MỤC LỤC
1. Tính cấp thiết của đề tài……………………………………… …6
2. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài………….………… 9
2.1. Ý nghĩa khoa học……………………………….……………………9
2.2. Ý nghĩa thực tiễn……………………………………………………9
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu……………………… ……………9
3.1. Mục đích nghiên cứu………………………….…………………….9
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu………………………………………………10
4. Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu…………….……………10
5. Câu hỏi và Giả thuyết nghiên cứu……… ………………………11
5.1. Câu hỏi nghiên cứu……………….…………………………………11
5.2.Giả thuyết nghiên cứu………….…….………………………………11
6. Phương pháp nghiên cứu………………….…………………………12
7. Sơ đồ khung lý thuyết…………………………………………………14
8. Dự kiến cấu trúc luận văn……………….……………………………14
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN……… ……………15
1.1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu………………………………………15
1.2. Quan điểm của Đảng và Nhà nước về vai trò giới.……… ……… 20
1.3. Các lý thuyết áp dụng trong nghiên cứu…………… ………………25
1.3.1. Lý thuyết vai trò… …………………….……………… 25
1.3.2. Lý thuyết biến đổi xã hội………………………………………….27
1.4. Các khái niệm………………………….……………………………30
1.4.1. Khái niệm gia đình……… …………………………………… 30
1.4.2. Khái niệm giới và vai trò giới……………………………………32
1.4.3. Khái niệm biến đổi vai trò giới…….…………………………… 36
1.4.4. Đô thị hoá…… …… ……………………………………………37
1.4.5. Nông thôn…… ………………….……………………………….39
1.5. Đặc điểm địa bàn nghiên cứu………………………………………40
Chương 2: MỘT SỐ CHIỀU CẠNH BIẾN ĐỔI VAI TRÒ GIỚI
TRONG GIA ĐÌNH NÔNG THÔN Ở HÀ NỘI VÀ BẮC NINH
TRONG QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HOÁ HIỆN NAY … 47
Trung học Cơ sở.
Trung học chuyên nghiệp.
Đại học. Cao đẳng
Tiểu thủ công nghiệp.
Công nhân
Nông dân.
Công nhân viên chức.
Lao động tự do.
Không việc làm.
Công việc khác.
Thành phố Hồ Chí Minh.
TPHCM:
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Mối liên hệ giữa việc tham gia công việc sản xuất và theo
giới tính 48
Bảng 2.2:Mối liên hệ giữa việc tham gia vào công việc sản xuất của
phụ nữ và các ngành nghề 50
Bảng 2.3: Mối liên hệ việc tham gia vào công việc sản xuất của phụ nữ
và trình độ học vấn 53
Bảng 2.4: Mối liên hệ nhóm tuổivà việc tham gia công việc sản xuất
của phụ nữ 55
Bảng 2.5: Mối liên hệ giữa việc tham gia công việc nội trợ của người
phụ nữ theo giới tính 59
Bảng 2.6: Mối liên hệ tham gia của phụ nữ vào công việc nội trợ trong
các ngành nghề 62
Bảng 2.7: Mối liên hệ giữa việc chăm sóc con cái của người phụ nữ
theo giới tính 65
Bảng 2.8: Mối liên hệ giữa việc tham gia chăm sóc, nuôi dậy con cái
của phụ nữ trong các ngành nghề 67
Bảng 2.9: Mối liên hệ giữa việc chăm sóc, nuôi dậy con cái của phụ nữ
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Phụ nữ chiếm trên 50% dân số và hơn 48% lực lượng lao động xã hội,
có mặt trong mọi ngành nghề, trên mọi địa bàn. Với đức tính cần cù, sáng
tạo, chịu khó, họ đã và đang vượt qua mọi khó khăn, nỗ lực trong học tập, lao
động và công tác, tham gia tích cực vào quá trình hoạch định và thực hiện các
chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, đạt
nhiều thành tích xuất sắc trên các lĩnh vực của đời sống xã hội. Họ còn làm
tốt vai trò người vợ, người mẹ, người thầy đầu tiên, tổ chức, chăm lo cuộc
sống, góp phần rất quan trọng xây dựng tổ ấm gia đình. Những đóng góp bền
bỉ, thầm lặng của các thế hệ phụ nữ ngày càng tô thắm thêm truyền thống tốt
đẹp của phụ nữ Việt Nam anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang và tiếp
tục khẳng định lời dạy của Bác Hồ “Non sông gấm vóc Việt Nam, do phụ nữ
ta, trẻ cũng như già, ra sức dệt thêu mà thêm tốt đẹp, rực rỡ”.
Tuy nhiên, Việt Nam là quốc gia chịu ảnh hưởng và tác động nhiều bởi
tư tưởng Nho giáo, ý thức hệ phong kiến, tư tưởng “trọng nam, khinh nữ ” đã
để lại dấu ấn nặng nề và hậu quả đậm nét trong xã hội. Đây là một trong
những rào cản lớn trong tiến trình giải phóng phụ nữ. Bên cạnh đó, cũng còn
những hạn chế như việc thực hiện chính sách, pháp luật về bình đẳng giới,
tình trạng bạo lực gia đình ở Việt Nam khá phổ biến. Ở nhiều địa phương
cũng như một số ngành chưa tạo điều kiện để phụ nữ vươn lên đóng góp cho
sự phát triển. Trong gia đình truyền thống, người chồng là trụ cột của gia
đình, mọi quyền lực trong gia đình đều thuộc người đàn ông. Người chồng là
người chủ gia đình, người sở hữu tài sản của gia đình, người quyết định các
công việc quan trọng của gia đình, kể cả quyền dạy vợ, đánh con. Ly hôn là
điều hiếm khi xảy ra, nhưng nếu có thì đó là quyền của người chồng chứ
không phải người vợ. Ngoài thiên chức sinh đẻ, nuôi con, làm việc nhà, trong
quan hệ vợ chồng, người vợ còn được mong đợi là người biết nhẫn nhục, chịu
đựng…
Ngày nay, dưới tác động của quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa
đang diễn ra ngày một mãnh mẽ, vai trò giới đã có sự biến đổi rõ nét. Sự hình
triển thì quá trình đô thị hóa diễn ra với tốc độ ngày càng nhanh. Đô thị hóa
góp phần đẩy mạnh phát triển kinh tế – xã hội của khu vực, nâng cao đời sống
nhân dân. Quá trình này tác động làm biến đổi gia đình nông thôn, làm thay
đổi sự phân công lao động trong gia đình, vai trò của người chủ gia đình vì
thế cũng có những biến đổi. Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực, quá
trình đô thị hóa cũng phát sinh nhiều vấn đề cần giải quyết. Nếu không có một
chiến lược và giải pháp cụ thể, chung ta sẽ gặp nhiều vướng mắc và lúng túng
trong quá trình giải quyết, đôi khi làm nảy sinh những vấn đề ngày càng phức
tạp. Trong những năm qua, tốc độ đô thị hóa ở nước ta diễn ra khá nhanh. Vì
vậy, việc đánh giá những vấn đề phát sinh trong quá trình đô thị hóa, từ đó đề
xuất những giải pháp nhằm giải quyết vấn đề một cách cơ bản là việc làm cần
thiết. Đó là cơ sở quan trọng cho việc nghiên cứu hoạch định chính sách phát
triển kinh tế - xã hội trong quá trình đô thị hóa ở nước ta hiện nay.
Từ những phân tích trên, tác giả chọn đề tài: “ Đô thị hóa và biến đổi
vai trò giới trong gia đình nông thôn hiện nay”. Đề tài nhằm tìm câu trả lời
cho các câu hỏi là quá trình đô thị hóa đã tác động như thế nào đến sự biến
đổi vai trò giới trong gia đình nông thôn?; biến đổi vai trò giới trong gia đình
nông thôn đã và đang diễn ra như thế nào?. Đề tài được thực hiện trong bối
cảnh còn ít các tri thức về vai trò giới trong gia đình ở Việt Nam, các nghiên
cứu về chủ đề này còn thưa thớt.
2. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn.
2.1. Ý nghĩa khoa học.
Đề tài: “Đô thị hóa và biến đổi vai trò giới trong gia đình nông thôn
hiện nay” hướng đến làm rõ một số vấn đề lý luận về vai trò giới, biến đổi vai
trò giới trong quá trình đô thị hóa hiện nay. Trên cơ sở vận dụng quan điểm
xã hội học về giới, vai trò giới, qua đó làm sáng tỏ vấn đề lý thuyết xã hội học
trong đời sống xã hội hiện thực của xã hội Việt Nam đương đại. Bên cạnh đó
luận văn góp phần chỉ ra tính hợp lý của những lý thuyết vai trò và lý thuyết
biến đổi được áp dụng trong nghiên cứu đề tài. Luận văn cũng đóng góp một
phần quan trọng cho mảng đề tài biến đổi vai trò giới dưới tác động của quá
trình biến đổi vai trò giới dưới tác động của quá trình đô thị hóa diễn ra theo
hướng tích cực. Đồng thời tạo điều kiện cho phụ nữ nông thôn có cơ hội phát
triển, hạn chế những yếu tố tạo ra sự bất bình đẳng.
4. Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu.
4.1. Đối tượng nghiên cứu: Đô thị hóa và biến đổi vai trò giới trong
gia đình nông thôn hiện nay.
4.2. Khách thể nghiên cứu: Gia đình nông thôn trong quá trình đô thị
hóa hiện nay.
4.4. Phạm vi nghiên cứu:
Không gian nghiên cứu: Số liệu nghiên cứu khảo sát tại 2 xã Hoàn Sơn
và Đại Đồng huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh và 2 xã Thụy Lâm và Đại Áng
( thuộc huyện Thanh Trì, Đông Anh, Hà Nội).
Thời gian nghiên cứu: 2011 – 2012.
Nội dung nghiên cứu: Đề tài tập trung mô tả đặc điểm biến đổi vai trò
giới trong gia đình nông thôn qua nghiên cứu thực tế tại 4 xã ở khu vực nông
thôn thuộc Bắc Ninh và Hà Nội, đồng thời chỉ ra sự tác động của quá trình đô
thị hóa đến sự biến đổi vai trò giới. Ở đây tác giả tập trung mô tả biến đổi vai
trò giới ở 2 khía cạnh phân công lao động và quyền ra quyết định trong gia
đình. Bên cạnh đó chỉ ra những yếu tố ảnh hưởng đến sự biến đổi vai trò giới
trong gia đình nông thôn trong quá trình đô thị hóa hiện nay.
5. Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu.
5.1. Câu hỏi nghiên cứu.
Nhận thức, thái độ của người dân nông thôn về vai trò giới, những vấn
đề liên quan đến vai trò giới (vị trí, vai trò của người phụ nữ trong gia
đình )?.
Vai trò giới có sự biến đổi gì trên các khía cạnh: quan niệm về người
chủ gia đình, phân công lao động giữa vợ và chồng, quyền quyết định các
công việc quan trọng trong gia đình?
Những yếu tố nào tác động đến sự biến đổi vai trò giới trong gia đình
nông thôn hiện nay?
thôn tại 2 xã Hoàng Sơn và Đại Đồng tỉnh Bắc Ninh và 2 xã Thụy Lâm và
Đại Áng huyện Thanh Trì, Đông Anh, thành phố Hà Nội. Đặc điểm mẫu
nghiên cứu về giới tính, độ tuổi, trình độ học vấn như sau: ( Đơn vị tính: %)
Đặc điểm mẫu nghiên cứu Chung
Hà
Nội
Bắc Ninh
Về giới tính
người trả lời
Nam 44,7 50,9 38,6
Nữ 55,3 49,1 61,4
Về trình độ học
vấn người trả lời
Tiểu học 13,8 15,6 11,9
THCS 57,7 59,3 56,2
THPT 18,7 16,5 21,0
TCCN 4,6 2,9 6,2
CĐ 1,4 1,0 1,7
ĐH 3,2 4,1 2,3
Trên ĐH 0,2 0,2 0,2
KBC 0,5 0,5 0,5
Về độ tuổi người
trả lời
Dưới 40 tuổi 33,4 31,9 35,0
Từ 40-45 tuổi 16,2 17,9 14,5
Từ 46-55 tuổi 26,0 28,4 23,7
Trên 55 tuổi 24,3 21,7 26,9
6.3. Các phương pháp khác
Phương pháp quan sát: phương pháp này được sử dụng để quan sát,
đánh giá mức độ biến đổi vai trò giới trong gia đình nông thôn dưới tác động
GIA ĐÌNH NÔNG THÔN
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN.
1.1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu.
Mảng nghiên cứu về biến đổi vai trò giới trong gia đình, những tác
động của quá trình đô thị hóa đến biến đổi vai trò giới trong gia đình được
nhiều nhà nghiên cứu tìm tòi với những phát hiện mới mẻ và thú vị. Tuy
nhiên, trên thực tế những khảo sát, nghiên cứu chuyên sâu về vần đề này còn
khá ít ỏi. Trong khuôn khổ đề tài xin được đề cập đến những công trình
nghiên cứu tiêu biểu và đặc sắc, những nhận định về biến đổi vai trò giới
trong gia đình của các nhà nghiên cứu:
Nghiên cứu về: “phân công giới trong lao động gia đình ở Việt Nam”
do nhóm tác giả nghiên cứu gồm Giáo sư xã hội học John Knodel,Trung tâm
Nghiên cứu Dân số (Đại học Michigan, USA) và Phó giáo sư xã hội học
Bussarawan Puk Teerawichitchainan, Trường Khoa học xã hội (Đại học Quản
lý Singapore), Vũ Mạnh Lợi và Vũ Tuấn Huy (Viện Xã hội học), với dung
lượng mẫu là 1,296 được tiến hành tại 7 tỉnh đồng bằng Sông Hồng; vùng hai
là thành phố Hồ Chí Minh và 6 tỉnh lân cận (tiến hành năm 2003 – 2004). Các
tác giả kết luận là các biến đổi xã hội lớn đã diễn ra ở Việt Nam trong những
năm qua đã không có tác động tiêu cực tới vai trò giới. Phụ nữ vẫn tiếp tục
đóng các vai trò lớn trong công việc nội trợ và chăm sóc con cái, nhưng mức
độ tham gia của nam giới cũng đang tăng lên. Giữa các miền, sự khác biệt về
vai trò giới cũng có nhưng khiêm tốn. Học vấn và việc làm của người vợ đã tỏ
ra có tác động ít tới đóng góp của chồng trong việc nhà. Quan điểm lý thuyết
về trao đổi nguồn lực tỏ ra ít có bằng chứng xác nhận. Các tác giả cho rằng
các giá trị truyền thống về gia đình có sức sống bền bỉ, và tồn tại vượt lên trên
các biến đổi xã hội mạnh mẽ. Nghiên cứu của các tác giả ghi nhận trong xã
hội Việt Nam có những lực lượng xã hội đối chọi theo hướng thúc đẩy bình
đẳng nam nữ và làm gia tăng bất bình đẳng giới. Các tác giả ghi nhận sự thích
ứng của các giá trị về vai trò giới như một cách đáp ứng với những biến đổi
xã hội ở Việt Nam.
đô thị hóa đến đời sống gia đình chủ yếu ở khía cạnh kinh tế (vấn đề thu nhập,
biến đổi cơ cấu lao động, chi tiêu trong gia đình và vấn đề vui chơi giải trí
trong gia đình). Tác giả cũng chỉ ra: “quá trình CNH,HĐH và đô thị hóa ở
nước ta đã ảnh hưởng to lớn đến sự biến đổi và phát triển của gia đình. Đô
thị hóa tác động đến cơ cấu gia đình, sự di chuyển lao động từ nông thôn đến
đô thị. Nó khiến cho quy mô gia đình, nghề nghiệp và thu nhập gia đình cũng
thay đổi. Điều đó ảnh hưởng sâu sắc tới đời sống lao động, sinh hoạt của gia
đình. Các mối quan hệ trong gia đình cùng với các chuẩn mực văn hóa gia
đình cũng thay đổi theo xu hướng hiện đại” [2, tr. 295].
Tác giả Hoàng Bá Thịnh trong nghiên cứu của mình về “Công nghiệp
hóa nông thôn và những biến đổi trong gia đình nông thôn hiện nay” (Nghiên
cứu trường hợp xã Ái Quốc - Nam Sách – Hải Dương), tác giả đã đề cập đến
khía cạnh thu hẹp diện tích đất nông nghiệp để xây dựng nhà máy, khu công
nghiệp để CNH và đô thị hóa ồ ạt, điều này đã tạo nên những ảnh hưởng tốt
và không tốt đến đời sống người dân nông thôn.Trong nghiên cứu này tác giả
cũng dành một phần nhỏ phân tích sự biến đổi vai trò giới trong gia đình,
trong gia đình mặc dù người phụ nữ vẫn đảm nhận các công việc liên quan
đến gia đình, song sự tham gia của người chồng đã có sự tăng lên đáng kể so
với trước. Nếu như quyết định liên quan đến ngành nghề người chồng có
quyền quyết định nhiều hơn vợ thì ngược lại người vợ lại có quyền quyết định
nhiều hơn một chút về sinh đẻ.
Trong cuốn, Vai trò của phụ nữ nông thôn trong công nghiệp hóa nông
nghiệp, nông thôn, tác giả Hoàng Bá Thịnh cũng chỉ ra mối quan hệ trong
việc phân công lao động giữa vợ và chồng trong gia đình, trong đó tác giả
cũng đưa ra nghiên cứu dẫn chứng về việc phân công lao động nội trợ trong
gia đình, trong đó cho thấy người vợ đảm nhận chủ yếu công việc nội trợ
trong gia đình.
Bài viết “Vấn đề giới trong kinh tế hộ tìm hiểu phân công lao động
nam nữ trong gia đình ngư dân ven biển miền Trung” của tác giả Lê Tiêu La
và Lê Ngọc Hùng trên tạp chí XHH số3/1998 cũng đặt trọng tâm vào việc
Nhìn chung, đã có nhiều công trình nghiên cứu, các đề tài khoa học,
các bài viết phản ánh nhiều chiều cạnh về biến đổi vai trò giới trong gia đình
nói chung và biến đổi vai trò giới trong gia đình nông thôn trong quá trình đô
thị hóa. Trong những nghiên cứu này các nhà nghiên cứu đã đưa ra cái nhìn
ban đầu về biến đổi vai trò giới gia đình và các yếu tố tác động đến biến đổi
vai trò giới trong gia đình ở những chiều cạnh khác nhau. Tuy nhiên, khi đề
cập đến sự biến đổi vai trò giới trong gia đình cũng còn nhiều điểm trống cần
được làm rõ.
Để tiếp tục có những đóng góp trong lĩnh vực này, đề tài luận văn: “Đô
thị hoá và biến đổi vai trò giới trong gia đình nông thôn hiện nay”, nhằm
phân tích thực trạng biến đổi vai trò giới trong gia đình nông thôn trong quá
trình đô thị hóa hiện nay tại 2 tỉnh, thành phố Hà Nội và Bắc Ninh, làm rõ
những biến đổi vai trò giới trong gia đình ở nhiều chiều cạnh. Trong nghiên
cứu, tác giả cũng kế thừa và tiếp thu có chọn lọc kết quả nghiên cứu của các
công trình liên quan đến chủ đề này, đồng thời phát hiện thêm những vấn đề
mới nhằm làm rõ hơn sự biến đổi vai trò giới trong gia đình nông thôn dưới
ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa hiện nay.
1.2. Quan điểm của Đảng và Nhà nước về bình đẳng nam nữ.
Vai trò của phụ nữ không chỉ xuất phát từ tỷ lệ nữ giới trong tổng số
dân mà quan trọng hơn còn thể hiện còn ở vai trò thực tế của phụ nữ trên
nhiều mặt của đời sống kinh tế - xã hội. Nhận thức được tầm quan trọng của
phụ nữ trong đời sống xã hội, chủ trương của Đảng về công tác phụ nữ và
bình đẳng nam - nữ luôn được thể hiện nhất quán từ Cương lĩnh đầu tiên đến
các Nghị quyết của Đảng. Đất nước bước vào thời kỳ CNH, HĐH, hội nhập
kinh tế quốc tế, nhằm phát huy vai trò, tiềm năng to lớn của phụ nữ, nâng cao
địa vị phụ nữ, thực hiện bình đẳng giới trong mọi lĩnh vực, Bộ Chính trị ra
Nghị quyết số 11-NQ/T.Ư "Về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp
hóa, hiện đại đất nước" với quan điểm: "Xây dựng, phát triển vững chắc đội
ngũ cán bộ nữ tương xứng với vai trò to lớn của phụ nữ là yêu cầu khách
quan, là nội dung quan trọng trong chiến lược công tác cán bộ của Đảng" đã
phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW). Mạng lưới cán bộ tư vấn về giới hoạt
động hiệu quả, hệ thống pháp luật bảo đảm quyền bình đẳng của phụ nữ được
tăng cường, Luật Bình đẳng giới chính thức có hiệu lực từ ngày 1/7/2007.
Sau khi có Luật bình đẳng giới, việc lồng ghép giới đã trở thành một
quy trình, thủ tục pháp lý bắt buộc khi xây dựng các văn bản quy phạm pháp
luật. Đây là một bước tiến quan trọng trong việc thúc đẩy bình đẳng giới thực
chất và toàn diện hơn. Điều 18 trong Luật bình đẳng giới có nêu rất rõ vấn đề
bình đẳng giới trong gia đình: “1-Vợ, chồng bình đẳng với nhau trong quan
hệ dân sự và các quan hệ khác liên quan đến hôn nhân và gia đình; 2-Vợ,
chồng có quyền, nghĩa vụ ngang nhau trong sở hữu tài sản chung, bình đẳng
trong sử dụng nguồn thu nhập chung của vợ chồng và quyết định các nguồn
lực trong gia đình; 3-Vợ, chồng bình đẳng với nhau trong việc bàn bạc, quyết
định lựa chọn và sử dụng biện pháp kế hoạch hoá gia đình phù hợp; sử dụng
thời gian nghỉ chăm sóc con ốm theo quy định của pháp luật; 4-Con trai, con
gái được gia đình chăm sóc, giáo dục và tạo điều kiện như nhau để học tập,
lao động, vui chơi, giải trí và phát triển;5-Các thành viên nam, nữ trong gia
đình có trách nhiệm chia sẻ công việc gia đình”.
Điều 4 của Luật bình đẳng giới cũng nêu rõ mục tiêu bình đẳng giới là:
“xoá bỏ phân biệt đối xử về giới, tạo cơ hội như nhau cho nam và nữ trong
phát triển kinh tế - xã hội và phát triển nguồn nhân lực, tiến tới bình đẳng
giới thực chất giữa nam, nữ và thiết lập, củng cố quan hệ hợp tác, hỗ trợ giữa
nam, nữ trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình”.
Điểm mới của Luật bình đẳng giới so với các văn bản quy phạm pháp
luật trước đó có quy định về bình đẳng giới là đã quy định những hành vi vi
phạm về bình đẳng giới trong từng lĩnh vực cụ thể đồng thời đưa ra hình thức
xử lý vi phạm pháp luật về bình đẳng giới. Điều 42 quy định: “Người nào có
hành vi vi phạm pháp luật về bình đẳng giới tùy theo tính chất, mức độ vi
phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử lý hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình
sự. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật về bình đẳng giới
mà gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật”.
vấn về pháp lý,sức khỏe, được hỗ trợ và chăm sóc tại các cơ sở mở rộng,
85% số người gây bạo lực gia đình được tư vấn tại các cơ sở tư vấn về phòng
chống bạo lực gia đình; giảm 50% tội phạm buôn bán phụ nữ và trẻ em trên
phạm vi toàn quốc, giảm 20% tội phạm buôn bán trẻ em và phụ nữ tại địa
bàn trọng điểm, 60% phụ nữ và trẻ em gái bị buôn bán đã phát hiện được
chữa trị và dậy nghề”.
Như vậy, có thể thấy Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn
2011 – 2020 là một bộ phận cấu thành của Chiến lược Phát triển kinh tế - xã
hội giai đoạn 2011 – 2020 của Việt Nam, nhằm cụ thể hóa chủ trương của
Đảng, pháp luật của Nhà nước về bình đẳng giới trong giai đoạn tới, đồng
thời là sự tiếp tục thực hiện các mục tiêu của Chiến lược quốc gia vì sự tiến
bộ của phụ nữ Việt Nam đến năm 2010. Trong bối cảnh của kinh tế - xã hội
mới của giai đoạn 2011 – 2020 và những tồn tại về bất bình đẳng giới hiện
nay.
Có thể nói, trong xu thế hội nhập và phát triển của đất nước, phụ nữ
Việt Nam tiếp tục phát huy và khẳng định vai trò, vị trí của mình đối với sự
phát triển của xã hội. Khi nền kinh tế càng phát triển, phụ nữ càng có nhiều cơ
hội hơn. Nó phá vỡ sự phân công lao động cứng nhắc theo giới, cho phép phụ
nữ tham gia vào nền kinh tế thị trường và khiến nam giới phải chia sẻ trách
nhiệm chăm sóc gia đình. Nó có thể giảm nhẹ gánh nặng việc nhà cho phụ nữ,
tạo cho họ nhiều thời gian nhàn rỗi hơn để tham gia vào các hoạt động khác.
Đồng thời nó còn tạo ra nhiều cơ hội hơn cho phụ nữ trên thị trường lao động
v.v…
Nhờ sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và của toàn xã hội, vai trò của
người phụ nữ không ngừng được nâng cao. Tuy nhiên, hiện thời chúng ta vẫn
còn nhiều hạn chế cần phải được khắc phục trong vấn đề bình đẳng giới, nhất
là về mặt tư tưởng, quan điểm của con người trong xã hội, kể cả nam giới và
nữ giới. Một biểu hiện khác nữa là tình trạng lạm dụng sức lao động trẻ em
nói chung và trẻ em gái nói riêng, tình trạng lạm dụng tình dục đối với trẻ em
gái, tình trạng bạo lực gia đình vẫn còn diễn ra ở một số nơi. Những hạn chế