ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
ĐỖ THỊ MAI
TRUYỀN THUYẾT VỀ TỨ PHÁP VÀ LỄ HỘI CẦU
MƯA
Ở HƯNG YÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGÔN NGỮ, VĂN HÓA VÀ VĂN HỌC VIỆT NAM
Thái Nguyên – 2018
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
ĐỖ THỊ MAI
TRUYỀN THUYẾT VỀ TỨ PHÁP VÀ LỄ HỘI CẦU
MƯA
Ở HƯNG YÊN
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 8220121
LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGÔN NGỮ, VĂN HÓA VÀ VĂN HỌC VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS Nguyễn Hằng Phương
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ............................................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài ............................................................................................................... 1
2. Lịch sử vấn đề .................................................................................................................... 2
2.1. Lịch sử nghiên cứu truyền thuyết về Tứ pháp ở Hưng Yên .......................................... 2
2.2. Lịch sử nghiên cứu lễ hội cầu mưa ................................................................................. 4
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ..................................................................................... 5
3.1. Đối tượng nghiên cứu .................................................................................................... 5
3.2. Phạm vi nghiên cứu ........................................................................................................ 6
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ..................................................................................... 6
4.1. Mục đích nghiên cứu ....................................................................................................... 6
4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu ...................................................................................................... 7
5. Phương pháp nghiên cứu: .................................................................................................. 7
6. Đóng góp của luận văn ...................................................................................................... 8
7. Cấu trúc của luận văn......................................................................................................... 8
NỘI DUNG ............................................................................................................................ 9
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VÙNG ĐẤT HƯNG YÊN VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ
LUẬN VỀ TRUYỀN THUYẾT, LỄ HỘI .......................................................................... 9
1.1. Một số vấn đề lý luận về truyền thuyết và lễ hội ............................................................ 9
1.1.1. Truyền thuyết ............................................................................................................... 9
1.1.2. Lễ hội ......................................................................................................................... 11
1.2. Tục thờ Tứ pháp của người Việt ................................................................................... 15
1.3. Điều kiện tự nhiên, văn hóa, xã hội của tỉnh Hưng Yên ............................................... 18
1.4. Truyền thuyết và lễ hội ở Hưng Yên ............................................................................ 23
1.4.1.Truyền thuyết ở Hưng Yên .......................................................................................... 23
1.4.2. Lễ hội ở Hưng Yên ..................................................................................................... 24
CHƯƠNG 2: TRUYỀN THUYẾT VỀ TỨ PHÁP Ở HƯNG YÊN ............................... 28
2.1. Tổng quan truyền thuyết về Tứ pháp ở Hưng Yên ....................................................... 29
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Kho tàng văn học dân gian là nơi lưu giữ và bảo tồn những giá trị bản sắc
văn hóa của dân tộc. Bởi vậy, nghiên cứu văn học dân gian ở bất cứ dân tộc
nào cũng luôn chiếm một vị trí quan trọng. Trong kho tàng văn học dân gian
thì truyền thuyết lại là một thể loại đặc biệt. Bởi những truyền thuyết dân gian
thường có một cái lõi là sự thật lịch sử mà nhân dân truyền qua nhiều thế hệ đã
lý tưởng hóa gửi gắm vào đó tâm tình tha thiết của mình cùng với thơ và mộng,
chắp đôi cánh của sức tưởng tượng và nghệ thuật dân gian làm nên những tác
phẩm văn học mà đời đời con người ưa thích. Nhưng không chỉ dừng lại ở lịch
sử, nghiên cứu truyền thuyết chúng ta còn thấy mối quan hệ chặt chẽ giữa
truyền thuyết và văn hóa đặc biệt là lễ hội.
1.2. Tín ngưỡng thờ Tứ pháp là tín ngưỡng bản địa của nước ta mang đậm màu
sắc của nền văn minh lúa nước kết hợp với Phật giáo du nhập từ Ấn Độ, tồn tại
phổ biến, rộng rãi ở Đồng bằng Bắc bộ. Đây là một trong những hình thái tín
ngưỡng thờ thần nông nghiệp cổ sơ khi mà đời sống nông nghiệp lệ thuộc hoàn
toàn vào thiên nhiên. Họ cầu mưa thuận gió hòa, cho cây cối tốt tươi mùa màng
bội thu. Chính vì vậy, Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện lần lượt được
ra đời để thỏa mãn nhu cầu tâm linh của con người lúc bấy giờ. Tìm hiểu truyền
thuyết về Tứ pháp là con đường tìm về với những tín ngưỡng bản địa trong xu
thế hội nhập với Đạo Phật. Hơn thế truyền thuyết cũng là cây cầu để khám phá
và lý giải những giá trị sâu sắc của lễ hội dân gian nói chung và lễ hội cầu mưa
nói riêng.
1.3. Mảnh đất Hưng Yên nơi không chỉ tự hào với Thứ nhất kinh kì thứ nhi Phố
Hiến mà còn là cái nôi hình thành và nuôi dưỡng những giá trị văn hóa đặc
trưng của vùng Đồng bằng Bắc bộ. Một phần lãnh thổ của Hưng Yên xưa kia
thuộc trấn Kinh Bắc- trung tâm Phật giáo hàng đầu của cả nước, chính vì vậy
3
biểu như: Nguyễn Văn Huyên (1995), Góp phần nghiên cứu văn hóa Việt Nam;
Võ Thị Hoàng Lan, Về tục thờ Tứ pháp của người Việt (2012) - Tạp chí Di sản
văn hóa, số 2(39); Nguyễn Minh San (1998), Tiếp cận tín ngưỡng dân dã Việt
Nam, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội; Nguyễn Mạnh Cường (2000), Chùa Dâu
– Tứ Pháp và hệ thống các chùa Tứ pháp, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội;
Nguyễn Đăng Duy (2001), Văn hóa tâm Linh, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội;
Ngô Đức Thịnh, Trương Chí Long (2013), Văn hóa thờ nữ thần – Mẫu ở Việt
Nam và Châu Á bản sắc và giá trị, Nxb Thế giới; …
Ngoài ra, tín ngưỡng thờ Tứ pháp còn thấy được đề cập nhiều trên các tạp
chí, báo mạng điện tử, nghiên cứu như: Tục thờ Tứ pháp – một hình thức tín
ngưỡng nông nghiệp cầu mưa, cầu tạnh của Lê Thị Kim Loan đăng trên Thông
báo Khoa học Đại học Văn Hóa, tập 3 – 1999; Tín ngưỡng thờ Tứ pháp tại đồng
bằng Bắc bộ của Trần Lan Chi đăng trên phapluanonline (tập san pháp luận số
09 ngày 05tháng 11 năm 2009); Luy Lâu và Tứ pháp – Mây Mưa Sấm Chớp” của
Phan Cẩm Thượng đăng trên tạp chí Tia Sáng (số 10/ 2013)…
Các công trình nghiên cứu trên đều chủ yếu đi sâu phân tích nguồn gốc,
các nghi lễ phụng thờ Tứ pháp. Các công trình nghiên cứu tập trung vào việc
sưu tầm, nghiên cứu về hệ thống các truyền thuyết về Tứ pháp ở khu vực Bắc
Ninh. Còn việc nghiên cứu truyền thuyết về Tứ pháp ở Hưng Yên như một đối
tượng nghiên cứu độc lập vẫn chưa được nhiều nhà nghiên cứu khai thác. Đáng
kể nhất cho đến nay là khóa luận “Việc phụng thờ Tứ pháp ở Văn Lâm Hưng
Yên trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa”(2014) của sinh viên Lê Thị
Thủy, trường Đại học Văn hóa - Hà Nội. Ở công trình này, tác giả đã lý giải
nguồn gốc của tín ngưỡng thờ Tứ pháp ở Văn Lâm- Hưng Yên; nghiên cứu
thực trạng của tín ngưỡng phụng thờ Tứ pháp ở Văn Lâm trong bối cảnh hiện
nay đồng thời cũng nghiên cứu sự vận động và ý nghĩa của tín ngưỡng này
độc đáo trong tín ngưỡng tôn sùng tự nhiên của cộng đồng dân của cộng đồng
dân tộc Việt (Sùng A Cải- Lieenketviet.net ngày 15 tháng 5 năm 2016)…
Ở Hưng Yên với ảnh hưởng của các truyền thuyết về Tứ pháp kết hợp
với tâm thức của những cư dân nông nghiệp trở thành mảnh đất mầu mỡ để
5
hình thành và phát triển lễ hội cầu mưa. Trong những năm gần đây nghi lễ cầu
mưa đã và đang được phục dựng lại một cách quy mô tại nhiều địa phương,
đặc biệt là khu vực phía Bắc của tỉnh. Cũng từ đó nghiên cứu lễ hội cầu mưa ở
Hưng Yên trở thành đề tài của các bài báo, luận văn, báo cáo.
Tiêu biểu là luận án tiến sĩ Lễ hội cổ truyền ở Hưng Yên sự biến đổi hiện
nay, của tác giả Hoàng Mạnh Thắng ( 2012). Đóng góp của công trình là đã hệ
thống, phân loại được hầu hết các lễ hội cổ truyền của Hưng Yên. Riêng về lễ
hội liên quan đến Tứ pháp, công trình đã nêu được nguồn gốc và mô tả đặc
điểm, ý nghĩa của lễ hội trong bối cảnh hiện nay. Tuy nhiên, mối quan hệ giữa
truyền thuyết về Tứ pháp và lễ hội cầu mưa lại chưa được tác giả đề cập đến
một cách cụ thể.
Bên cạnh đó là bài báo: Độc đáo lễ hội cầu mưa ở Văn Lâm (Hương
Giang Báo Hưng Yên điện tử ngày 12/04/2013); Tục thờ Tứ pháp và lễ hội cầu
mưa (Minh Hiếu, Đời sống văn hóa tín ngưỡng và tôn giáo- Báo điện tử)…Các
bài báo và công trình nghiên cứu trên đều đi sâu vào tìm hiểu về tín ngưỡng thờ
Tứ pháp và mô tả lễ hội cầu mưa dưới góc nhìn văn hóa, chưa có công trình
nào nghiên cứu về mối quan hệ giữa lễ hội cầu mưa đặt trong mối quan hệ với
truyền thuyết về Tứ pháp. Vậy nghiên cứu lễ hội cầu mưa ở Hưng Yên đặt trong
mối quan hệ với hệ thống truyền thuyết của địa phương sẽ là một hướng nghiên
cứu mới mẻ để góp thêm tiếng nói khẳng định giá trị của những nét văn hóa
đặc sắc của tỉnh Hưng Yên.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
giá trị văn hóa tốt đẹp trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
7
4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài Truyền thuyết về Tứ pháp và lễ hội cầu mưa ở Hưng Yên tập
trung làm giải quyết một số vấn đề sau:
- Nghiên cứu những vấn đề về cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn của đề tài như:
Các khái niệm truyền thuyết, lễ hội; các vấn đề thực tiễn về mảnh đất Hưng Yên
làm cơ sở cho đề tài như lịch sử, địa lý, văn hóa. Lý giải được nguồn gốc, ý nghĩa
của truyền thuyết về Tứ pháp và lễ hội cầu mưa ở Hưng Yên.
- Tập hợp, sưu tầm, khảo sát các truyền thuyết về Tứ pháp ở Hưng Yên
trên hai phương diện nội dung và nghệ thuật.
- Khảo sát, mô tả các lễ hội ở Hưng Yên có liên quan đến truyền thuyết
về Tứ pháp.
- Tìm hiểu mối quan hệ giữa truyền thuyết và lễ hội về Tứ pháp ở Hưng Yên.
5. Phương pháp nghiên cứu:
Để tiến hành nghiên cứu thực hiện đề tài Truyền thuyết về Tứ pháp và
lễ hội cầu mưa ở Hưng Yên, chúng tôi phối hợp vận dụng các phương pháp
nghiên cứu như:
- Phương pháp điền dã: phương pháp này được chúng tôi sử dụng trong
quá trình sưu tầm hệ thống truyền thuyết trong dân gian và khảo sát các lễ hội
cầu mưa ở các địa phương trên địa bàn tỉnh Hưng Yên.
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Đề tài sử dụng nhằm phân tích
các tài liệu lý luận về truyền thuyết, về lễ hội, phân tích mối quan hệ giữa truyền
thuyết và lễ hội. Từ đó tổng hợp các vấn đề nghiên cứu để đưa ra đánh giá, kết
luận về đối tượng nghiên cứu.
- Phương pháp nghiên cứu so sánh: phương pháp này chúng tôi sử dụng
để so sánh đặc điểm về truyền thuyết về Tứ pháp và lễ hội cầu mưa với truyền
9
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VÙNG ĐẤT HƯNG YÊN VÀ MỘT SỐ
VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRUYỀN THUYẾT, LỄ HỘI
1.1. Một số vấn đề lý luận về truyền thuyết và lễ hội
1.1.1. Truyền thuyết
Các nhà folklore quan niệm truyền thuyết là một thể loại riêng biệt là
những truyện ngắn kể về những sự kiện trong quá khứ như: những sự kiện lịch
sử; những nhân vật lịch sử; những địa danh, những công trình văn hóa, danh
thắng; những hiện tượng thiên nhiên như: Sấm chớp, bão lụt….những câu
chuyện nêu trên không cần đảm tính chính xác về mặt lịch sử nhưng có cốt lõi
lịch sử trong đó. Với đặc điểm đó, truyền thuyết dân gian luôn tạo cho mình
một sức hấp dẫn đặc biệt so với các thể loại văn học dân gian khác.
Ở Việt Nam truyền thuyết đã xuất hiện, tồn tại và phát triển như là sự
thay thế, sự hóa thân của thể loại sử thi dân tộc. Việc nghiên cứu về truyền
thuyết đã được rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, chỉ riêng khái niệm về
truyền thuyết cũng có rất nhiều kiến được đưa ra như:
Các tác giả nhóm Lê Qúy Đôn từ những năm 50 của thế kỷ XX, trong
Lược thảo lịch sử văn học Việt Nam, đã định nghĩa truyền thuyết như sau:
“Truyền thuyết là tất cả những truyện lưu hành trong dân gian có thật xảy ra
hay không thì không có gì đảm bảo. Như vậy có những truyền thuyết lịch sử,
mà có những truyền thuyết khác, hoặc dính dáng về một đặc điểm địa lí, hoặc
kể lại một gốc tích sự vật gì, hoặc giải thích những phong tục tập quán, hoặc
nói về sự tích các nghề nghiệp và tất cả những chuyện kỳ lạ khác”[10; 60]
Còn trong công trình Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam, Nguyễn Đổng
Chi lại định nghĩa: “Truyền thuyết là những truyện lịch sử và truyện lịch sử chỉ
có thể có khi con người đã có ý thức về lịch sử của mình”[4].
cứu.
11
Như vậy qua các khái niệm truyền thuyết của các tác giả khác nhau đều
nhắc tới những đặc trưng cơ bản của thể loại truyền thuyết đó là: có gắn bó chặt
chẽ với cốt lõi lịch sử, nhân vật lịch sử, sự kiện lịch sử nhất định, được nhìn
nhận qua lăng kính của nhân dân với sự hư cấu, kỳ ảo. Nó chính là một thể loại
kết hợp hài hòa giữa văn và sử. Đặc trưng này chính là một dấu hiệu quan trọng
để giúp ta phân biệt giữa truyền thuyết với các thể loại truyện dân gian khác,
đồng thời cũng làm nên nét độc đáo của thể loại truyền thuyết.
Thông qua hệ thống truyền thuyết dân gian của Việt Nam, các tác giả
dân gian đã tái hiện chân dung đời sống tinh thần của dân tộc. Đó là sự lý giải
đầy tự hào về sự hình thành về nòi giống của dân tộc; tái hiện quá trình chinh
phục thiên nhiên, xây dựng nền văn hiến; thể hiện lòng tự hào, ngưỡng mộ với
các danh nhân văn hóa; ngợi ca nhân dân trong cuộc đấu tranh chống quân xâm
lược…
Về việc phân loại truyền thuyết các nhà folklore thế giới có nhiều cách
phân loại, người chia làm 4 loại như cách chia của hội nghiên cứu văn học tự
sự dân gian quốc tế: truyền thuyết khởi nguyên; truyền thuyết lịch sử; truyền
thuyết thần thoại; truyền thuyết tôn giáo.
Ở Việt Nam năm 1990, Lê Chí Quế trong Giáo trình văn học dân gian
Việt Nam đã chia truyền thuyết làm 3 loại: truyền thuyết lịch sử; truyền thuyết
anh hùng; truyền thuyết về các danh nhân văn hóa.
1.1.2. Lễ hội
Bên cạnh vai trò phán ánh lịch sử một cách độc đáo, truyền thuyết còn
có mỗi quan hệ đặc biệt với nghi lễ, hội lễ. Các nhân vật trong truyền thuyết là
những anh hùng dân tộc hay những danh nhân văn hóa được tái hiện bằng tình
cảm yêu mến và cảm phục của nhân dân. Họ đã bước ra khỏi những câu chuyện
đồng, tất cả đều nhằm thỏa mãn nhu cầu về đời sống tinh thần, tâm linh của
con người”[4].
13
Trong cuốn Từ điển hội lễ Việt Nam, tác giả Bùi Thiết cho rằng: “Hội lễ
là cách gọi cô đọng nhằm để chỉ toàn bộ các hoạt động tinh thần, phản ánh
những tập tục, vật hiến tế, lễ nghi dâng cúng, những hội hè đình đám của một
cộng đồng làng xã nhất định”[47;2].
Trong cuốn “Lễ hội cổ truyền” – Phan Đăng Nhật cho rằng “Lễ hội là một
kho lịch sử khổng lồ, ở đó tích tụ vố số những phong tục, tín ngưỡng, văn hóa,
nghệ thuật và cả các sự kiện xã hội – lịch sử quan trọng của dân tộc...lễ hội
còn là nơi bảo tồn, tích tụ văn hóa (theo nghĩa rộng) của nhiều thời kỳ lịch sử
trong quá khứ dồn nén lại cho tương lai”[33;53].
Từ những khái niệm như trên có thể thấy lễ hội bao gồm 2 phần chính:
phần lễ và phần hội, luôn đan xen, gắn liền, không tách rời, trong đó:
Lễ là hệ thống các hành vi, động tác nhằm biểu hiện lòng tôn kính của con
người đối với thần linh, phản ánh những ước mơ chính đáng của con người trước
cuộc sống mà bản thân họ chưa có khả năng thực hiện. Lễ xuất phát từ quan niệm
vạn vật hữu linh. Con người thực hiện phần lễ để thể hiện niềm tin vào những
lực lượng siêu nhiên, thể hiện niềm mong ước có một cuộc sống tốt đẹp, mùa
màng bội thu, nhân khang, vật thịnh, quốc thái, dân an.
“Hội là sự tập hợp đông người để thực hành diễn xướng, trình diễn các
phong tục, tín ngưỡng, các hình thức văn hóa, tôn giáo, nghệ thuật, các sinh
hoạt tinh thần xã hội”(Dẫn theo http://ajc.edu.vn/Nghien-cuu-khoa-hoc/Giatri-lich-su-truyen-thong-van-hoa-cua-le-hoi/19727.ajc). Sau những nghi lễ
trang nghiêm, việc tham gia vào những sinh hoạt cộng đồng này lại là lúc con
người được nghỉ ngơi, thư giãn nhằm thỏa mãn những nhu cầu về mặt tinh thần
của quần chúng.
Nguồn gốc hình thành lễ hội truyền thống của nước ta thường được lý
sớm, nhưng có phần mờ nhạt của Bà la môn giáo, Phật giáo từ Ấn Độ thì Phật
giáo đại thừa qua con đường Trung Quốc thâm nhập vào nước ta hoà quyện với
các tín ngưỡng dân gian tạo nên một thứ tôn giáo – tín ngưỡng độc đáo, đó là
Phật giáo dân gian. Đạo giáo nảy sinh vào cuối thế kỉ II trong phong trào khởi
15
nghĩa ở Trung Quốc. Khi vào nước ta, Đạo giáo hoà nhập với các tín ngưỡng
dân gian như đạo Sa man, tín ngưỡng nông nghiệp, thờ tổ tiên…cũng góp phần
tạo nên sắc thái đa dạng của lễ hội dân gian ở nước ta. Nho giáo du nhập mạnh
mẽ vào nước ta từ thời nhà Hán thông qua hệ thống giáo dục và thi cử, để lại
những dấu ấn rõ rệt trong việc thờ cúng Thành hoàng, các sinh hoạt cộng đồng,
nhất là hội hè, cúng lễ.
Ba yếu tố trên lại được lưu giữ phần lớn trong các truyền thuyết dân gian.
Cũng chính bởi vậy nên có một đặc điểm ít ai có thể phủ nhận đó là phần lớn các
lễ hội đều gắn liền với những truyền thuyết, huyền tích dân gian. Lễ hội vừa là
nơi bảo tồn truyền thuyết vừa là cây cầu để truyền thuyết ăn sâu bám rễ vào đời
sống tinh thần của quần chúng. Mỗi quan hệ giữa truyền thuyết về Tứ pháp và lễ
hội cầu mưa cũng không nằm ngoài quy luật chung đó.
1.2. Tục thờ Tứ pháp của người Việt
Đầu công nguyên, Phật giáo du nhập vào nước ta trong bối cảnh bị
phong kiến Trung Quốc đô hộ (nước mất, văn hóa Đông Sơn bị tàn phá và
phải cưỡng nhận văn hóa phương Bắc). Trong điều kiện đó, Phật giáo truyền
trực tiếp từ Ấn Độ vào Việt Nam đã có một sự dung hợp kỳ diệu với các vị
thần nông nghiệp bản địa tạo nên một hệ thống tư tưởng giáo lý và thờ cúng
mang yếu tố riêng biệt. Thời gian đầu Phật giáo du nhập vào nước ta, văn
hóa bản địa đã thẩm thấu một cách nhanh chóng văn hóa Phật giáo, tiếp thu
trọn vẹn tinh thần bao dung và nhân từ truyền trực tiếp từ Ấn Độ và biến sự
dung hợp giữa hai nền văn hóa này lại thành một thứ vũ khí chống lại sự
Nhân vật thờ
Chùa
Dâu (tên chữ xã Thanh Khương, Pháp Vân
Hán là Diên Ứng, Cổ huyện Thuận Thành
(Bà Dâu)
Châu, Thiền Định)
1. Bắc Ninh
Chùa Đậu tên chữ là xã Thanh Khương, Pháp Vũ
Thành Đạo Tự
huyện Thuận Thành
(Bà Đậu)
Chùa
Tướng (chùa xã Thanh Khương, Pháp Lôi
Phi Tương) có tên chữ huyện Thuận Thành
(Bà Tướng)
là Phi Tướng Đại
Thiền Tự
17
Chùa Dàn (chùa Xuân xã Trí Quả,
Quang)
Thuận Thành
huyện Pháp Điện
Thường Tín
Pháp Vân
Chùa Thành Đạo
Xã Nguyễn Trãi, huyện
Thường Tín
Pháp Vũ
2. Hà Nội
Chùa Quế Lâm (chùa Thị trấn Quế, huyện Kim Pháp Vân.
Bến)
Bảng
3. Hà Nam
Chùa Đặng Xá
Xã Văn Xá, Huyện Kim Pháp Lôi
Bảng
Chùa Bầu
Thành phố Phủ Lý
chùa Quyển Sơn
Xã Thi Sơn, huyện Kim Tứ pháp
Bình
An
thời
Trần thì thường tồn tại kiểu thờ “Tiền Phật hậu Thánh”, Thánh được thờ sau
điện thờ Phật… Thì ngược lại, trong các ngôi chùa thờ Tứ Pháp (những vị
Thánh có nguồn gốc tự nhiên) thì hệ thống tượng thờ kiểu “Tiền Thánh hậu
Phật”, đẩy hệ thống tượng Tứ Pháp lên trên hệ thống tượng Phật. Tuy nhiên,
hiện nay, các công trình được trùng tu lại đều được bố trí theo kiểu “Tiền
Phật hậu Thánh”. Vì vậy, ta gặp hầu hết các tòa cung cấm là nơi thờ Thánh,
căn trước thượng điện mới là nơi thờ Phật. Tượng trong hệ thống Tứ Pháp đều
rất cao lớn, (tư thế ngồi thiền cao khoảng 1,5m) thường tạc ở tư thế thân thẳng,
tay phải giơ lên, tay trái để trên đùi cầm chuỗi ngọc. Các pho tượng có tóc
xoăn màu đen, nhục khảo nổi cao, tai dài, tọa trên đài sen, gương mặt đẹp với
những nét thuần Việt, đức độ. Những pho tượng tạc từ thế kỷ XVI đầu XVII
mặc áo sát người (tượng Pháp Vân, chùa Dâu), còn muộn hơn thường để mình
trần mặc váy (tượng Pháp Vân, chùa Nành). Thường các tượng Tứ Pháp sơn
màu gụ bóng (tổng hợp màu đỏ của máu và màu đen của mây đen tượng trưng
cho nguồn sống và sự huyền bí.
1.3. Điều kiện tự nhiên, văn hóa, xã hội của tỉnh Hưng Yên
Hưng Yên là một tỉnh nằm ở trung tâm Đồng bằng sông Hồng Việt Nam.
Trung tâm hành chính của tỉnh là thành phố Hưng Yên nằm cách thủ đô Hà
Nội 64 km về phía đông nam, cách thành phố Hải Dương 50 km về phía tây
19