LỄ HỘI CỔ TRUYỀN Ở PHỐ HIẾN HƯNG YÊN LUẠN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌ LICH SỬ - Pdf 11

MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Một là, sự bùng nổ của thông tin, khoa học kĩ thuật và công nghệ, lượng kiến
thức cập nhật ngày càng nhiều bên cạnh đó không thể nhồi nhét tất cả tri thức đó
cho học sinh mà phải dạy học sinh phương pháp học ngay từ các cấp học phổ thông.
Hai là, trong các phương pháp dạy học thì tốt nhất là dạy phương pháp tự
học. Nếu rèn luyện cho người học có được phương pháp, kĩ năng, tự học thì sẽ nâng
cao kết quả học tập. Ở trường phổ thông, học sinh không chỉ tự học ở nhà sau bài
lên lớp mà tự học ngay cả trong tiết học trên lớp có sự hướng dẫn của giáo viên.
Ba là, nghị quyết hội nghị lần thứ IV Ban chấp hành Trung Ương Đảng Cộng
Sản Việt Nam (Khoá VII, năm 1993) đã chỉ rõ: Về phương pháp giáo dục phải
khuyến khích tự học, phải áp dụng những phương pháp giáo dục hiện đại để bồi
dưỡng cho học sinh năng lực tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề.
Nghị quyết hội nghị lần thứ II Ban chấp hành Trung Ương Đảng Cộng Sản
Việt Nam (Khoá VIII, năm 1997) khẳng định “phải đổi mới phương pháp đào tạo,
khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người
học. Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá
trình dạy học, bảo đảm điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh”.
Bốn là, việc ứng dụng của Công nghệ thông tin-Truyền thông đặc biệt là
Internet – Website học tập phát triển rất mạnh góp phần rèn luyện khả năng tự học
cho người học, dẫn đến những thay đổi trong cả nội dung và phương pháp dạy và
học. Đây thực sự đã trở thành cầu nối giữa giáo viên và học sinh, giữa học sinh và
học sinh, các tài liệu tham khảo, các bài tập tham khảo, các đề thi, các hình thức
luyện thi đại học được đưa lên mạng để giáo viên và học sinh có thể tham khảo,
nghiên cứu ở mọi lúc, mọi nơi.
Tuy vậy các Website dành cho học sinh học tập trong đó có hoạt động ôn tập
củng cố kết hợp với tự kiểm tra đánh giá được xây dựng trên cơ sở lí luận dạy học
vật lí hiện đại vẫn còn chưa được nghiên cứu nhiều. Đến nay mới có Website về ôn
tập củng cố và kiểm tra đánh giá dựa trên cơ sở lí luận dạy học hiện đại về các nội
1
dung sau: Chương “ Động lực học” Vật lí 10 nâng cao; Chương “Dòng điện xoay

- Hệ thống các kiến thức, kĩ năng học sinh cần nắm vững khi học xong phần
chương “Lượng tử ánh sáng” – Vật lí 12 nâng cao.
- Hoạt động tự ôn tập củng cố và kiểm tra, đánh giá của học sinh đối với
phần “Lượng tử ánh sáng”.
- Các chức năng của trang Web hỗ trợ học sinh tự ôn tập củng cố, kiểm tra
đánh giá kiến thức, kĩ năng phần “Lượng tử ánh sáng”.
4. Giả thuyết khoa học
Nếu vận dụng lí luận dạy học vật lí hiện đại về ôn tập củng cố, xác định các
sai lầm phổ biến về kiến thức và những thiếu hụt về kĩ năng cần thiết đối với học
sinh và ứng dụng công nghệ thiết kế Web thì có thể thiết kế được trang Web hỗ trợ
học sinh tự ôn tập củng cố và kiểm tra, đánh giá phần “Lượng tử ánh sáng” góp
phần rèn cho học sinh kĩ năng tự học, kích thích hứng thú học tập và nâng cao hiệu
quả tự ôn tập củng cố của học sinh.
5. Phạm vi nghiên cứu
Xây dựng trang Web hỗ trợ hoạt động ôn tập củng cố và kiểm tra đánh giá
chương “Lượng tử ánh sáng” Vật lí 12 nâng cao nhằm rèn luyện kĩ năng tự học,
nâng cao hứng thú và hiệu quả việc tự ôn tập củng cố cho học sinh.
6. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của việc tự ôn tập củng cố:
- Nghiên cứu chương “Lượng tử ánh sáng” – Vật lí 12 nâng cao.
- Điều tra xác định các khó khăn, sai lầm của học sinh khi học chương
“Lượng tử ánh sáng” – Vật lí 12 nâng cao.
- Nghiên cứu việc thiết kế trang Web hỗ trợ việc tự ôn tập củng cố.
- Thực nghiệm sư phạm đánh giá tính khả thi và hiệu quả trang Web xây
dựng được.
7. Phương pháp nghiên cứu
a) Phương pháp nghiên cứu lí luận:
3
- Nghiên cứu văn kiện của Đảng, chỉ thị của Bộ Giáo dục - Đào tạo
- Nghiên cứu các tài liệu về phương pháp giảng dạy vật lí và giáo dục học

Trang Web xây dựng là tài liệu tham khảo tốt về cho học sinh tự ôn tập củng
cố phần “Lượng tử ánh sáng”, nhằm rèn luyện kĩ năng tự ôn tập củng cố, nâng cao
hiệu quả ôn tập củng cố.
Trang Web là một phương tiện giúp giáo viên có thể kiểm tra đánh giá kiến
thức đạt được của học sinh trong phần “Lượng tử ánh sáng”.
10. Cấu trúc của luận văn
Luận văn có cấu trúc như sau:
- Phần mở đầu
- Phần nội dung
Chương I. Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc OTCC, kiểm tra và đánh giá
của HS trong các trường THPT.
Chương II. Xây dựng trang Web hỗ trợ HS tự OTCC, kiểm tra và đánh giá
phần “Lượng tử ánh sáng”- Chương trình Vật lí lớp 12 nâng cao.
Chương III. Thực nghiệm sư phạm.
- Phần kết luận
5
CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC ÔN TẬP CỦNG CỐ VÀ
KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ TRONG CÁC TRƯỜNG THPT
1.1. Cơ sở lí luận của hoạt động ôn tập củng cố
1.1.1. Ôn tập củng cố và mục đích của ôn tập củng cố
Theo từ điển Tiếng Việt (2001) của Viện khoa học Việt Nam, ôn tập có hai
nghĩa, nghĩa thứ nhất: ôn tập là học để nhớ, để nắm chắc; nghĩa thứ hai: ôn tập là hệ
thống hóa lại kiến thức đã dạy để học sinh nắm chắc chương trình; củng cố có hai
nghĩa, nghĩa thứ nhất: củng cố là làm cho trở nên bền vững, chắc chắn hơn lên,
nghĩa thứ hai: củng cố là nhớ lại để nắm vững và nhớ cho kĩ hơn.[35]
Như vậy, OTCC theo từ điển Tiếng Việt có thể được hiểu là quá trình học lại
và luyện lại những điều đã học để nhớ, để cho kiến thức trở nên bền vững, chắc
chắn hơn.
Theo các nhà tâm lí học [17]; [30]: Ôn tập không chỉ để nhớ lại mà còn là sự

tệp để phục vụ cho việc khai thác trong tương lai. Tuy nhiên trí nhớ dài có khuynh
hướng chỉ coi một dữ liệu hoặc một ý tưởng nào đó là “hữu ích” một cách lâu dài
nếu nó thường gặp phải những dữ liệu hoặc những ý tưởng đó. Do vậy, với những
thông tin cần được lưu giữ trong trí nhớ dài thì chúng cần phải được sử dụng và gợi
nhớ lại một cách thường xuyên. Điều đó có nghĩa là khi thông tin đã được chuyển
từ trí nhớ ngắn sang trí nhớ dài, nếu không có sự sử dụng thường xuyên thì những
thông tin đó sẽ bị lãng quên. Vì vậy để lưu giữ thông tin lâu dài, GV cần phải tổ
chức cho HS sử dụng những thông tin đã được lĩnh hội một cách thường xuyên
bằng nhiều hình thức khác nhau, trong đó cách sử dụng tốt nhất là vận dụng những
thông tin ấy vào việc giải quyết các nhiệm vụ nhận thức và thực hành.
Theo các nhà giáo dục học (Nguyễn Ngọc Bảo; Hà thị Đức; Nguyễn Bá
Kim;…): Ôn tập là giúp học sinh củng cố tri thức, kĩ năng, kĩ xảo; tạo khả năng cho
giáo viên sửa chữa những sai lầm lệch lạc trong nhận thức của học sinh, rèn luyện
kĩ năng, kĩ xảo, phát huy tính tích cực độc lập tư duy cũng như phát triển năng lực
nhận thức, chú ý cho học sinh. Ôn tập còn giúp học sinh mở rộng đào sâu, khái quát
7
hóa, hệ thống hóa những tri thức đã học, làm vững chắc những kĩ năng, kĩ xảo đã
được hình thành.[30]
Ôn tập còn là quá trình giúp học sinh xác nhận lại thông tin đã lĩnh hội, tổ
chức lại thông tin đó nếu thấy có chỗ chưa hợp lí hay có chỗ chưa tối ưu, góp phần
củng cố và khắc họa thông tin để có thể sử dụng thông tin có hiệu quả trong các
hoạt động ở nhiều mức độ khác nhau.
Từ những quan niệm của các tác giả trên, chúng tôi cho rằng OTCC là quá
trình người học xác nhận lại thông tin đã lĩnh hội, bổ sung, chỉnh lí thông tin và tổ
chức lại thông tin theo một cấu trúc khoa học hơn giúp cho người học vận dụng
thông tin đã lĩnh hội một cách nhanh chóng, dễ dàng và hiệu quả. Thông qua OTCC
tri thức của người học được hệ thống hoá, đào sâu và mở rộng, trên cơ sở đó mà
từng bước rèn luyện được các kĩ năng, kĩ xảo, phát triển trí nhớ cũng như tư duy
của người học.
1.1.2. Vai trò và vị trí của ôn tập củng cố trong quá trình nhận thức

với nội dung cần ôn tập để lựa chọn phương pháp thích hợp nhất trong khoảng thời
gian cho phép được quy định của chương trình. [32]
Đối với môn vật lí cái tạo thành nội dung chính của môn học là những kiến
thức vật lí cơ bản. Thông qua việc hình thành những kiến thức cơ bản đó mà thực
hiện các nhiệm vụ khác của dạy học vật lí , trước hết là phát triển năng lực nhận
thức, năng lực sáng tạo, hình thành thế giới quan khoa học. Trong quá trình dạy học
vật lí cần chú ý đến những tác động sư phạm khác nhằm điều hành quá trình dạy
học từ đầu đến cuối, thí dụ như: gợi động cơ, gợi hứng thú, củng cố, ôn tập, điều
chỉnh, kiểm tra, đánh giá. Trong học tập vật lí một mặt HS phải quan sát thực tế để
cảm nhận được sự tồn tại của thực tế khách quan và những đặc tính bên ngoài của
nó nhờ các giác quan, mặt khác HS phải thực hiện các phép suy luận, biến đổi trong
óc để rút ra được các đặc tính bản chất và những mối quan hệ phổ biến khách quan,
nhờ thế mà rút ra chân lí mới. Trình tự hợp lí của những hoạt động vật chất và tinh
thần đảm bảo cho kết luận cuối cùng rút ra phản ánh đúng thực tế khách quan gọi là
phương pháp nhận thức vật lí . Các phương pháp nhận thức vật lí đều do các nhà
9
bác học đúc kết được thông qua hoạt động thực tiễn, đã được thực tiễn khẳng định.
Muốn cho HS làm quen dần với phương pháp đi tìm chân lí mới trong quá trình
học tập, nhất thiết phải dạy cho họ các phương pháp nhận thức phổ biến. Tuy nhiên,
việc vận dụng các phương pháp đó để nghiên cứu một hiện tượng, một tính chất,
một định luật vật lí là một việc không dễ dàng. Chính vì thế, trong nhà trường, cần
cố gắng làm cho HS biết được người ta thực hiện những hành động nào, trải qua
những giai đoạn nào trên con đường đi tìm chân lí ; đồng thời tuỳ theo trình độ của
HS và các điều kiện cụ thể của nhà trường mà tổ chức cho HS tham gia trực tiếp
một số giai đoạn của các phương pháp nhận thức đó.
Những kiến thức vật lí cơ bản cần hình thành trong quá trình học kiến thức
mới cũng như trong quá trình OTCC trong chương trình vật lí ở trường phổ thông
gồm các loại sau:
- Những khái niệm vật lí , đặc biệt là những khái niệm về đại lượng vật lí .
- Những định luật vật lí.

là tạo điều kiện để học tập trên lớp theo giờ giảng đạt hiệu quả hơn. OTCC có thể
thực hiện dưới nhiều hình thức nhưng chủ yếu là hai hình thức: OTCC ngay trong
giờ học chính khóa trên lớp và OTCC ngoài giờ học chính khóa.
1.1.4.1. OTCC ngay trong giờ học chính khóa
- Ôn tập ngay trước và trong khi học sinh tìm hiểu, tiếp thu kiến thức mới
dựa trên cơ sở của những kiến thức đã học trước đó. Hình thức này thường được
tiến hành ngay trong mỗi bài học hằng ngày, thực hiện thông qua hệ thống các câu
hỏi được giáo viên chuẩn bị sẵn, đó là các câu hỏi kiểm tra bài cũ đầu giờ, hoặc
những câu hỏi đặt ra trong tiết học nhằm gợi lại kiến thức cũ mà nó là cơ sở để hình
thành kiến thức mới trong bài học.
- Ôn tập được thực hiện ngay sau khi học sinh vừa học bài mới, nhằm củng
cố những kiến thức học sinh vừa mới lĩnh hội, chốt lại những kiến thức cơ bản, cốt
lõi của bài học. Hình thức này có thể tiến hành bằng cách đưa ra các câu hỏi để học
11
sinh trả lời hoặc làm các bài tập có tính chất hệ thống hóa, tổng kết những kiến thức
cơ bản của bài học.
- Ôn tập sau khi kết thúc một chương hoặc một phần chương trình. Hình thức
ôn tập này thường được thực hiện trong một (hoặc một vài) tiết học riêng biệt. Mục
đích sư phạm của các tiết ôn tập như vậy là chỉnh lí lại, hệ thống lại, tìm ra mối liên
hệ logic giữa các kiến thức mà học sinh đã được lĩnh hội trong một phần của tài liệu
học; tạo cho học sinh có cái nhìn toàn diện về nội dung kiến thức trong phần đó.
- Ôn tập tổng kết được áp dụng khi chương trình kết thúc vào cuối kỳ, cuối
năm. Ôn tập tổng kết không phải đơn thuần khôi phục lại trong trí nhớ mọi tri thức
đã học. Mục đích của nó là nâng cao tri thức cho học sinh lên một trình độ mới cao
hơn. Trước hết là nó phải đảm bảo hệ thống hóa lại các tri thức đã học, điều đó đạt
được nhờ nội dung của vấn đề cần ôn tập.
1.1.4.2. OTCC ngoài giờ học chính khóa
Hình thức này diễn ra sau giờ học chính khóa và dưới sự hướng dẫn gián tiếp
của giáo viên thông qua hệ thống câu hỏi và bài tập mang tính định hướng trong các
giờ học tự chọn, bổ trợ kiến thức. Học sinh thực hiện việc ôn tập của mình bằng

lượng của quá trình dạy học. Trước hết, nó có tác dụng OTCC, đào sâu, mở rộng,
khái quát hóa và hệ thống hóa tri thức, hình thành kĩ năng, kĩ xảo. Nó góp phần thúc
đẩy sự phát triển nhanh chóng ở học sinh năng lực tự học, năng lực độc lập công
tác. Nó còn cho phép thực hiện được sự cá biệt hóa việc dạy học, giúp lấp những lỗ
hổng trong trí thức của những học sinh kém và phát triển năng lực sáng tạo ở học
sinh giỏi. Vì học sinh tự thực hiện những nhiệm vụ học tập do giáo viên giao cho,
trong quá trình thực hiện nhiệm vụ học sinh không có sự hướng dẫn của giáo viên;
giáo viên đánh giá kết quả của hoạt động tự học thông qua mức độ hoàn thành công
việc của học sinh; nội dung tự học cũng rất đa dạng, tuỳ thuộc nội dung chương
trình và đối tượng học sinh.
1.1.5.2. Hoạt động ngoại khóa góp phần tự OTCC kiến thức
13
Hoạt động ngoại khoá vật lí là một trong những hoạt động ngoài giờ lên lớp,
có tổ chức, có kế hoạch, có phương hướng xác định, được học sinh tiến hành theo
nguyên tắc tự nguyện ở ngoài giờ nội khoá dưới sự hướng dẫn của các giáo viên vật
lí nhằm gây hứng thú, phát triển tư duy, rèn luyện một số kĩ năng, bổ sung và mở
rộng kiến thức vật lí cho học sinh; nó có tác dụng lớn về mặt giáo dưỡng, giáo dục
và giáo dục kĩ thuật tổng hợp.
Hoạt động ngoại khoá vật lí có thể đem lại nhiều tác dụng to lớn mà một
trong những tác dụng đó là góp phần củng cố, đào sâu, mở rộng, hệ thống hoá kiến
thức vật lí đã học trên lớp; bổ sung những kiến thức về mặt lí thuyết hoặc khắc phục
những sai lầm mà học sinh thường mắc phải khi học nội khoá.
1.1.5.3. Tham gia xây dựng lôgic hình thành các kiến thức thông qua xây dựng các
sơ đồ-Graph về từng phần hay toàn bộ hệ thống kiến thức cần ôn tập
Graph trong lí thuyết graph bắt nguồn từ “graphic” có nghĩa là tạo ra một
hình ảnh rõ ràng, chi tiết sinh động trong tư duy. Phương pháp graph dạy học được
hiểu là phương pháp tổ chức rèn luyện tạo được những sơ đồ học tập ở trong tư duy
của học sinh. Trên cơ sở đó hình thành một phong cách tư duy khoa học mang tính
hệ thống. Những ứng dụng của lí thuyết graph:
+ Dùng graph để hệ thống hóa khái niệm trong một tổng thể, giúp mở rộng

học, tạo những điều kiện cần thiết nhằm đạt được mục đích dạy học. Phương tiện
dạy học có thể được sử dụng một cách đa dạng trong quá trình củng cố (ôn tập, đào
sâu, mở rộng, hệ thống hoá) kiến thức, kĩ năng của học sinh.
Hiện nay, các phương tiện được dùng trong OTCC thường là các phương tiện sau:
1.1.6.1. Sách (giáo khoa, bài tập,các tư liệu khác )
Sách là một công cụ để chứa đựng hệ thống tri thức. Sách là hình thức vật
chất, còn nội dung của nó là tri thức, mà cốt lõi của tri thức là hệ thống khái niệm.
Do đó, khi đọc sách con người dùng năng lực tư duy, năng lực ngôn ngữ và toàn bộ
kinh nghiệm xã hội vốn có của mình để tách khái niệm ra khỏi hệ thống từ ngữ mà
15
lĩnh hội chúng, đó là một con đường nhận thức, con đường tái tạo lại tri thức, một
phương thức lĩnh hội khái niệm. Khả năng lĩnh hội khái niệm qua con đường đọc
sách phụ thuộc vào nhiều yếu tố.
1.1.6.2. Các tư liệu, bài tập, bài kiểm tra (trắc nghiệm và tự luận) trên mạng (dưới
dạng web )
Các mô hình mô phỏng các hiện tượng vật lí , các đoạn video chưa được sử
dụng khi nghiên cứu kiến thức mới có thể dùng trong giai đoạn vận dụng các kiến
thức đã học để xây dựng trang Web củng cố (ôn tập, đào sâu, mở rộng, hệ thống
hoá) kiến thức, kĩ năng của học sinh.
Các bài kiểm tra, bài trắc nghiệm được xem như phương tiện để kiểm tra
kiến thức, kĩ năng trong dạy học. Theo chúng tôi, việc soạn thảo công phu các câu
hỏi trắc nghiệm, các bài trắc nghiệm có phản hồi những sai lầm của học sinh và
hướng dẫn học sinh tự đọc tư liệu dựa trên công nghệ thiết kế Web hợp lí thì sẽ tạo
ra được một công cụ, phương tiện hữu hiệu để định hướng hoạt động chiếm lĩnh
kiến thức cần ôn tập, đánh giá mục tiêu và phương pháp dạy học, mà hiện nay chưa
có những bài trắc nghiệm trên mạng như vậy.
Ưu thế của Web thể hiện ở các tính năng tạo lập và quản lí nội dung ôn tập
như: Giao – nộp bài tập; trao đổi trực tuyến giữa giáo viên và học viên, giữa các bạn
học (chat), tạo lập các diễn đàn, Nhưng đặc biệt hơn cả “Quản lí học viên” là một
tính năng đặc biệt quan trọng của công nghệ thiết kế Web bao gồm: Kết nạp và theo

chương trong sách giáo khoa.
- Phần mềm kiểm tra, đánh giá kiến thức của học sinh.
Như vậy, bên cạnh rất nhiều chức năng thì PMDH cũng có chức năng hỗ trợ
học sinh tự OTCC và KTĐG kiến thức về một nội dung nào đó.
1.1.7. Mối quan hệ giữa ôn tập củng cố và kiểm tra đánh giá.
Theo GS. Phạm Hữu Tòng “Kiểm tra là sự theo dõi, tác động của người kiểm
tra đối với người học nhằm thu được những thông tin cần thiết để đánh giá”.
17
Chúng tôi cho rằng kiểm tra trong quá trình dạy học là nhằm theo dõi thu thập số
liệu, chứng cứ để đánh giá kết quả học tập, nhằm củng cố, mở rộng, tăng cường
việc học tập và phát triển của học sinh.
Đánh giá kết quả của một hoạt động là nhằm phát hiện và uốn nắn kịp thời
những sai sót, điều chỉnh có hiệu quả hoạt động đó, một cách tổng quát: Đánh giá
có nghĩa là xem xét mức độ phù hợp của một tập hợp các thông tin thu được với
một tập hợp các tiêu chí thích hợp của mục tiêu đã xác định nhằm đưa ra quyết định
theo một mục đích nào đó.
Chúng tôi cho rằng đánh giá kết quả học tập là một quá trình được tiến hành
có hệ thống, liên tục và thường xuyên để xác định mức độ các mục tiêu dạy học đạt
được của học sinh, làm cơ sở cho những quyết định sư phạm của giáo viên, của nhà
trường và cho bản thân học sinh để góp phần nâng cao hiệu quả học tập.
Như vậy, OTCC và KTĐG là hai công việc có nội dung khác nhau nhưng có
liên quan mật thiết với nhau, kiểm tra là phương tiện để đánh giá còn muốn đánh
giá thì phải tiến hành kiểm tra.
Ôn tập và kiểm tra liên hệ giữa chúng với nhau vô cùng khăng khít. Tổ chức
ôn tập để tuyệt đối hóa nó, không có yếu tố kiểm tra hoặc tổ chức kiểm tra để tuyệt
đối hóa nó, không có yếu tố ôn tập như thế không thể có được. Ở đây công việc có
thể tiến hành chỉ là trong trường hợp thứ nhất, những yếu tố ôn tập trội hơn yếu tố
kiểm tra, hoặc trong trường hợp thứ hai thì ngược lại. Thực tế việc giảng dạy và học
tập ở trường phổ thông cho ta thấy rõ điều này.
Ôn tập được tổ chức theo tiết học thông qua kiểm tra (vấn đáp, tự luận, trắc

Thời gian trên
lớp
(hoạt động nội
khóa)
9
Các hoạt động
ngoại khóa
9
Ôn
tập
Kiểm tra
trong đó 1 là yếu tố quan trọng nhất, 9 là ít quan trọng nhất. Kết quả khảo sát trên
30 giáo viên của các trường THPT cho kết quả như sau:
20
Giá
o
viên
nhiệ
t
tình


phư
ơng
phá
p
giản
g
dạy
phù

ỨNG
DỤNG
Hiện tượng quang điện
ngoài
Hiện tượng quang điện
trong
Thuyết lượng tử ánh
sáng
Mẫu nguyên tử Bo
Định luật Stock về sự
phát quang
Các định luật quang điện
Sử dụng thuyết lượng tử
giải thích các định luật
quang điện
Quang trở và pin quang
điện
Giải thích sự tạo thành
quang phổ vạch của
nguyên tử Hidro
Hấp thụ và phản xạ lọc
lựa ánh sáng, màu sắc
của các vật.
Sự phát quang. Sơ lược
về laze
23


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status