Đánh giá thực trạng hoang mạc hóa và đề xuất giải pháp sử dụng hợp lý đất nông nghiệp vùng ven biển huyện thạch hà, tỉnh hà tĩnh - Pdf 51

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
-------***-------

NGUYỄN THỊ ĐÔNG

ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG HOANG MẠC HÓA VÀ
ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP SỬ DỤNG HỢP LÝ ĐẤT NÔNG NGHIỆP
VÙNG VEN BIỂN HUYỆN THẠCH HÀ, TỈNH HÀ TĨNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

Hà Nội - 2017


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
-------***-------

NGUYỄN THỊ ĐÔNG

ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG HOANG MẠC HÓA VÀ
ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP SỬ DỤNG HỢP LÝ ĐẤT NÔNG NGHIỆP
VÙNG VEN BIỂN HUYỆN THẠCH HÀ, TỈNH HÀ TĨNH

Chuyên ngành

: KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG

Mã số


đình: bố mẹ, chồng, anh chị và bạn bè đã luôn sát cánh, giúp đỡ, ủng hộ, động viên
và chia sẻ những khó khăn, thuận lợi về cả vật chất lẫn tinh thần trong suốt quá
trình học tập và thực hiện khóa luận của học viên.
Hà Nội, ngàytháng năm 2017
Học viên
Nguyễn Thị Đông


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ....................................................................................................................1
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU .........................................3
1.1.TỔNG QUAN VỀ HẠN HÁN VÀ HOANG MẠC HÓA TRÊN THẾ GIỚI
VÀ VIỆT NAM .......................................................................................................3
1.1.1Khái quát về hạn hán và hoang mạc hóa .....................................................3
1.1.2Hạn hán và Hoang mạc hóa trên thếgiới và ở Việt Nam ............................5
1.1.3Hạn hán và hoang mạc hóa trong bối cảnh biến đổi khíhậu .......................7
1.2.TỔNG QUAN VỀ ĐẤT VEN BIỂN VÀ SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP ........8
1.2.1 Đất ven biển ...............................................................................................8
1.2.2 Sản xuất nông nghiệp ...............................................................................11
1.3.LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU ...............................................................................14
1.3.1 Những nghiên cứu trên Thế giới ..............................................................14
1.3.2 Những nghiên cứu tại Việt Nam ..............................................................17
CHƯƠNG 2. ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU, PHẠM VI NGHIÊN CỨU VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ..........................................................................22
2.1. ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU .............................................................................22
2.1.1. Đặc điểm điều kiện tự nhiên ...................................................................22
2.1.2. Đặc điểm kinh tế - xã hội ........................................................................27
2.2.2. Phạm vi thời gian ....................................................................................29
2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU...................................................................29
2.3.1 Cách tiếp cận ............................................................................................29

Bảng 3.2. Tình hình sử dụng đất của 8 xã ven biển huyện Thạch Hà ......................36
Bảng 3.3. Tài nguyên đất vùng ven biển huyện Thạch Hà .......................................38
Bảng 3.4: Thực trạng hạn hán đất ven biển huyện Thạch Hà ...................................41
Bảng 3.5. Kết quả phân tích tính chất hoá học phẫu diện TH01 ..............................47
Bảng 3.6. Kết quả phân tích tính chất hoá học phẫu diện TH02 ..............................48
Bảng 3.7. Kết quả phân tích tính chất hoá học phẫu diện TH03 ..............................48
Bảng 3.8. Kết quả phân tích tính chất hoá học phẫu diện TH04 ..............................49
Bảng 3.9. Kết quả phân tích tính chất hoá học phẫu diện TH03 ..............................50
Bảng 3.10. Khảo sát hoạt động SXNN tại 3 xã điển hình của huyện Thạch Hà ......53
Bảng 3.11.Đánh giá tỷ lệ các hộ bị mất mùa do ảnh hưởng bởi các tác nhân HMH
trong 5 năm gần đây tại ba xã đại diện cho vùng nghiên cứu ...................................56

HÌNH VẼ
Hình 1.1: Mối quan hệ giữa HH& HMH với các nhân tố tự nhiên của SXNN ........13
Hình 2.1. Vị trí huyện Thạch Hà trong tỉnh Hà Tĩnh ................................................22
Hình 3.1. Bản đồ đất cát ven biển huyện Thạch Hà..................................................40
Hình 3.2.Hình ảnh vệ tinh dải đất ven biển Thạch Hà .............................................44


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BĐKH

: Biến đổi khíhậu

BĐSDĐ

: Biến động sử dụngđất

DHNTB


KHKT

: Khoa học kỹ thuật

KTXH

: Kinh tế xãhội

MT

: Môitrường

NNPTNT

: Nông nghiệp phát triển nông thôn

NNK

: Những ngườikhác

PPNC

: Phương pháp nghiêncứu

SDĐ

: Sử dụngđất

SXNN




MỞ ĐẦU
Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Hoang mạc hóa (HMH) là quá trình tự nhiên chưa phổ biến trên lãnh thổ Việt
Nam nhưng gần đây lại khá phổ biến và điển hình ở Hà Tĩnh (một tỉnh ở miền
Trung, có diện tích tự nhiên là 5.997,18 km2, dân số 1.227.673 người – năm 2015
[18]). Hiện tượng HMH ở tỉnh Hà Tĩnh hình thành và phát triển do những tương tác
có tính qui luật giữa các yếu tố tự nhiên và vị trí địa lý. Là một trong những tỉnh có
lượng mưa thấp nhất cả nước, nền nhiệt cao quanh năm kèm theo lượng bốc hơi lớn
với một mùa khô kéo dài nên hạn hán xảy ra thường xuyên. Quá trình xói mòn đất
do mưa (vào mùa mưa) và quá trình thổi mòn (vào mùa khô), quá trình xâm nhập
mặn vào sâu trong nội địa đã làm cho tình trạng thoái hóa đất ngày thêm rõ rệt, cảnh
quan đặc trưng cho miền khô hạn như truông bụi gai, xavan nhiệt đới, trảng cỏ thứ
sinh... xuất hiện ngày một nhiều hơn và tập trung phần lớn tại huyện Thạch Hà trên
địa bàn. Trong nghiên cứu kịch bản biến đổi khí hậu (BĐKH), hiện tượng hạn hán,
HMH đang có xu hướng gia tăng ở Hà Tĩnh nói chung và huyện Thạch Hà nói
riêng, kéo theo nhiều hệ lụy về kinh tế, xã hội và môi trường. Hạn hán và HMH đã
tác động mạnh mẽ đến hoạt động SXNN (SXNN), một ngành kinh tế có tỷ trọng
chiếm khoảng 20,58% GDP của tỉnh. Theo số liệu của Sở Nông nghiệp và Phát
triển Nông thôn, ven biển Thạch Hà có trên 2.015 ha đất bị HMH trong tổng số gần
5.200ha đất nông nghiệpvà hạn hán, hoang mạc hóa còn đe dọa trực tiếp đến 40 –
50% diện tích gieo trồng [17]. Trong bối cảnh BĐKH, mức độ ảnh hưởng của hạn
hán và HMH đến SXNN gia tăng hơn. Nếu từ năm 2000 trở về trước, hạn hán của
Hà Tĩnh tập trung chủ yếu trong vụ hè thu và vụ mùa thì đến nay đã lan sang cả vụ
lúa đông xuân, thậm chí kéo dài đến hè thu. Trong 5 năm gần đây, SXNN liên tục
phải đối phó với tình trạng hạn hán gay gắt trong vụ đông xuân, tình trạng không có
nước sản xuất, dịch bệnh trên cây trồng xuất hiện ở nhiều nơi, làm giảm năng suất
cây trồng (Thạch Văn, Thạch Hà). Nghiên cứu thực trạng và ảnh hưởng của hạn hán
và HMH đến SXNN, đặc biệt là trồng trọt và đề xuất giải pháp sử dụng hợp lý đất

hoang mạc hóa. Biến thách thức thành tiềm năng, ổn định cuộc sống của người
dân huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh.
Kết cấu của luận văn
MỞ ĐẦU
NỘI DUNG
Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Chương 2: Địa bàn nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Kết quả nghiên cứu
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

2


CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. TỔNG QUAN VỀ HẠN HÁN VÀ HOANG MẠC HÓA TRÊN THẾ GIỚI
VÀ VIỆT NAM
1.1.1 Khái quát về hạn hán và hoang mạc hóa
1.1.1.1Hạn hán
Hạn hán là một dị thường tạm thời, khác với sự khô cằn ở vùng ít mưa và là
đặc tính thường xuyên của khí hậu. Từ những năm 1980 đã có hơn 150 khái niệm
khác nhau về hạn, nhưng nhìn chung hạn là tình trạng thiếu hụt mưa trong một thời
gian tương đối dài. Khi đó, quá trình bốc hơi từ bề mặt đất được đẩy mạnh và tạo nên
những điều kiện bất lợi cho SXNN và sự sinh trưởng của cây trồng nói chung. Hạn có thể
được xác định thông qua các chỉ số hạn (Nguyễn Văn Thắng, 2007) [21].
Hạn khí tượng được định nghĩa dựa trên mức độ khô hạn so với trung bình
trong một khoảng thời gian xác định. Hạn khí tượng là sự thiếu hụt nước trong cán
cân mưa - bốc hơi. Lượng bốc hơi đặc trưng cho phần chi và lượng mưa đặc trưng
cho phần thu của cán cân nước. Lượng bốc hơi đồng biến với cường độ bức xạ,
nhiệt độ, tốc độ gió và nghịch biến với độ ẩm không khí nên khi nắng nhiều, nhiệt

mối

tương

tác

giữa

các

tính

chất

tự

nhiêncủahạnthuỷvănvàcáchoạtđộngcủaconngười.
1.1.1.2Hoang mạchóa
Theo định nghĩa của (FAO, 1995) là quá trình tự nhiên và xã hội phá vỡ cân
bằng sinh thái của đất, thảm thực vật, không khí và nước ở những vùng khô hạn,
bán khô hạn và bán ẩm ướt. Quá trình xảy ra liên tục,qua nhiều giai đoạn, dẫn đến
giảm sút hoặc tiêu diệt hoàn toàn khả năng dinh dưỡng của đất trồng, giảm thiểu các
điều kiện sinh sống và tăng thêm cảnh hoang tàn.. Những dấu hiệu, thực trạng và
nguyên nhân cơ bản của HMH được phản ánh thông qua 7 quá trình sau: quá trình
thoái hóa thảm thực vật, xói mòn do nước, thổi mòn, mặn hóa, kết von đất, giảm
chất hữu cơ trong đất, tích lũy các chất độc [20]. Một vùng được coi là HMH khi
thể hiện hoặc thỏa mãn các điều kiện như: (1) lượng mưa rất ít so với lượng bốc
hơi,có một mùa khô kéo dài, nhiều tháng liên tục lượng mưa dưới ngưỡng khô hạn;
(2) không có khả năng cung cấp nước cho cây trồng bằng nguồn nước tự nhiên và từ
hệ thống tưới trong mùa khô; (3) xảy ra quá trình xói mòn đất do mưa (vào mùa

Nam Mỹ gồm từ xích đạo đến vĩ tuyến 350N và một số vùng khác như: Đông
Brazil, Bắc Colombia và Venezuela)
Theo dự tính của UNCCD, hàng năm thế giới có khoảng 50 – 70 nghìn km2 bị
HMH và diện tích HMH đến cuối thế kỉ có thể lên đến 39,4 triệu km2 chiếm 26,3%
diện tích tự nhiên toàn thế giới (bảng 1.1):

5


Bảng 1.1: Thực trạng HMH trên thế giới
Thực trạng
Khu vực

Diện tích(triệu km2)

% diện tíchtự nhiên

Thế giới

26,85

17,9

Châu Á

7,79818

17,8

Châu Phi

nửa đầu mùa hè (tháng 5 – tháng 7) và kết thúc vào nửa sau mùa hè (tháng 8 –
tháng 9); Kiểu 3 là kiểu khô pha tạp giữa 2 kiểu trên, bắt đầu vào nửa sau mùa đông
(tháng 12 – tháng 3) và kết thúc vào nửa đầu mùa hè (tháng 5 – tháng 7). Trên thực
tế, phần lớn Bắc Bộ, Tây Nguyên và Nam Bộ có chung kiểu khô hạn thứ nhất, Bắc
Trung Bộ có kiểu khô hạn thứ 2 và Nam Trung Bộ có kiểu khô hạn thứ 3[10].

6


Ở Việt Nam, Theo công bố của Vietnam IUCN 2005, diện tích đất hoang mạc
hóa là 850.000ha trên tổng số 3.292.970ha diện tích tự nhiên cả nước. Quá trình
hoang mạc hoá đang xảy ra mạnh mẽ chẳng những ở Hà Tĩnh, mà còn diễn ra ở các
tỉnh miền núi Tây Bắc như Lao Cai, Lai Châu, Điện Biên, Sơn La và suốt dải ven
biển Miền Trung từ Nghệ An đến Bà Rịa, trong đó có Hà Tĩnh.
Nguy cơ gia tăng HMH ở Việt Nam khá cao, thể hiện qua 8 quá trình thoái hóa
đất như: quá trình cát bay gây lấp đồng ruộng, làng mạc ở Quảng Bình, Quảng Trị,
quá trình cát chảy (cát chảy theo nước) phủ đồng ruộng quanh các cồn cát ven biển
Quảng Bình; quá trình mặn hóa trên hầu khắp các tỉnh ven biển miền Trung trong
đó có Hà Tĩnh do xâm nhập mặn từ biển, quá trình muối hóa vùng hẹp ven biển
Ninh Thuận, Bình Thuận do khô hạn kéo dài, quá trình xâm nhập sỏi cát vào đồng
ruộng do lũ lụt ở hạ lưu các con sông từ Quảng Ngãi đến Bình Định; quá trình khô
hạn hóa do phá rừng đầu nguồn; quá trình đá ong hóa ở Trung Du Miền núi Phía
Bắc, quá trình xói mòn, giảm độ phì của đất ở các vùng đồi núi [10]. Hiện nay,
những hoang mạc cát ven biển đang mở rộng dần về phía Tây tới vùng bán sơn địa
thuộc các tỉnh ven biển Nam Trung Bộ và tập trung phần lớn vẫn ở vùng ven biển
DHMT. Ngoài ra, một số vùng đất bị thoái hóa nghiêm trọng ở Tây Bắc, Tây Nguyên
và vùng núi phía Bắc ( Sông Mã-Yên Châu, Sơn La; Ayunpa, Easup, Gia Lai; Mường
Khương-Si Ma Cai, Lào Cai) cũng tiềm ẩn những nguy cơ hoang mạc hóa.
1.1.3 Hạn hán và hoang mạc hóa trong bối cảnh biến đổi khíhậu
Theo báo cáo của chương trình môi trường của Liên Hiệp Quốc (UNEP) trong

biển lại có tuổi rất trẻ. Trạng thái hiện tại của nó là kết quả của sự thay đổi liên tục
và sẽ tiếp tục thay đổi trong tương lai. Đới bờ biển là nơi xảy ra sự tương tác giữa
biển và lục địa. Quá trình cân bằng động lực của năng lựơng sóng, thuỷ triều, gió,
dòng chảy, độ dốc đáy biển, dao dộng của mực nước biển, sự cung cấp vật chất từ
các dòng sông và bờ biển là những tác nhân chính tạo ra diện mạo của đới bờ biển.
Đới bờ biển gồm 2 bộ phận cấu thành: vùng biển ven bờ và vùng đất liền ven
biển, gọi tắt là vùng ven biển. Bản thân vùng ven biển được cấu thành bởi các hệ tự
nhiên ở cấp nhỏ hơn như: cửa sông, đầm phá, các cồn cát, đụn cát, các bãi cát nội

8


đồng, các thảm thực vật rừng, cây bụi, rừng trồng và các hệ tự nhiên khác. Dải cồn
cát ven biển từ cửa Hội Nghi Xuân đến đèo Ngang Kỳ Anh của tỉnh Hà Tĩnh có đầy
đủ các hệ tự nhiên đặc trưng của một vùng ven biển.
Vùng đất ven biển là khu vực chuyển tiếp giữa lục địa và biển, là một vùng
động và nhạy cảm, là một hệ thống lãnh thổ đặc trưng bởi các quá trình tương tác,
các hệ tự nhiên trong nó dễ bị lệ thuộc vào các nhiễu loạn tự nhiên và tác động nhân
sinh. Tính nhạy cảm và tính tự phục hồi là 2 đặc điểm của vùng ven biển. Tính nhạy
cảm là mức độ tương thích của hệ thống môi trường bị thay đổi dưới sức ép tự
nhiên hoặc con người; tính tự phục hồi là khả năng của hệ thống môi trường trở lại
trạng thái ban đầu sau những thay đổi đó. Vùng ven biển đồng thời là khu vực giàu
tiềm năng tài nguyên cho phát triển đa ngành và là nơi chịu tác động mạnh của các
hoạt động nhân sinh. Vùng ven biển còn là nơi tranh chấp trong sử dụng tài nguyên
và môi trường. Khai thác hợp lý tài nguyên, phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường vì
sự phát triển bền vững là mục tiêu phấn đấu của các vùng ven biển.
Hà Tĩnh có 137km bờ biển, chạy dài từ Cửa Hội (180 46'00'' VĐB, 1050 45'00''
KĐĐ) đến đèo Ngang (17057'40''VĐB, 106030' 40'' KĐĐ), đạt tỷ lệ đường bờ biển
trên diện tích tự nhiên là 2,3km/km2, lớn hơn tỷ lệ này ở Nghệ An và Thanh Hóa.
Đây được xem là một lợi thế của tỉnh Hà Tĩnh trong phát triển.

Hoành Sơn giáp ranh tỉnh Quảng Bình. Trên đoạn bờ biển này có sông Hạ Vàng đổ
ra cửa Sót, sông Cầu Nậy thuộc địa phận Cẩm Xuyên đổ ra cửa Nhượng, sông Ngả
Ba thuộc địa phận Kỳ Anh đổ ra cửa Khẩu. Căn cứ vào đặc điểm địa lý và mức độ
chia cắt ngang, có thể sơ bộ chia dải cồn cát ven biển Hà Tĩnh thành 3 vùng qui mô
lớn[18]:
Vùng 1: Từ cửa Hội đến cửa Sót, thuộc địa phận 2 huyện Nghi Xuân và Can
Lộc. Đặc trưng của vùng này là cồn cát cao, độ cao dao động từ 5 - 10m, cát mịn, tỷ
lệ limong cao và có màu vàng. Tổng diện tích tự nhiên của vùng là 22.149,61 ha;
trong đó đất cát bằng (đất máng trũng) hoang hoá là 1.243ha . Đây là vùng trồng phi
lao rất tốt. Hiện tại ở dãy cồn cát sát gần biển về cơ bản đã được đầu tư trồng rừng
phi lao chắn gió, chắn cát.

10


Vùng 2:Từ cửa Sót đến cửa Nhượng, thuộc địa phận 2 huyện Thạch Hà và
Cẩm Xuyên. Đặc trưng của vùng này là cồn cát có độ cao thay đổi trong khoảng
lớn, từ 3 - 5m đến 16 - 22m. Bề mặt cồn lượn sóng, có những đụn cao xen với
những trũng tương đối bằng phẳng. Thành phần cơ giới chủ yếu là cát thô, hạt to,
màu vàng, màu trắng, rất nghèo chất dinh dưỡng. Thảm thực vật chủ yếu là phi lao,
tràm tự nhiên. Tổng diện tích tự nhiên của toàn vùng là 17.934,05 ha trong đó đất
cát bằng hoang hoá chưa sử dụng là 2.403,32 ha. Diện tích này có thể cải tạo để xây
dựng mô hình phát triển kinh tế tổng hợp và di dân chinh phục vùng cát.
Vùng 3: Từ cửa Nhượng đến đèo Ngang, thuộc địa phận các xã ven biển của
huyện Kỳ Anh. Đặc trưng của vùng này là cồn cát cao từ 6 - 10m . Thành phần cơ
giới hạt to, cát trắng, rất nghèo chất dinh dưỡng. Thảm thực vật ở đây chủ yếu là
cây lùm bụi chịu hạn, một vài nơi có rừng trồng phi lao. Tổng diện tích tự nhiên của
toàn vùng là 38,917,64 ha trong đó đất cát bằng hoang hoá chưa sử dụng là
2.048,19ha.
Nhìn chung ở cả 3 vùng này đất cồn cát và đất cát hoang hoá chưa sử dụng còn

không sử dụng hợp lý và nâng cao độ phì cho đất thì tư liệu sản xuất này sẽ bị thoái
hóa và suy giảm chất lượng ảnh hưởng đến năng suất nông nghiệp.
(2) Đối tượng của SXNN là các sinh vật, cơ thể sống phát triển theo qui luật
sinh học và chịu tác động nhiều của các qui luật tự nhiên. Các qui luật sinh học và
điều kiện ngoại cảnh tồn tại độc lập với ý muốn chủ quan của con người. Vì vậy,
nhận thức và tác động phù hợp với qui luật sinh học và qui luật tự nhiên là một yêu
cầu quan trọng nhất của bất cứ một quá trình SXNN nào.
(3) SXNN có tính thời vụ bởi quá trình sinh học của cây trồng, vật nuôi diễn ra
thông qua hàng loạt các giai đoạn kế tiếp nhau và sự tác động của con người vào
các giai đoạn này là khác nhau tạo nên tính thời vụ của SXNN.
(4) SXNN phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên thông qua 5 yếu tố cơ bản
của tự nhiên: nhiệt độ, nước, ánh sáng, không khí, chất dinh dưỡng. Các yếu tố này
kết hợp và cùng tác động với nhau và tác động đến SXNN trong một thể thống nhất.
Trong đó, khí hậu và thời tiết là nhân tố tác động mạnh mẽ nhất đến SXNN được
thể hiện thông qua năng suất (cao hay thấp) và chất lượng nông sản (tốt hayxấu).

12


Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển và phân bố của SXNN bao gồm: các
nhân tố tự nhiên (đất đai, nhiệt độ, độ ẩm, độ bốc hơi, anh sáng, nguồn nước, sinh
vật và các hiện tượng thời tiết cực đoan), các nhân tố KTXH (dân cư – lao động,
tậpquán sản xuất, khoa học công nghệ, vốn đầu tư, thị trường). Trong đó, nhân tố tự
nhiên là tiền đề cơ bản để phát triển và phân bố nông nghiệp.
Thời kì trồng trọt thích hợp là khoảng thời gian mùa mưa hoặc thời kì ẩm ướt
trong năm (FAO (1978), mùa mưa được tính bằng khoảng thời gian mà lượng mưa
lớn hơn một nửa lượng bốc thoát hơi nước; thời kỳ ẩm ướt là thời gian mà lượng
mưa lớn hơn lượng nước bốc thoát hơi; thời kỳ khô hạn là khoảng thời gian có
lượng mưa ít hơn một nửa lượng bốc thoát hơi nước tiềm năng. Lượng mưa và
lượng bốc hơi được tính theo đơn vịmm/ngày.

HMH

SXNN

Hình 1.1: Mối quan hệ giữa HH& HMH với các nhân tố tự nhiên của SXNN
Tác động của hạn hán và HMH đến SXNNthường được biểu hiện cụ thể như:

13


-

Suygiảmdiệntíchgieotrồng,giảmnăngsuấtdẫnđếngiảmsảnlượnglươngthực;Cơ
cấu cây trồng và cơ cấu mùa vụ có thể thay đổi;

-

Tăng chi phí SXNN, làm giảm thu nhập lao động nông nghiệp; Tăng giá thành
và giá cả các loại lương thực; Có thể gây nạn đói do thiếu nước và lương thực;

-

Hạn hán có thể gây cháy rừng (Dương Văn Khảm, Nguyễn Văn Viết (2012) [10]).
Trong bối cảnh BĐKH, khi tình trạng hạn hán và HMH ngày một gia tăng,

những tác động của hạn hán và HMH đến SXNN ngày một rõ nét hơn:
-

Cơ cấu cây trồng và cơ cấu mùa vụ cần phải được điều chỉnh theo hướng phù
hợp với nền nhiệt độ cao hơn, thay đổi lượng mưa và thời gian mùa mưa. Chi


14


và HMH như châu Phi, Nam Mỹ, Hoa Kỳ, Nga,Trung Quốc, Ấn Độ,Tây Á, châu
Úc và NamÂu.
Nghiên cứu định tínhthực trạng và các ảnh hưởng của hạn hán và HMH đến
SXNN có các công trình tiêu biểu như: đánh giá biến động sử dụng đất (BĐSDĐ),
biến động năng suất cây trồng theo các kịch bản xói mòn và những tác động của
chúng đến suy thoái đất và SXNN ở 3 nước Urugoay, Achentina, Kenia (S.Mantel
V.W.P.van Engelen, 1997) [42]. Đánh giá các điều kiện khí hậu, xu hướng, diễn
biến và lịch sử hạn hán của Namibia, những tác động của hạn hán đến chăn nuôi
được nghiên cứu nhằm đề xuất những giải pháp cứu trợ hạn hán cụ thể cho quốc gia
này (Jim Sweet, 1998) [38]. Phân tích tình hình SXNN của Kamataka trong đợt hạn
hán năm 2003-2004, thống kê những thiệt hại do hạn hán gây ra ở Kamataka ở Tây
Nam Ấn Độ (Nagaratra Biradar and K.Sridhar, 2009) [39]. Phân tích thực trạng hạn
nông nghiệp trong vòng 16 năm kể từ 1989-1990 đến 2004-2005, ảnh hưởng của
hạn hán và HMH đến SXNN ở Zambia, đặc biệt là các tỉnh phía Nam và phía Đông
được tái hiện (Thamana Lekprichakul, 2008) [41]. Nhìn chung, các công trình kể trên
không chỉ phân tích, đánh giá những thực trạng, biến động của hạn hán và HMH mà
còn thống kê thiệt hại của SXNN do hạn hạn và HMH. Tuy nhiên, những đánh giá dự
tính về những tác động của hạn hán và HMH đến SXNN vẫn còn bỏ ngỏ.
Nghiên cứu định lượng thực trạng và các ảnh hưởng của hạn hán và HMH đến
SXNN thường được các nhà nghiên cứu trên thế giới sử dụng các mô hình và phần
mềm tính toán để mô phỏng diễn biến năng suất, sản lượng cây trồng trong bối cảnh
tác động của các yếu tố khí tượng khác nhau. Ví dụ, với mô hình thực nghiệm, tính
toán hồi quy, ảnh hưởng của hạn hán đến sản lượng của 3 loại cây trồng chính (ngô,
kê, lúa) đã được ước tính thông qua các chỉ số của kịch bản nhiệt độ ngày, cường độ
mưa và chỉ số mưa chuẩn hóa (SPI) ở 8 quốc gia thuộc vùng Sahel (Inoussa
Boubacar, 2010) [37]. Với mô hình mô phỏng năng suất, sản lượng cây trồng theo

Raes và nhóm các nhà khoa học của trường học Leuven (Bỉ) đã xây dựng hệ thống
những phần mềm xử lý các dữ liệu khí tượng nhằm đánh giá ảnh hưởng của điều
kiện khí hậu đến SXNN trên cơ sở sử dụng các thuật toán đã được chấp nhận trên
thế giới. Đó là xác định lượng bốc thoát hơi nước cho một thảm cây trồng phục vụ
cho kế hoạch sử dụng nguồn nước tưới bằng phần mềm ETo Calculator; đó là dự
tính tần suất mưa phục vụ cho qui hoạch nông nghiệpbằngphần mềm Rainbow; đó

16


là dự tính năng suất sinh khối dựa vào dữ liệu nhiệt độ, lượng mưa để xây dựng
kịch bản tưới tiêu phù hợp bằng phần mềm Aqua Crop hoặc Budget [32, 33, 34,
35].
1.3.2 Những nghiên cứu tại Việt Nam
Nghiên cứu thực trạng và ảnh hưởng của hạn hán, HMH đến SXNN ở Việt
Nam xuấthiện trongnhiều công trình nghiên cứu của các nhà khí hậu học, khí tượng
nông nghiệp từ thậpniên 80 của thế kỉ trước. Nguyễn Trọng Hiệu và nnk (1995) [7]
đã nghiên cứunhững tai biến khí hậu trong đó có hạn hán và HMH như “phân bố
hạn hán và tácđộng của chúng đến Việt Nam” và “nguyên nhân, giải pháp phòng
ngừa và ngănchặn quá trình HMH ở vùng Trung Trung Bộ (Quảng Ngãi đến Bình
Định) (2000)[6]. Nguyễn Đức Ngữ, một nhà khí hậu học cũng có nhiều công trình
nghiên cứuvề hạn hán và HMH như:“tìm hiểu hạn hán và HMH” (2005) [16],
“BĐKH vànguy cơ sa mạc hóa ở Việt Nam” (2013) [17]. Trần Thục đã xây dựng
được



hạnhánvàmứcđộthiếunướcsinhhoạtcho9tỉnhthuộcNamTrungBộvàTâyNguyên,
(2008) [22]. Nguyễn Văn Viết và Dương Văn Khảm đã có nhiều tài liệunghiên cứu
vấn đề khí tượng nông nghiệp, trong đó những tác động của hạn hán vàHMH đến

LVN – 4. Ngô Sĩ Giai và cộng sự (2001) [5] đã sử dụng những PPNC định
lượng và bán định lượng (đánh giá mức độ phù hợp của cơ cấu cây trồng, mùa
vụ, tính năng suất tiềm năng, đánh giá mức độ sử dụng tài nguyên khí hậu nông
nghiệp của một số cây trồng) ở hai huyện Sóc Sơn (Hà Nội) và Nghi Lộc (Nghệ
An), hai vùng có khó khăn về đất đai và thờitiết.

-

Ở DHMT, vấn đề nghiên cứu thực trạng hạn hán ảnh hưởng đến SXNN được
khá nhiều nhà khoa học đề cập đến như Nguyễn Văn Viết và cộng sự (1998)
[27] đã phân tích những thiệt hại do thiên tai khí hậu gây ra cho SXNN nói
chung và đến năng suất vụ lúa nói riêng ở duyên hải miền Trung từ Quảng Bình
đến Bình Thuận. Tuy nhiên, những đóng góp về phương pháp luận của đề tài
này không nhiều, mới chỉ dừng lại ở những đánh giá phân tích thực trạng và
những tổn thương do hạn hán. Ngoài ra, một số công trình nghiên cứu của Phạm
Châu Hoành [8], Nguyễn Hồng Trường [25] cũng đã nghiên cứu ảnh hưởng của
HMH và thoái hóa đất đến SXNN, đặc biệt là năng suất cây trồng ở tỉnh Ninh
Thuận, từ đó các tác giả đã đề xuất một số giải pháp sống chung với hạn hán và
HMH cho địa phương này.

-

Ở ĐBSCL, Nguyễn Văn Liêm có nghiên cứu về diễn biến của thiên tai hạnhán
và những giải pháp ứng phó đối với SXNN ở ĐBSCL (2004) [13, 12]. Bằng
phương pháp tính toán tần suất hạn theo hệ số thủy nhiệt cải biên K, tác giả đã
phân tích được diễn biến hạn hán ở ĐBSCL và những tác động của chúng đến

18



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status