bản
Khoang, Tả Phìn, San Sả Hồ. Diện tích của vùng 16.574 ha, chiếm 24,42 %
diện tích tự nhiên của huyện. Độ cao trung bình của khu vực từ 1.400 -
1.700 m, địa hình phân cắt, độ dốc lớn và thung lũng hẹp tạo thành một vùng
hiểm trở.
- Tiểu vùng Sa Pa - Sa Pả: Gồm các xã Sa Pả, Trung Chải, Lao Chải,
Hầu Thào, Tả Van, Sử Pán và Thị trấn Sa Pa có diện tích 20.170 ha, chiếm
29,72 % diện tích của huyện. Đây là tiểu vùng nằm trên bậc thềm thứ hai
của đỉnh Phan Xi Păng, độ cao trung bình là 1.500 m, địa hình ít bị phân cắt,
phần lớn có kiểu đồi bát úp.
- Tiểu vùng núi phân cắt mạnh: Gồm 7 xã phía Nam của huyện là Bản
Phùng, Nậm Sài, Thanh Kim, Suối Thầu, Thanh Phú, Nậm Cang và Bản Hồ
có diện tích 31.120 ha, chiếm 45,86 % diện tích của huyện. Đặc trưng của
vùng là kiểu địa hình phún xuất núi cao, đỉnh nhọn, sườn dốc, thung lũng
hẹp sâu.
Lao Chải là một xã thuộc huyện Sapa, tỉnh Lào Cai với tổng diện tích
tự nhiên là 3.623 ha được chia làm 5 thôn với 90 hộ. Số nhân khẩu toàn xã là
820 khẩu. Về nghề nghiệp chủ yếu của người dân là làm nương, bán đồ Tây,
xe ôm,…
Lao Chải có 07 trường bao gồm 01 trường mầm non, 05 trường tiểu
học, 01 trường trung học cơ sở và 01 tram y tế. Hiện nay, cả 7 trường và
trạm y tế trong xã đã thực hiện khá tốt công tác giáo dục, chăm sóc sức khoẻ
cho người dân tộc.
18
ngoài quốc doanh, nhưng vẫn giữ ở mức 38% , giữ mức chủ đạo.
Công tác xóa đói giảm nghèo cũng đạt được kết quả khả quan. Tỷ lệ
hộ đói nghèo từ 14% năm 2002 xuống đưới 12,5% năm 2003 và xuống dưới
10% năm 2006; giảm tỷ lệ trẻ em suy dinh đưỡng xuống 28% và giảm tỷ
suất sinh xuống còn 0,04%. Hệ số chênh lệch về thu nhập giữa các bộ phận
dân cư có hướng thu hẹp, công bằng xã hội được chú trọng hơn.Các hoạt
động văn hóa, giáo dục thể thao tiếp tục phát triển về chiều rộng và chiều
sâu.Hệ thống đường giao thông được nâng cấp, nhiều trường học, trạm y tế,
nhà văn hóa được xây dựng.
Cùng với sự chuyển dịch của đất nước khu vực miền núi có nhiều sự
thay đổi. Trước thời kì đổi mới khu vực miền núi chủ yếu làm nghề nông thô
sơ, tự cung tự cấp như săn bắt, hái lượm, phát nương rẫy…Các mối quan hệ
của người dân miền núi không ra khỏi khu vực mình sinh sống, hoặc nếu có
rất ít. Chính điều này đã làm cho tính cố kết cộng đồng được nâng cao, song
bên cạnh đó làm hạn chế cho sự phát triển của các cá nhân và sự phát triển
kinh tế của khu vực kinh tế miền núi.
Ngày nay khi mà nền kinh tế đang trong thời kì mở cửa, khu vực
miền núi cũng nhanh chóng hòa nhịp với sự thay đổi đó. Sự thu hút các khu
công nghiệp, khu chế suất hay các khu du lịch ngày càng gia tăng. Chính
điều này cũng phần nào tạo cho người dân có cơ hội tìm kiếm việc làm, tăng
thu nhập. Từ việc tăng thu nhập đời sống của người dân được nâng cao. Đó
cũng chính là động lực thúc đẩy kinh tế miền núi phát triển, đặc biệt là khu
vực giáp ranh với biên giới nước ngoài, các khu đô thị lớn.
20
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Nhưng cùng với sự biến đổi về kinh tế xã hội tác động mạnh mẽ đến
biến đổi về gia đình. Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của các yếu tố chính
trị, kinh tế, văn hóa, khoa học công nghệ, dân số, môi trường, thiết chế gia
đình cũng đang biến đổi thích nghi với nững điều kiện mới. Những biến đổi
này diễn ra mạnh mẽ cả về quy mô và hình thức của gia đình và cơ cấu chức
anh, tâm lí ổn định. Là người kiếm sống chính và duy trì cuộc sống một cách
đầy đủ. Họ có thu nhập vững chắc ổn định và đóng góp vào nguồn thu nhập
của gia đình là chính nên vị trí và vai trò của họ trong gia đình chiếm ưu thế.
Họ có quyền tham gia hoặc không tham gia các việc trong gia đình và có
quyền quyết định các vấn đề quan trọng (trích biên bản phỏng vấn sâu 2).
Mặc dù họ rất bận rộn trong công việc nhưng họ có quyết định cho
việc sản xuất cái gì và sản xuất ra sao. Người cha trong các gia đình dân tộc
miền núi vẫn còn quyết định các công việc nhà do họ rất gia trưởng. Họ có
quyền định đoạt cho người vợ và con phải làm gì và định hướng việc làm
buộc mọi người phải tuân theo (trích biên bản phỏng vấn sâu). Người đàn
ông miền núi thường làm các công việc nặng như phát nương rẫy, đốn củi,
vào rừng săn bắt hay đi đẽo đá…
Ta thấy rằng, trước những bận rộn của công việc cũng như việc phải
đảm bảo cho cuộc sống gia đình, nhưng trong đó người cha vẫn không quên
22
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
trách nhiệm của mình đối với kinh tế gia đình. Họ luôn quan tâm đến cuộc
sống của con cái, tăng gia sản xuất để giúp gia đình phát triển hơn.
Việc quyết định sinh con hay tái sản xuất ra sức lao động do người
cha tham gia 1 khía cạnh nhất định. Đối với việc quyết định sinh con thì
quyền quyết định là ở người cha. Họ có trách nhiệm trước họ hàng thân tộc
làm sao để duy trì dòng tộc để không phải xấu hổ với tổ tiên. Làm sao để
sinh thật nhiều con để có phúc sau này. Chính vì vậy họ quyết định mạnh mẽ
với việc sinh con kể cả khi người vợ không chấp nhận ( trích biên bản phỏng
vấn sâu số 4)
Việc tái sản xuất ra sức lao động thì hầu như người cha lại không
tham gia.Tái sản xuất ra sức lao động bao gồm các công việc nội trợ, chăm
sóc gia đình, cơm nước. Người đàn ông cùng xã hội cho rằng những công
việc trên thuộc thiên chức của người phụ nữ. Nên họ không tham gia gì cả,
và những công việc trên ấn định người phụ nữ phải làm.
Giữa cha mẹ cũng như con cái, cần có sự ý hợp tâm đầu, liên kết chặt chẽ và
sâu xa, để hướng sự phát triển của con cái trên nền tảng vững chắc. Người
cha không chỉ biết đến công việc làm ăn, lo kiếm tiền và cung cấp nhu cầu
vật chất cho gia đình, trong khi lại phủi tay để cho người mẹ phải gánh vác
hết mọi công việc trong cũng như ngoài nhà và dạy dỗ con cái. Cha mẹ cần
biết thay phiên nhau để mỗi người có sự tiếp xúc gần gũi với con cái.
Như ta đã biết rằng tình yêu thương của cả gia đình chính là chỗ dựa
vững chắc nhất cho các thành viên trong gia đình. Nếu trong một gia đình có
đầy đủ cả cha lẫn mẹ thì con cái sống trong gia đình đó được quan tâm,
24
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
chăm sóc nhiều hơn, chúng có điều kiện học hành, vui chơi, đặc biệt là
chúng rất tự tin khi ra ngoài xã hội. Còn đối với những đứa trẻ sống trong
gia đình không có cha hoặc không có mẹ thì chúng rất tự ti khi ra ngoài xã
hội. Sự hiện diện đầy đủ của cả cha lẫn mẹ trong gia đình là yếu tố rất quan
trọng đối với việc hình thành nhân cách, đạo đức cho trẻ. Sự bù đắp tình cảm
cho trẻ là rất quan trọng.
Với chức năng mang bầu nên người phụ nữ hoàn toàn nghe theo
những quyết định của người chồng vầ số lần sinh đẻ, khoảng cách sinh đẻ và
sinh cho nhiều con để có nhiều con trai (trích biên bản phỏng vấn sâu số
4).Các biện pháp phòng tránh thai cũng do người vợ đi nghe giảng và thực
hiện. Tuy nhiên có những lúc người đàn ông miền núi không cho phép dùng
các biện pháp phòng tránh thì người vợ cũng phải tuân theo.
Chăm sóc gia đình hay công việc nội trợ là thiên chức của người vợ.
Người vợ tham gia đầy đủ và đảm nhiệm hết vai trò này. Người đàn ông
miền núi không tham gia bất kì việc gì trong vai trò này. Họ cho rằng phụ
nữ mềm yếu, khéo léo và tận tâm nên phù hợp với công việc nhà và chăm
sóc con cái. Và vì vậy họ ấn định người phụ nữ làm việc đó.
2.4.Những nhân tố tác động đến sự biến đổi vai trò giới trong việc
sản xuất và tái sản xuất ở các gia đình miền núi hiện nay.