Hoàn thiện công tác bảo trợ xã hội trên địa bàn thị xã điện bàn, tỉnh quảng nam (tt) - Pdf 50

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

ĐẶNG THỊ BÍCH TRÂM

HOÀN THIỆN CÔNG TÁC BẢO TRỢ XÃ HỘI TRÊN
ĐỊA BÀN THỊ XÃ ĐIỆN BÀN, TỈNH QUẢNG NAM

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ
KINH TẾ PHÁT TRIỂN
Mã số: 60.31.01.05

Đà Nẵng - 2018


Công trình được hoàn thành tại
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ, ĐHĐN

Ngƣời hƣớng dẫn KH: GS.TS. VÕ XUÂN TIẾN

Phản biện 1: TS. LÊ BẢO
Phản biện 2: TS. HOÀNG HỒNG HIỆP

Luận văn được bảo vệ trước Hội đồng chấm Luận văn tốt nghiệp
Thạc sĩ Kinh tế Phát triển họp tại Trường Đại học Kinh tế, Đại học
Đà Nẵng vào ngày 28 tháng 01 năm 2018

Có thể tìm hiểu luận văn tại:
- Trung tâm Thông tin - Học liệu, Đại học Đà Nẵng
- Thư viện trường Đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng


Nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến
công tác BTXH tại thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam.


2
b. Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu các nội dung của
công tác BTXH trên địa bàn thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam.
- Về không gian: Nội dung nghiên cứu được thực hiện tại thị
xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2012 – 2016.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập tài liệu thứ cấp
- Phương pháp xử lý tài liệu
- Phương pháp phân tích thực chứng
- Phương pháp so sánh:
- Phương pháp phân tích tổng hợp:
5. Bố cục của đề tài
Ngoài phần mục lục, mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu
tham khảo; Luận văn được chia làm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về bảo trợ xã hội
Chương 2: Thực trạng công tác bảo trợ xã hội trên địa bàn thị
xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam.
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác bảo trợ xã hội trên
địa bàn thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam.
6. Tổng quan tài liệu nghiên cứu


3
CHƢƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BTXH

4
đối tượng thụ hưởng, không yêu cầu sự đóng góp của đối tượng thụ
hưởng.
1.1.3 Ý nghĩa của công tác BTXH
- BTXH thể hiện đầy đủ và sâu sắc tính nhân đạo, tương ái
cộng đồng của dân tộc Việt Nam, của Đảng và Nhà nước ta trong
công tác chăm lo đời sống của mọi thành viên trong xã hội.
- Dưới góc độ kinh tế, BTXH không vì mục đích kinh doanh
lợi nhuận nhưng lại có ý nghĩa là công cụ phân phối lại tiền bạc, của
cải và dịch vụ có lợi cho các thành viên bất hạnh của xã hội, thu hẹp
dần sự chênh lệch mức sống, giảm bớt bần cùng, nghèo đói.
- Đối với người được thụ hưởng, đây là nguồn tài chính đảm
bảo cho họ có được cuộc sống tối thiểu trong xã hội.
- Hoàn thiện công tác BTXH là góp phần thúc đẩy tiến bộ xã
hội.
1.2 NỘI DUNG CỦA HOÀN THIỆN CÔNG TÁC BTXH
1.2.1 Mở rộng đối tƣợng đƣợc thụ hƣởng BTXH
- Đối tượng được BTXH là mọi thành viên trong xã hội khi có
các sự cố xảy ra do nguyên nhân khách quan và chủ quan khác nhau
làm họ không đủ khả năng hoặc không tự lo được cuộc sống của bản
thân và gia đình, cần có sự trợ giúp, cứu tế từ Nhà nước và cộng
đồng để đảm bảo mức sống tối thiểu.
- Mở rộng đối tượng được hưởng BTXH bằng cách sửa đối,
bổ sung những điểm bất hợp lý về quy định các đối tượng được
hưởng BTXH.
- Bên cạnh đó, theo dự báo trong thời gian tới, do tác động của
vấn đề già hóa dân số, ô nhiễm môi trường, …số lượng người khuyết
tật nước ta sẽ gia tăng. Do đó, mở rộng đối tượng được thụ hưởng
BTXH là cần thiết.
- Mở rộng đối tượng được thụ hưởng thể hiện sự gia tăng theo

nhất định.
Xây dựng các chính sách trợ giúp cho các đối tượng đặc thù
như người cao tuổi, người khuyết tật, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt.
Bên cạnh đó cần tiếp tục đẩy mạnh phát triển phương thức tài


6
trợ giá thông các chính sách như: tài trợ giá thông qua chính sách
BHYT; tài trợ giá thông qua việc miễn giảm học phí khi tham gia
học văn hóa hay học nghề; tài trợ giá thông qua tín dụng ưu đãi
Cần phải liên tục phát triển các phương thức BTXH để phù
hợp với nhu cầu cứu trợ khác nhau của các đối tượng.
1.2.4 Nâng cao chất lƣợng công tác BTXH
Mức độ hài lòng và thỏa mãn của đối tượng được thụ hưởng
cũng như hành vi thái độ phục vụ của đội ngũ cán bộ làm công tác
BTXH chính là thước đo chất lượng của công tác BTXH .
Để nâng cao chất lượng công tác BTXH thì cần phải:
- Cải tiến trình tự cung cấp từ khi xác định được đối tượng bảo
trợ đến các đối tượng thụ hưởng phải nhanh gọn, kịp thời, đúng đối
tượng, đảm bảo tính công bằng và minh bạch. Đồng thời tạo cho
người thụ hưởng có cơ hội trong việc lựa chọn phương thức phù hợp
với nhu cầu sử dụng của mình.
- Áp dụng các tiêu chuẩn nghiệp vụ dành cho cán bộ chức
năng để nâng cao năng lực, trình độ trong công tác thực thi chính
sách phục vụ đối tượng BTXH.
- Tăng cường quan tâm, đầu tư, nâng cấp các cơ sở bảo trợ,
nhà ở xã hội đáp ứng nhu cầu cần thiết của các đối tượng BTXH.
1.2.5 Mở rộng mạng lƣới công tác BTXH
Mạng lưới công tác BTXH là các điểm, cơ sở cung cấp các
dịch vụ, các nguồn trợ ,… cho các đối tượng được bảo trợ.

kinh doanh .Thu hút nguồn viện trợ từ nước ngoài.
1.3 NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN CÔNG TÁC BTXH
1.3.1 Nhân tố phi kinh tế tác động đến công tác BTXH
- Nhân tố chính trị có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động của hệ
thống an sinh xã hội, trong đó có hoạt động BTXH. Hệ thống chính
trị sẽ quyết định quan điểm và định hướng phát triển của công tác
BTXH.
- Nhân tố nhận thức, văn hóa – xã hội quyết định đến các giải
pháp, biện pháp và các công cụ phù hợp để đưa chính sách vào cuộc
sống.


8
- Bên cạnh đó, sự phát triển của mạng lưới BTXH; sự năng
nổ, nhiệt tình và năng lực của đội ngũ cán bộ làm công tác BTXH
cũng có tác động và ảnh hưởng nhất định đến hoạt động BTXH.
1.3.2 Nhân tố kinh tế tác động đến công tác BTXH
- Một quốc gia có nền kinh tế phát triển thì sẽ phát triển sâu
rộng, đầy đủ các chính sách BTXH.
- Khi đối tượng BTXH hòa nhập cuộc sống cộng đồng, tạo ra
được thu nhập, đóng góp một phần vào sự tăng trưởng kinh tế và làm
giảm chi ngân sách Nhà nước cho các đối tượng.
- Kinh tế tăng trưởng, thu nhập của người dân tăng lên sẽ ảnh
hưởng tích cực đến hoạt động BTXH.
- Tình trạng ngân sách quốc gia cũng có ảnh hưởng nhất định
đến việc thiết kế, hoạch định các chính sách BTXH của quốc gia
trong từng thời kỳ.


9



10
Điện Bàn là vùng kinh tế năng động Bắc Quảng Nam.
Trong giai đoạn từ năm 2012 đến năm 2016, giá trị sản xuất
Công nghiệp – Xây dựng chiếm tỷ trọng cao nhất, cơ cấu các ngành
kinh tế tại thị xã đã có sự chuyển dịch từ nông lâm thủy sản sang
công nghiệp – xây dựng và thương mại dịch vụ tuy nhiên sự chuyển
dịch này diễn ra chưa mạnh mẽ.
Nhìn chung, nền kinh tế của thị xã tăng trưởng khá. Cơ cấu
nền kinh tế chuyển dịch tích cực theo hướng tăng dần tỷ trọng giá trị
thương mại dịch vụ; sản xuất công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp tiếp
tục phục hồi phát triển; thương mại – dịch vụ phát triển khá; nông
nghiệp cơ bản ổn định. Từ việc tổng chi ngân sách cao hơn tổng thu
ngân sách trong giai năm 2012-2015, đến năm 2016 thì tổng thu
ngân sách đã đảm bảo được cho tổng chi ngân sách.
2.2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC BTXH TRÊN THỊ XÃ ĐIỆN
BÀN, TỈNH QUẢNG NAM
2.2.1 Đối tƣợng đƣợc thụ hƣởng chính sách BTXH
a. Đối tượng BTXH được trợ cấp thường xuyên
Từ năm 2012 đến năm 2014 áp dụng nghị định 67/2007/NĐ-CP
ngày 13/ 4/2007 từ năm 2015 đến năm 2016 áp dụng nghị định
136/2013/NĐ-CP ngày 21/10/2013 quy định chính sách TGXH đối
với đối tượng BTXH.
Số lượng đối tượng BTXH và số lượng trong từng nhóm đối
tượng hàng năm đều có xu hướng tăng. Trong các nhóm đối tượng,
có thể thấy nhóm đối tượng người cao tuổi chiếm số lượng lớn nhất,
thấp nhất là nhóm đối tượng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn
Tuy nhiên tỷ lệ đối tượng BTXH so với tổng dân số trên địa bàn
vẫn còn thấp, chỉ đạt khoảng từ 5,52% đến 7,24% trong giai đoạn


Năm

Năm

Năm

2012

2013

2014

2015

2016

369

401

282

288

302

6.943

7.102


11.912

14.485

15.069

(Nguồn: Phòng Lao động Thương binh - xã hội thị xã Điện Bàn)
b. Thực trạng về đối tượng BTXH được cứu trợ đột xuất
Mỗi năm, thị xã Điện Bàn hỗ trợ cho hàng nghìn trường hợp
thiếu đói, nhiều nhất là năm 2016 với 14.590 người, năm 2012 với
13.495 người bị đói do thiếu lương thực.
Trong các năm từ 2012 đến năm 2016 thì mỗi năm chỉ có 1
trường hợp người chết do thiên tai hoặc 1 trường hợp nhà cháy, trôi,
hỏng,.. được trợ giúp.
Như vậy, công tác TGĐX tại địa phương chỉ mới tập trung vào
các đối tượng đói do thiếu lương thực mà chưa có sự quan tâm đúng
đắn đối với các nhóm đối tượng còn lại.
2.2.2 Mức BTXH
Mức trợ cấp cụ thể cho các nhóm đối tượng đã được thiết kế
theo 05 mức khác nhau từ 1,0 đến 3,0 lần mức chuẩn trợ cấp. Thực


12
trạng nguồn kinh phí BTXH chi cho đối tượng được hưởng trợ cấp ở
thị xã Điện Bàn giai đoạn năm 2012 -2016 được thể hiện cụ thể qua
bảng sau:
Bảng 2.2. Thực trạng nguồn kinh phí BTXH chi cho đối
tƣợng đƣợc hƣởng trợ cấp ở thị xã Điện Bàn giai đoạn năm 2012
-2016


32.073

32.878,5

45.118

48.400,4

(Nguồn: Phòng Lao động, thương binh – xã hội thị xã Điện Bàn)

Nhìn chung, nguồn BTXH được chi cho các nhóm đối tượng
được thụ hưởng trợ cấp ở thị xã Điện Bàn đều tăng qua các năm.
Nguồn kinh phí chi trợ giúp thường xuyên có xu hướng ngày
càng tăng, tuy nhiên nguồn kinh phí chi cho trợ giúp đột xuất thì tăng
giảm không đều do nguồn kinh phí chi cho các đối tượng này phụ
thuộc vào tình hình thiên tai, bão lũ,…trong năm tại địa phương.
Đối với đối tượng người cao tuổi từ đủ 80 tuổi trở lên thuộc
nhóm đối tượng hưởng trợ cấp thường xuyên thì mức trợ cấp còn cào
bằng, chưa phân biệt đối tượng thuộc diện nghèo đói hay khá giả.
Dự kiến trong những năm tiếp theo, do tác động của biến đổi
khí hậu, nhiều bão lũ, tình trạng hạn hán kéo dài sẽ làm tăng nguồn
kinh phí cho cứu trợ đột xuất.
Hiện nay, ngoài mức trợ cấp theo quy định dựa vào nguồn
ngân sách hàng năm thì thị xã Điện Bàn chưa thực hiện được việc
tăng mức trợ cấp bằng các nguồn huy động được để hổ trợ cho các
đối tượng được thụ hưởng BTXH.


13

Đối tượng được vay
vốn (Người)
Số tiền (Triệu đồng)

Năm
2012

Năm
2013

Năm
2014

Năm
2015

Năm
2016

351

398

405

439

466

10.525

Một số văn bản của trung ương ban hành và đã có hiệu lực thi
hành, tuy nhiên văn bản hướng dẫn triển khai thực hiện thì chưa kịp
thời nên gây khó khăn cho địa phương, cơ sở.
Cán bộ xã, phường có chế độ còn thấp và năng lực chuyên
môn về công tác BTXH chưa cao dẫn đến chất lượng phục vụ chưa
được đảm bảo.
Về chính sách trợ giúp giáo dục đã đạt được hiệu quả lớn, khi
tính đến năm 2016 thì trên địa bàn thị xã không có trường hợp đối
tượng BTXH trong độ tuổi học phổ thông bỏ học. Đồng thời, trong
thời gian qua thị xã cũng thường xuyên tổ chức các lớp dạy nghề như
may, thêu, làm tăm, đũa ăn, làm chổi, nghề xoa bóp,… cho các trẻ
em tàn tật, người mù.


15
Về chính sách trợ giúp y tế, tuy số lượng đối tượng được cấp
thẻ BHYT tăng nhưng tỷ lệ đối tượng được cấp thẻ bảo hiểm trên tổng
số đối tượng BTXH chưa cao, số đối tượng BTXH được cấp thẻ
BHYT chưa bao trùm hết tổng số đối tượng BTXH. Các năm 2012,
2013, 2015, 2016 tỷ lệ đối tượng đước cấp thẻ BHYT đạt tỷ lệ từ
63% đến 73%, riêng năm 2014 chỉ đạt 45%.
2.2.5 Mạng lƣới công tác BTXH
Hiện nay trên toàn địa bàn thị xã chỉ có 02 trung tâm nuôi
dưỡng trẻ em mồ côi bị khuyết tật đã được đầu tư xây dựng từ nhiều
năm, chất lượng đến nay đã thấp. Chưa có trung tâm BTXH hay nhà
ở xã hội cho người già neo đơn, người khuyết tật không phải là trẻ
em mồ côi, trẻ em mồ côi nhưng không khuyết tật, người bị nhiễm
HIV/AIDS.
Mặt khác, trong những năm gần đây địa phương cũng chưa
huy động được hệ thống nhà ở, mái ấm tình thương, trung tâm xã hội

TT
1
2
3
4

Từ ngân sách Trung
Ương
Từ ngân sách huyện

Năm

Năm

Năm

Năm

Năm

2012

2013

2014

2015

2016


4,2

3,8

5,6

4,6

5,4

34,3

34,5

38,6

49,8

53,3

(Nguồn: Phòng Lao động Thương binh - xã hội thị xã Điện Bàn)

Bảng số liệu trên cho thấy, năm 2012 tổng kinh phí từ các
nguồn hỗ trợ cho các đối tượng là 34,3 tỷ đồng đến năm 2016 tăng
lên 53,3 tỷ đồng, tăng 55,4% so với năm 2012.
Công tác huy động nguồn BTXH từ các tổ chức kinh tế, chính
trị, xã hội; các nguồn viện trợ của các tổ chức phi chính phủ tại thị xã
Điện Bàn chưa được triển khai thực hiện tốt.



mang tính phong trào, thời điểm, chưa trở thành việc thường xuyên.


18
CHƢƠNG 3
GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC BTXH TRÊN ĐỊA
BÀN THỊ XÃ ĐIỆN BÀN, TỈNH QUẢNG NAM
3.1 CĂN CỨ ĐỂ XÂY DỰNG GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN
CÔNG TÁC BTXH
3.1.1 Chủ trƣơng của Đảng và Nhà nƣớc về công tác
BTXH
Từ nhiều năm qua, đặc biệt là từ khi thực hiện đường lối đổi
mới (năm 1986) đến nay, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm xây
dựng và tổ chức thực hiện các chính sách an sinh xã hội, coi đây vừa
là mục tiêu, vừa là động lực để ổn định chính trị - xã hội, phát triển
bền vững. Bảo đảm an sinh xã hội là điều kiện để bảo đảm định
hướng xã hội chủ nghĩa cho sự phát triển của nền kinh tế thị trường,
phản ánh bản chất tốt đẹp của chế độ ta.
Có thể thấy, bảo đảm an sinh xã hội đã trở thành vấn đề trung
tâm trong chiến lược phát triển đất nước, việc chăm lo, nâng cao đời
sống vật chất và tinh thần của dân là mục tiêu cao nhất của sự nghiệp
xây dựng xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Mục tiêu hiện nay là phấn đấu
đến năm 2020 hệ thống an sinh xã hội sẽ bao phủ hết toàn dân.
3.1.2 Chiến lƣợc phát triển kinh tế-xã hội Điện Bàn trong thời
gian tới
Vấn đề an sinh xã hội trên địa bàn thị xã định hướng theo
chiến lược nâng cao đời sống tinh thần và vật chất cho người dân,
thực hiện tốt chính sách an sinh xã hội; bên cạnh đó, thực hiện đa
dạng hóa các loại hình trợ giúp, CTXH. Khuyến khích triển khai đẩy
mạnh công tác xã hội hóa hỗ trợ, giúp đỡ các đối tượng BTXH tại

- Trong dài hạn, khi kinh tế của thị xã phát triển, nguồn BTXH
được tăng lên, có thể thực hiện loại bỏ những điều kiện liên quan đến
gia đình (hộ nghèo hay không nghèo), chỉ quan tâm đến điều kiện cá
nhân để thực hiện trợ giúp.
- Bên cạnh đó cần bổ sung thêm các đối tượng TGTX phù hợp
với yêu cầu của thực tiễn như hộ nông dân mất tư liệu sản xuất do đô
thị hóa, công nghiệp hóa nhưng do trình độ chuyên môn hạn chế nên


20
không thể đào tạo chuyển đổi ngành nghề được,…
- Đối với trường hợp trẻ em bị cha mẹ bỏ rơi, đang sống cùng
ông bà nội (ngoại) là người cao tuổi; các trường hợp nghèo kinh niên
và không có khả năng thoát nghèo cũng đang gặp rất nhiều khó khăn
trong cuộc sống cần được bổ sung vào đối tượng TGTX.
- Cần xem xét mở rộng đối tượng được hưởng TGĐX cho
những đối tượng là nạn nhân của bạo lực gia đình, nạn nhân của việc
buôn bán phụ nữ trẻ em, nạn nhân bị xâm hại tình dục, nạn nhân bị
cưỡng bức lao động
- Sau mỗi thời điểm xảy ra thiên tai, lũ lụt,… cần tổ chức tổng
kiểm tra, rà soát, phân loại các đối tượng TGĐX, đảm bảo không để
xót hoặc xác định không đúng đối tượng được hưởng trợ giúp.
- Cần có những tiêu chí mới để xác định đối tượng BTXH cho
những nhóm đối tượng có thể phát sinh trong tương lai gần.
3.2.2 Tăng mức BTXH
- Căn cứ vào chỉ tiêu mức sống tối thiểu của người dân hàng
năm, quy định về chuẩn nghèo theo tiêu chí thu nhập; tiếp tục hoàn
thiện, phát triển những nguyên tắc trước đây để xây dựng lại hệ số
xác định mức trợ cấp đối với từng nhóm đối tượng cụ thể.
- Đối với nhóm đối tượng là người cao tuổi đủ 80 tuổi trở lên,

Bên cạnh đó, hiện nay chính sách tài trợ thông qua giá cho các
đối tượng BTXH như miễn giảm khám chữa bệnh, giáo dục đào tạo,
đào tạo nghề làm cho họ khó có cơ hội tiếp cận các dịch vụ các chất
lượng cao; do đó cần nghiên cứu để thay thế chính sách tài trợ thông
qua giá bằng hình thức tiền mặt.
Đồng thời để có thể mở rộng phương thức bảo trợ một cách
hiệu quả nhất cần huy động nguồn lực từ cộng đồng, từ đó sẽ có
thêm những phương thức đa dạng, phong phú hơn để thực hiện công
tác BTXH
3.2.4 Nâng cao chất lƣợng công tác BTXH
a. Tăng cường năng lực cán bộ và bộ máy thực hiện công
tác BTXH
- Tăng cường số lượng cán bộ chuyên trách ở các cấp làm
công tác BTXH. Áp dụng các tiêu chuẩn nghiệp vụ viên chức đối với


22
các cán bộ thực hiện công tác BTXH.
- Tăng cường các lớp đào tạo ngắn hạn như tập huấn, hội thảo
theo chuyên đề, tập huấn triển khai thực hiện chính sách,…
- Hội đồng xét duyệt trợ cấp xã hội của xã, phường phải đầy
đủ các thành phần.
- Hoàn thiện các văn bản hướng dẫn thi hành luật, chính sách,
các văn bản chỉ đạo theo hướng cụ thể, dễ hiểu.
b. Đổi mới, hoàn thiện trình tự, thủ tục ra quyết định chính
sách theo hướng giảm giấy tờ, rút ngắn thời gian thực hiện
Rút ngắn trình tự, thời gian và thủ tục ra các quyết định chính
sách sau khi xác định là đối tượng được hưởng chính sách xã hội.
Đối với những trường hợp điều chỉnh chính sách hoặc thôi
hưởng chính sách cũng cần được rút gọn quy trình.

lưới nhân viên xã hội, cộng tác viên công tác xã hôi, cán bộ chuyên
trách BTXH nhằm giúp các đối tượng tiếp cận với chính sách CTXH
dễ dàng, thuận lợi, nhanh chóng. Đồng thời đội ngũ này sẽ giúp tham
vấn cho các cơ quan chức năng có được những vấn đề phát sinh
trong công tác BTXH.
3.2.6 Tăng cƣờng huy động nguồn BTXH
- Điều tiết kinh phí từ ngân sách địa phương, nâng định mức
phân bổ chi đảm bảo xã hội dựa trên tình hình phát triển kinh tế xã
hội của địa phương cũng như của đất nước. Cần xem xét, phân bổ
hợp lý chi cho bảo đảm xã hội so với các khoản chi khác như an ninh
– quốc phòng, văn hóa thể thao,…
- Xã hội hóa nguồn lực thực hiện công tác BTXH. Cùng với
việc thực hiện công tác BTXH từ nguồn Ngân sách nhà nước, cần có
sự tài trợ của các tổ chức phi lợi nhuận, nguồn huy động đóng góp từ
các cá nhân, tổ chức kinh tế, chính trị, đoàn thể…Tăng cường các hoạt
động, chương trình vận động, thu hút sự đóng góp của cộng đồng.
- Thành lập các quỹ cứu trợ thống nhất tại địa phương để có thể
tập trung , khuyến khích các nguồn đóng góp tự nguyện của các tổ
chức, cá nhân và có điều kiện để có thể tổ chức thực hiện thống nhất,
bảo đảm cho quỹ này được chi đúng mục đích, đạt hiệu quả cao nhất.
- Nghiên cứu và áp dụng rộng rãi hơn mô hình “chăm sóc thay
thế”, các cá nhân, hộ gia đình có điều kiện sẽ tự nguyện nhận chăm



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status