Đề Tài: Vai trò giới trong gia đình người Raglai hiện nay dưới góc nhìn của
phụ nữ
NGUYỄN THỊ THÙY LINH
Bản Thảo Lần 2
1
MỤC LỤC
Phần A: phần mở đầu 5
1.Lý do chọn đề tài 5
2.Mục tiêu nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu 7
2.1.Mục tiêu nghiên cứu 7
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu 7
3.Nội dung nghiên cứu 8
4.Đối tượng và khách thể nghiên cứu 8
4.1.Đối tượng nghiên cứu 8
4.2.Khách thể nghiên cứu 8
5.Giới hạn của đề tài 8
6.Điểm mới của đề tài 9
7.Ý nghĩa lí luận và ý nghĩa thực tiễn 9
7.1.Ý nghĩa lí luận 9
7.2.Ý nghĩa thực tiễn 9
8.Kết cấu của đề tài 9
Phần B: NỘI DUNG 10
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 10
1.1. Cơ sở lý luận 10
1.1.1. Tổng quan nghiên cứu 10
1.1.2. Những cách tiếp cận và lý thuyết nghiên cứu 16
1.1.2.1. Cách tiếp cận giới 16
1.1.2.2. Lý thuyết vị thế vai trò 17
1.1.3. Những khái niệm liên quan 18
1.1.3.1. Giới 18
1.1.3.2. Vai trò giới 19
59
Danh mục các từ viết tắt
CEDAW: Công ước loại bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ
nữ
3
ADB: Ngân hàng Phát triển châu Á
FAO: Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc
UNDP: Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc
CIDA: Cơ quan phát triển quốc tế Canada
PVS: Phỏng vấn sâu
PL: Phụ lục
TB: Trung bình
Danh mục các bảng
Bảng 2.1: tôn giáo của người dân
Bảng 2.2: Nghề nghiệp chính của người dân
4
Bảng 2.3: Nghề nghiệp phụ của người dân
Bảng 2.4: Những công việc vợ/ chồng làm
Bảng 2.5: Những công việc của vợ làm với 5 nhóm thu nhập
Bảng 2.6: Những công việc của chồng làm với 5 nhóm thu nhập
Bảng 2.7: Thể hiện điểm trung bình mức độ quyết định chồng/ vợ và thành
viên khác
Bảng 2.8: Ưu tiên cho con đi học của cha mẹ ở xã Khánh Nam Khánh Vĩnh
Bảng 2.9: Tương quan giữa học vấn và ưu tiên cho con đi học
Bảng 2.10: Tương quan giữa thu nhập và ưu tiên cho con đi học
Danh mục các hình vẽ, đồ thị
Biểu 2.1: Trình độ học vấn của người phụ nữ Raglai
Biểu 2.2: Độ tuổi của người phụ nữ Raglai
Biểu 2.3: Tình trạng hôn nhân của người dân
Biểu 2.4: Thể hiện người đi họp
càng được nâng cao hơn. Nhưng đâu đó vẫn còn có những người phụ nữ và nam giới
chưa thể phát huy hết các ý tưởng sang tạo của mình vì những nguyên nhân nào đó.
Và làm thế nào để thay đổi được những bất lợi đó? Làm thế nào để cả hai giới có thể
phát huy hết khả năng của mình trong sự phát triển của kinh tế xã hội.
Thực chất sự phân biệt giới không chỉ có ở gia đình mà nó diễn ra ở phạm vi
ngoài gia đình, vì đây là hiện tượng tâm lý chung của toàn xã hội mang tính chủ quan
đã ăn sâu và tiềm thức của người dân Việt Nam đặc biệt là ở nông thôn, các khuôn
mẫu ấy là những nét đặc trưng khiến người dân tin tưởng và khó có thể thay đổi, trong
khi đó gia đình là môi trường xã hội hóa đầu tiên của con người trong quá trình hình
6
thành nhân cách và duy trì những khuôn mẫu có tính phổ biến tạo nên thang đo những
giá trị chuẩn mực cho nam giới và nữ giới trong gia đình và ngoài xã hội. Điều này
làm cho chúng ta khó mà thay đổi được những yếu tố gây bất lợi cho cả hai giới, tạo
cơ sở ngang bằng cho hai giới về cơ hội. Vì vậy ta cần phát huy tính sáng tạo của mỗi
giới để họ tích cực hơn trong lao động và tránh khỏi các áp bức về giới.
Vậy vai trò của giới trong gia đình nó có ảnh hưởng như thế nào? Phải chăng
chế độ mẫu hệ vẫn còn tồn tại mạnh mẽ với đồng bào Raglay hiện nay? Để tìm câu trả
lời, tác giả chọn đề tài nghiên cứu "Vai trò giới trong gia đình người Raglai hiện nay
dưới góc nhìn của phụ nữ" (điển cứu tại xã Khánh Nam Huyện Khánh Vĩnh Tỉnh
Khánh Hòa) làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình.
2. Mục tiêu nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là tìm hiểu Vai trò giới trong gia đình người
Raglai hiện nay dưới góc nhìn của phụ nữ ở xã Khánh Nam Huyện Khánh Vĩnh Tỉnh
Khánh Hòa. Qua đó cho ta thấy được vai trò của phụ nữ và nam giới người Raglai
trong chế độ mẫu hệ hiện nay.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Từ mục tiêu trên tác giả đưa ra một số nhiệm vụ nghiên cứu sau nhằm phân
tích vấn đề cụ thể sau.
Làm rõ những vai trò giới trong gia đình cư dân Raglai hiện nay.
mảng nhỏ. Với mong muốn đề tài này sẽ được mở rộng hơn trong tương lai.
8
6. Điểm mới của đề tài
Hầu hết các nghiên cứu về dân tộc ít người trước đây chỉ mới tập trung nghiên
cứu ở các lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, tiếp cận các nguồn lực xã hội và cũng chỉ mới
tập trung ở một số dân tộc cụ thể. Vì vậy đề tài này tác giả sẽ tập trung tìm hiểu những
Vai trò giới trong gia đình người Raglai hiện nay dưới góc nhìn của phụ nữ" và nó
cũng là một điểm mới của đề tài.
7. Ý nghĩa lí luận và ý nghĩa thực tiễn
7.1. Ý nghĩa lí luận
Đúc kết lại những kiến thức đã học về môn phương pháp nghiên cứu và các
môn chuyên nghành khác. Đồng thời giúp người nghiên cứu có một cách nhìn sâu sắc
hơn về các vấn đề xã hội và rèn luyện kĩ năng nghiên cứu, cũng như cách thực hiện đề
tài nghiên cứu khoa học cho chuyên nghành xã hội một cách độc lập.
7.2. Ý nghĩa thực tiễn
Bên cạnh ý nghĩa lý luận thì vấn đề giới là vấn đề được sự quan tâm trong xã
hội nhưng nó mới chỉ dừng lại ở những người làm công tác nghiên cứu. Vì vậy đề tài
thực hiện nhằm tìm hiểu “Vai trò giới trong gia đình người Raglai”. Từ đó giúp
chúng ta hiểu thêm vấn đề giới về mặt lí thuyết cũng như lí thuyết được áp dụng.
Qua đó ta thấy được những vấn đề mà hai giới đang gặp phải trong gia đình
hiện nay.
8. Kết cấu của đề tài
Báo cáo kết quả nghiên cứu khoa học dự kiến gồm có 3 phần và 2 chương. Đó
là:
Phần 1: Mở đầu
Phần 2: Nội dung
+ Chương 1: Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
9
+ Chương 2: Kết quả nghiên cứu thực nghiệm về “vai trò giới và quyền quyết
định trong gia đình người Raglai hiện nay dưới góc nhìn của phụ nữ”
trình lớn đã được thực hiện trong những năm gần đây như: Đánh giá tình hình giới ở
việt nam ( 2006) do ngân hàng thế giới, ADB, CIDA đồng thời thực hiện và tài trợ;
Khác biệt giới trong nền kinh tế chuyển đổi ở việt nam do quỹ FAO và UNDP tài trợ (
2002); Số liệu thống kê giới những năm đàu thê kỉ 21 do ủy ban vì sự tiến bộ của phụ
nữ Việt Nam và tổng cục thống kê trong dự án VIE 01 - 05 -01 do UNDP và chính
phủ Hà Lan tài trợ.
Các nghiên cứu trên đây, dựa trên phương pháp nghiên cứu chủ yếu là nghiên
cứu định tính kết hợp với nghiên cứu định lượng với quy mô mẫu khá lớn trên địa bàn
và mang tính đại diện cho cả nước. Về phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên những tiêu
chí đưa ra để đo lường đến các vai trò giới ở đây là sự phân công lao động theo giới
trong gia đình, giáo dục, văn hóa, tuổi, giới tính, nghề nghiệp việc làm, thời gian làm
việc nhà, sức khỏe y tế sử dụng và tiếp cận nguồn lực, đặc biệt là quyền ra quyết định
ở trong gia đình và ngoài xã hội. Mặc dù các đề tài không tiếp cận trực tiếp về khía
11
cạnh vai trò giới nhưng các chỉ báo cũng đã nói lên được phần nào những vấn đề gây
bất lợi cho việc thực hiện vai trò giới.
Nhìn chung, có nhiều đề tài nghiên cứu trong lĩnh vực giới và gia đình thể hiện
sự đa dạng về cách tiếp cận và những điểm nóng về vấn đề giới, các đề tài không thiên
về lĩnh vực nào cụ thể mà nó chỉ mới nêu ra ở một khía cạnh nào đó như một lực cản
trong việc phát huy vai trò giới có thể kể một số công trình nghiên cứu như sau dưới
dạng phân tích đi sâu vào vấn đề phân công lao động trong gia đình như: Khía cạnh
giới trong phân công lao động gia đình (Nguyễn Hữu Minh, 2009); Phân công lao
động nội trợ trong gia đình (Vũ Tuấn Duy và Deborah S.car, 2002); Vai trò của người
cha trong gia đình (Vũ Tuấn Duy, 2002); Thực tế chăm sóc con cái của phụ nữ nông
thôn (Joyce Halliday & Jolittle, 2004); Vai trò giới trong các dân tộc ít người ở Sơn
La, Lai Châu hiện nay (Lê Thị Quý, 2004); Vai trò giới trong các gia đình người
khuyết tật ở Tp. HCM (Nguyễn Thị Từ An, 2012); Khác biệt giới trong dự định đầu tư
của bố mẹ cho việc học của con cái (Lê Thúy Hằng, 2006); Vị thế của người phụ nữ
trong một số vấn đề của gia đình (Nguyễn Linh Khiếu, 2002); Chủ hộ gia đình việt
nam là ai? (Vũ Mạnh Lợi 2009).
việc của mỗi giới. Trong nghiên cứu “Khác biệt giới trong nền kinh tế chuyển đổi ở
việt nam do quỹ FAO và UNDP tài trợ (2002)” dự án có khai thác đến khía cạnh này
nhưng chưa có đo lường các chỉ báo cụ thể mà mới đề cập đến một cách chung chung
và còn mang tính khái quát. Ở nghiên cứu “Vai trò giới trong các gia đình người
khuyết tật tở Tp. HCM” của tác giả Nguyễn Thị Từ An. Đề tài sử dụng phương pháp
nghiên cứu định tính chỉ rõ ra được những công việc mà hai giới làm chính qua các
nhóm khuyết tật đảm nhận từng công việc phù hợp với mình. Tuy nhiên những công
việc kiếm tiền vẫn là người chồng, công việc nhà chăm sóc con cái vẫn do người phụ
nữ đảm nhiệm.
Vai trò giới trong việc ra quyết định trong gia đình: Đánh giá việc ra quyết
định cho thấy được vị thế của nam và nữ trong xã hội, ở đó việc họ có tiếng nói như
thế nào? Ai có vị thế hơn? Trong xu hướng hiện nay tỷ lệ cả hai vợ chồng cùng tham
gia bàn bạc và ra quyết định vào một loại công việc nào đó đang có xu hướng tăng,
tuy nhiên việc ra quyết định chính trong những công việc quan trọng như sản xuất,
mua sắm đồ dùng giá trị ….vẫn thiên về nam giới nhiều hơn. Tuy nhiên tỷ lệ đó có sự
13
khác biệt giữa các vùng miền ở thành phố tỷ lệ hai vợ chồng cùng nhau bàn bạc và
quyết định mau đồ dùng chiếm tỷ lệ cao hơn ở các vùng nông thôn Trung Du, Miền
Núi ở các khoản chi cho tiền học, tiền hiếu hỉ, …ở đồng bằng và trung du miền núi vai
trò quyết định chủ yếu là người vợ. Việc quyết định số con trong gia đình đều do hai
vợ chồng cùng nhau bàn bạc và có sựu thống nhất về quyết định số con (Nguyễn Linh
Khiếu, 2004). Theo quan niệm của người việt nam chủ hộ là nam giới nên quyền
quyết định chính trong gia đình là do nam giới quyết định, nhưng có sự khác biệt ở
đây nếu chủ hộ là nam giới thì họ có quyền quyết định còn chủ hộ là nữ thì họ là
người gánh vác thêm công việc này không kể nam giới (Vũ Mạnh Lợi, 2009). Người
chồng với vai trò cung cấp nguồn sống, cung cấp kinh tế cho gia đình nên quyền ra
quyết định luôn nằm trong họ đăch biệt là ảnh hưởng của khuôn mẫu văn hóa truyền
thống nên quyền ra quyết định không thuộc về phụ nữ dù những công việc đó có liên
quan đến bản thân họ (Vũ Tuấn Huy, 2002). Nhìn chung trong việc ra quyết định các
nghiên cứu chỉ ra được ai là người ra quyết định chính trong gia đình, và tiếng nói của
là các nguyên nhân người ta coi nam giới là thế này, thế kia nội trợ là thiên chức của
người phụ nữ và được cả nam giới và phụ nữ chấp nhận như một thực tế đã tồn tại từ
lâu (Nguyễn Hữu Minh, 2009; Vũ Tuấn Huy, 2002; Joyce Halliday & Jolittle, 2004)
trong gia đình nông thôn kì vọng hướng giáo dục đến các vai trò trong gia đình “nữ
công gia chánh” đây là các công việc hướng đến vai trò của người vợ, người mẹ trong
gia đình, do các yếu tố và phong tục đã ảnh hưởng và ăn sâu vào nếp văn hóa trở
thành một khuôn mẫu hành động chung ảnh hưởng đến phân biệt giới trong gia đình.
Tóm lại, các đề tài không tập trung vào việc khai thác sự khác biệt giới trong
gia đình mà chỉ xem vấn đề này như một nhân tố ảnh hưởng lên các khía cạnh giới
trong gia đình, đặc biệt trong gia đình ở nông thôn với một lượng mẫu khá lớn và cách
tiếp cận chủ yếu là cách tiếp cận giới và cách tiếp cận văn hóa (Lê Thị Quý 2004; Vũ
Tuấn Huy, 2000) và cách tiếp cận theo dịch vụ và kinh tế (Joyce Halliday & Jolittle,
2004). Tuy nhiên, hướng tiếp cận chuyên sâu vào vai trò giới và quyền quyết định sẽ
có cái nhìn khách quan hơn và xác định được các yếu tố ảnh hưởng lên nó, như cách
tiếp cận có được các tác giả quan tâm sử dụng theo hướng tiếp cận khách quan như sự
biến đổi của kinh tế xã hội dẫn đến những biến đổi quan niệm của người dân mặc dù
khó tránh khỏi những ý kiến trùng lặp hoặc phân tích trùng lặp các chỉ báo khác nhau.
15
Trong phạm vi các đề tài mà tác giả đọc được chưa có công trình nào nói đến
vai trò và quyền quyết định trong gia đình người Raglai hiện nay dưới góc nhìn của
phụ nữ” vì vậy đây chính là điểm mới của đề tài. Trong khóa luận của mình tác giả sẽ
đi làm rõ vai trò và quyền quyết định của mà mỗi giới trong gia đình người Raglai
đang đảm nhiệm, từ đó cho chúng ta thấy được một bức tranh sinh hoạt của người
Raglai.
1.1.2. Những cách tiếp cận và lý thuyết nghiên cứu
1.1.2.1. Cách tiếp cận giới
Ở Việt Nam quan niệm về gia đình có truyền thống lâu dài thì quan niệm về
giới là quan niệm tương đối mới. Theo các dữ liệu nghiên cứu xã hội học trước đây
chỉ có một khái niệm về giới tính để phân biệt giữa nam và nữ hay bản chất sinh học
và bản chất xã hội. Trong mấy năm trở lại đây cách tiếp cận về giới đã được áp dụng
Theo lí thuyết hệ thống, mỗi một hệ thống xã hội đều có một cơ cấu phức tạp
tương xứng với nó bao gồm nhiều bộ phận được cấu thành. Mỗi một bộ phận đều có
vị trí vai trò, chức năng khác nhau.
Theo Robertsons “vai trò là tập hợp các chuẩn mực, hành vi, quyền lợi và
nghĩa vụ được gắn liền với một vị thế xã hội nhất định” (Lê Ngọc Hùng, năm 2002).
Khái niệm vai trò xã hội bắt nguồn từ khái niệm vai diễn trên sân khấu. Vai diễn trên
sân khấu đòi hỏi diễn viên phải nhập tâm, bắt chước và học tập đóng vai của những
nhân vật được đạo diễn phân đóng. Trong khi đó vai trò xã hội không có tính chất
tưởng tượng, bắt chước, cứng nhắc và nhất thời. Những hành vi thực tế của một người
nhờ học hỏi được những kinh nghiệm, lối sống, tác phong từ trước đó trong cuộc
sống. Vai trò xã hội của một người có nghĩa là người đó phải đảm nhận hay thể hiện
đầy đủ các hành vi, nghĩa vụ, hệ thống chuẩn mực trên cơ sở vị thế của người đó.
Đồng thời họ cũng nhận được những quyền lợi xã hội tương ứng với việc thực hiện
vai trò của họ.
Như vậy vai trò xã hội được xác định trên cơ sở vị thế xã hội tương ứng, tương
ứng với từng vị thế có một hành vi mong đợi vì vậy xem xét các vấn đề về vị thế và
17
vai trò người ta xem xét đến mặt động của vị thế vì xã hội luôn biến động và sự di
động của cá nhân không có sự ổn định.
Có thể nhận thấy, theo lí thuyết về vai trò, nhấn mạnh sự không bình đẳng
trong xã hội và dẫn đến phân tầng xã hội, phân biệt về giới và giới tính gắn liền với sự
phân chia một cách không đồng đều trong xã hội về quyền lực. Việc vận dụng lí
thuyết này trong đề tài này nhằm phân tích mối quan hệ địa vị giữa nam và nữ cụ thể
là giữa vợ và chồng trong các mối quan hệ xã hội và gia đình như vai trò giới trong
phân công lao động, vai trò giới trong việc ra quyết định.
Theo Merton một người phụ nữ có thể đóng nhiều vai trò khác nhau họ vừa
làm vợ làm mẹ, họ vừa lao động kiếm sống, vừa làm công việc tái sản xuất tham gia
hoạt động cộng đồng
Áp dụng lý thuyết này vào đề tài, tác giả muốn làm rõ vị thế, vai trò của người
phụ nữ Raglai trong gia đình, và với vị thế của mình thì họ đã thực hiện vai trò của
đồng ruộng (cấy, bón phân, làm cỏ )
+ Lao động nuôi dưỡng (nội trợ gia đình và chăm sóc người già, trẻ em )
+ Công việc cộng đồng (dọn vệ sinh ngõ xóm, đường phố )
Nam giới làm hai nhóm công việc chính sau:
+ Lao động kiếm sống: Làm việc tại công sở, nhà máy, lao động sản xuất trên
đồng ruộng (cày bừa, thu hoạch )
+ Công việc cộng đồng: (họp xóm thôn, tổ dân phố, đi dự các đám hiếu hỉ, tổ
chức các lễ hội )
Nam giới ít làm các công việc nuôi dưỡng hơn vì xã hội hầu như không trông
chờ đàn ông tham gia các công việc ấy.
19
1.1.3.3. Gia đình
Bàn về khái niệm gia đình, nhiều học giả và nhiều nhà nghiên cứu đã có những
khái niệm riêng của mình. Vì vậy, đến nay khái niệm gia đình đã trở nên phong phú,
các nhà xã hội học việt nam cũng hình thành cho mình những khái niệm riêng không
đi cùng với các học giả phương tây. Như khái niệm gia đình của Đỗ Thái Đồng, Trần
Đình Hượu tiếp cận khái niệm của mình theo văn hóa Việt Nam. Do đó để nó phù hợp
với yêu cầu của đề tài nghiên cứu tác giả đã tìm cho mình một khái niệm hợp lý nhất
cũng là một yêu cầu khó. Vì vậy dưới đây là khái niệm mà tác giả cho là hợp lí nhất
và nó mang ý nghĩa chung nhất.
Theo E.W. Burgess và H.J.Locker, “Gia đình là một nhóm người đoàn kết với
nhau bằng mối liên hệ hôn nhân, huyết thống và những mối quan hệ con nuôi tạo
thành một hộ đơn giản, tác động lẫn nhau và thống nhất với nhau trong vai trò tương
ứng của họ là người chồng và người vợ, người mẹ và người cha, anh em và chị em,
tạo nên một nền văn hóa chung” (TS.Trần Thị Kim Xuyến, 2001).
Khái niệm này, đảm bảo được các yếu tố chung nêu lên được các mối quan hệ
giới tính trong gia đình thông qua mối quan hệ hôn nhân, mối quan hệ huyết thống,
đặc biệt là khái niệm cũng bao gồm sự tác động qua lại giữa các thành viên trong đình
như mối quan hệ vợ chồng, con cái thể hiện qua các khái niệm vai trò. Điều mà khái
niệm chưa nêu lên quá trình hình thành của gia đình trong phạm trù lịch sử của xã hội
1.2. Phương pháp nghiên cứu
1.2.1. Phương pháp luận
Đề tài khóa luận sử dụng bộ dữ liệu nghiên cứu trong đề tài “Tình hình đời
sống người Raglay Huyện Khánh Vĩnh, Tỉnh Khánh Hòa trong bối cảnh CNH-HĐH
tại xã Khánh Nam – huyện Khánh Vĩnh – tỉnh Khánh Hòa”, đề tài thực tập cuối kì của
K11 Khoa Xã Hội Học Đại Học Bình Dương. Đề tài nghiên cứu sử dụng các phương
pháp điều tra trong xã hội học bao gồm phương pháp nghiên cứu định tính và phương
pháp nghiên cứu định lượng.
1
http://vi.wikipedia.org/wiki/Ng%C6%B0%E1%BB%9Di_Ra_Glai
2
http://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%E1%BA%BF_%C4%91%E1%BB%99_m%E1%BA%ABu_h%E1%BB%
21
1.2.2. Phương pháp hệ (Phương pháp thu thập thông tin)
1.2.2.1. Phương pháp phân tích tài liệu sẵn có
Đề tài sử dụng những thông tin sẵn có từ cục thống kê, từ các tạp chí xã hội
học, của các công trình nghiên cứu đã thực hiện có liên quan để vận dụng, so sánh để
phụ vụ cho việc chứng minh các ý tưởng trong lập luận của tác giả luận văn.
Ngoài ra còn thu thập các tư liệu sẵn có về tình hình kinh tế - văn hóa xã hội
của địa bàn nghiên cứu. Những thông tin này giúp cho tác giả có một cái nhìn khái
quát về địa bàn nghiên cứu.
1.2.2.2. Phương pháp thu thập thông tin định lượng
Thông qua công cụ bảng hỏi nghiên cứu được thực hiện với dung lượng mẫu là
182 mẫu có cả nam và nữ, và được chọn ngẫu nhiên theo danh sách các hộ gia đình
trong 2 ấp Axay và Hòn Dù. Vì đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình tác giả chỉ
nghiên cứu ở góc nhìn nữ giới nên trong đề tài của mình tác giả chỉ sử dụng 114/182
đó là những mẫu mà người tham gia trả lời là nữ giới.
1.2.2.3 Phương pháp thu thập thông tin định tính
Phương pháp chính được sử dụng trong nghiên cứu định tính với công cụ
phỏng vấn sâu, phương pháp sử dụng bảng câu hỏi mang tích gợi mở. Phỏng vấn sâu
CHƯƠNG 2. Kết quả nghiên cứu thực nghiệm về vai trò giới trong gia đình
người Raglai
2.1. Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
Khánh Nam là xã miền núi thuộc tỉnh Khánh Hòa, cách trung tâm thành phố
Nha Trang 25km về phía Tây nam. Xã có 3 thôn, tổng diện tích đất tự nhiên toàn xã là
4214 ha.
23
-Phía Đông: giáp huyện Diên Khánh.
- Phía Nam: giáp huyện Khánh Sơn
- Phía Bắc: giáp xã Ninh Hòa
Về khí hậu – thuỷ văn: Khánh Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió
mùa, có hai mùa rõ rệt: Mùa mưa tập trung từ tháng 9 dến tháng 12 hàng năm, mùa
khô từ tháng 01 đến tháng 8 hàng năm. Nhiệt độ trung bình trong năm từ 25
o
C, nhiệt
độ cao nhất là 35
o
C, nhiệt độ thấp nhất là 22
o
C. Độ ẩm trung bình hàng năm là 80%.
Lượng mưa hàng năm 1.600 mm – 2.000 mm. Nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng
27,6
0
Khánh Nam là một trong hai xã miền núi của tỉnh Khánh Hòa có một mạng
lưới thủy văn đa dạng, hệ thống sông ngòi dày đặc và phân bố không đồng đều trên
địa bàn, với 1 con sông lớn là sông Cái chảy từ địa phận 6 xã của huyện. Hệ thống
sông ngòi có mức chảy ổn định nhưng mùa mưa, nước tại các con sông suối dâng cao
đã tạo không ít khó khăn cho các hoạt động kinh tế của xã, hệ thống công trình cầu
cống chưa đảm bảo nên vẫn xảy ra hiện trạng các vùng bị chia cắt trong mùa mưa
hàng năm.
khe suối hợp thủy. Loại đất này có độ phì khá cao, giàu mùn, khả năng giữ ẩm rất tốt,
tuy nhiên chỉ chiếm tỷ lệ 17,46%.
Về tài nguyên rừng: Tổng diện tích đất lâm nghiệp có rừng: 2.790ha.
Trong đó :
Đất rừng sản xuất: 1.598 ha
Đất rừng đặc dụng: 959 ha
Đất rừng trồng: 233 ha
Về tình hình dân số, dân tộc và tôn giáo: Theo báo cáo UBND xã Khánh
Nam toàn xã có 3 thôn, buôn với 501 hộ và 1915 khẩu, gồm nhiều dân tộc chung sống
với nhau, chủ yếu là người Raglay. Trong đó, tổng số hộ nghèo tại xã Khánh Nam là:
151 hộ với 561 nhân khẩu, chiếm 31,58 %, hộ cận nghèo là 123 hộ với 508 nhân
khẩu, chiếm tỷ lệ 25,73%. Trong năm đã có 160 hộ nghèo và cận nghèo được ngân
hàng chính sách cho vay tổng số tiền là 750 triệu đồng, góp phần cải thiện vốn đầu tư
sản xuất cho nhân dân.
25